Trang chủ / Bản Tin / Thế Giới, Con Người và Đức Tin – “Tam Đạo” Để Nhận Biết Thiên Chúa (Benedict XVI, Huấn Giáo về Năm Đức Tin, kỳ 5, 14-11-2012)

Thế Giới, Con Người và Đức Tin – “Tam Đạo” Để Nhận Biết Thiên Chúa (Benedict XVI, Huấn Giáo về Năm Đức Tin, kỳ 5, 14-11-2012)

Tiên vàn trong thực tại thời đại ngày nay, chúng ta không được quên nẻo đường đưa dẫn chúng ta đến chỗ nhận biết Thiên Chúa, đến chỗ gặp gỡ Ngài, đó chính là đời sống đức tin.


 

Không giống như những tuần trước đây (có lẽ do thời tiết Rô-ma mùa này mưa nắng thất thường), buổi Tiếp Kiến Chung hôm thứ Tư ngày 14/11/2012 được tổ chức trong Đại thính đường Phao-lô VI, giới hạn khoảng 10 ngàn người được vào tham dự. Trong buổi Tiếp Kiến Chung lần này, ĐTC tiếp tục loạt bài huấn giáo về Năm Đức Tin, bằng việc nêu lên thực trạng bối cảnh ngày nay và đưa ra một câu hỏi cần một lời giải đáp mang tính hộ giáo thế thì đứng trước bối cảnh thời nay, phải chăng đức tin, với tính dịu dàng và tôn trọng, được mời gọi để đưa ra lời giải đáp cho các chủ thuyết vô thần, cho chủ thuyết hoài nghi, cho sự dửng dưng đối với tương quan chiều dọc (giữa Thiên Chúa với con người), hầu con người thời đại chúng ta có thể tiếp tục tự vấn về sự hiện hữu của Thiên Chúa, tiếp tục tiến bước trên những nẻo đường dẫn tới Ngài?” Để đào sâu và trả lời câu hỏi này, ĐTC trình bày vắn gọn về ba nẻo đường để nhận biết Thiên Chúa: thế giới, con người và đức tin, và nhấn mạnh đến vị thế hàng đầu của nẻo đường “đời sống đức tin”. Dưới đây toàn văn bài huấn từ của ĐTC trong buổi Tiếp Kiến Chung hôm thứ Tư 14/11/2012.

Anh chị em thân mến!

Thứ tư tuần trước chúng ta đã phản tỉnh về nỗi khát Chúa mà con người vốn mang nơi thẳm sâu lòng mình. Hôm nay, tôi muốn tiếp tục đào sâu khía cạnh này bằng cách cùng các bạn suy gẫm vắn tắt về một vài nẻo đường để đến với cái biết về Thiên Chúa. Tôi muốn nhắc lại rằng, Thiên Chúa luôn đi bước trước, và chính trên bước đường chúng ta đến với Ngài thì Ngài cũng đang đi trước chúng ta để soi sáng, chỉ dẫn và định hướng cho chúng ta, vì Ngài luôn tôn trọng tự do của con người. Chính Thiên Chúa là Đấng làm cho chúng ta đi vào sự thân mật với Ngài bằng cách mạc khải và trao ban cho chúng ta ân sủng để ta có khả năng đón nhận mạc khải của đức tin. Chúng ta đừng quên kinh nghiệm của thánh Augustinô: Chúng ta không sở hữu chân lý sau khi chúng ta tìm kiếm nó, nhưng đúng hơn chân lý tìm kiếm chúng ta và sở hữu chúng ta.
Thế nhưng có những con đường có thể mở lòng con người ra với cái biết về Thiên Chúa, và có những dấu chỉ dẫn chúng ta đến với Ngài. Chắc chắn, lắm khi chúng ta có nguy cơ bị lóa mắt bởi  những vinh hoa thế gian, những thứ làm cho chúng ta giảm khả năng tiến bước trên những nẻo đường, cũng như giảm khả năng đọc ra những dấu chỉ như thế. Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn tìm kiếm con người một cách không mệt mỏi, và Ngài vẫn hằng trung tín với con người mà Ngài đã sáng tạo và cứu chuộc. Ngài vẫn luôn ở bên cạnh chúng ta vì Ngài yêu thương chúng ta. Niềm xác tín này phải luôn đồng hành với chúng ta mỗi ngày, ngay cả khi tràn lan những não trạng gây khó khăn cho Giáo Hội và người Ki-tô hữu để thông truyền niềm vui Tin Mừng cho các thụ tạo và dẫn đưa tất cả đến gặp gỡ Đức Giê-su, Đấng cứu độ duy nhất của thế giới. Vì thế, đó chính là sứ mạng của chúng ta, sứ mạng của Giáo hội. Và mỗi người tín hữu phải sống sứ mạng này một cách vui tươi, xem đó là sứ mạng của chính mình; ngang qua một đời sống được linh hoạt bởi đức tin, được ghi dấu bởi đức ái hướng đến sự phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, đồng thời có khả năng để lan tỏa niềm hy-vọng. Tiên vàn sứ mạng này được chiếu tỏa ngang qua một đời sống thánh thiện, một đời sống mà tất cả chúng ta được mời gọi để sống.
Ngày nay chúng ta biết là không thiếu những khó khăn và thách đố cho đức tin: nó thường bị thiếu hiểu biết, bị phản đối và bị khước từ. Thánh Phê-rô, trong bài đọc mà chúng ta vừa nghe, đã nói rằng: “anh em hãy luôn sẵn sàng để trả lời, với tính dịu dàng và tôn trọng, cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1Pr 3,15). Trong quá khứ, tại Tây phương, một xã hội được xem là thuần Ki-tô giáo, đức tin là một môi trường mà chúng ta chuyển mình trong đó; hầu hết mọi người đều liên quan và gắn bó với Thiên Chúa ngay trong đời sống thường ngày của họ. Vì thế, chính những người không tin là những người phải biện mình cho sự cứng lòng của mình. Trong thế giới của chúng ta hôm nay, tình huống đã thay đổi và thông thường những người tin phải có khả năng để đưa ra những lý lẽ cho đức tin của mình. Chân Phước Gioan Phaolô II, trong Thông Điệp Đức Tin và Lý Trí (Fides et Ratio), đã nhấn mạnh rằng, đức tin đang bị đặt trước sự thách đố trong thời đại chúng ta, thông qua những hình thức đầy tinh vi và xảo trá của các chủ nghĩa vô thần lý thuyết và thực hành. Từ khi thuyết “duy Khai-sáng” (Illuminism) ra đời cho đến nay, người ta ngày càng phê phán tôn giáo; lịch sử được ghi dấu bởi sự hiện diện của những hệ thống vô thần mà trong đó Thiên Chúa bị xem như là một sự phóng chiếu của linh hồn con người, một sự ảo giác và là sản phẩm của một xã hội bị làm sai lạc bởi những sự tha hóa. Trong những thập niên vừa qua, chúng ta đã chứng kiến một tiến trình mạnh mẽ của chủ nghĩa tục hóa, là một biểu hiện của tính tự trị tuyệt đối của con người, vốn được xem là thước đo và là tác giả của thực tại. Nhưng chính não trạng này đã làm nghèo nàn đi chính thân phận thụ tạo của mình “là hình ảnh và giống như Thiên Chúa”. Thời đại chúng ta đã xuất hiện một hiện tượng đặc biệt nguy nguy hại cho đức tin: quả thực có một hình thức vô thần thuyết mà chúng ta định nghĩa, tạm gọi, “thực hành”, trong đó họ không từ chối chân lý đức tin và các lễ nghi tôn giáo nhưng đơn giản chỉ là hững hờ với sự tồn tại của chúng trong đời sống thường ngày, và xem chúng như là một điều gì vô ích và cản trở cuộc sống. Vì thế họ tin vào Thiên Chúa một cách hời hợt và sống “như thể là Thiên Chúa không tồn tại” (etsi Deus non daretur). Cuối cùng, cách sống này cho kết quả tàn phá nhiều hơn, bởi nó mang đến một thái độ dửng dưng đối với đức tin và hững hờ với truy vấn về Thiên Chúa.
Trên thực tế, nếu con người tách mình ra khỏi Thiên Chúa, thì con người sẽ tự giản lược mình vào một chiều kích duy nhất, đó là chiều ngang. Chính sự giản lược này là một trong các nguyên nhân cơ bản làm phát sinh biết bao chế độ độc tài, gây ra các hậu quả bi thảm trong thế kỷ XX vừa qua. Và sự giản lược ấy cũng là một trong các nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng các giá trị mà chúng ta đang thấy nhan nhãn trong thực tại hiện hành. Một khi làm lu mờ mối dây tham chiếu với Thiên Chúa, thì chân trời đạo đức cũng bị che khuất, nhường chỗ cho chủ nghĩa duy tương đối, cho một khái niệm mù mờ về tự do, thay vì giải thoát con người, nó lại trói buộc con người vào ngẫu tượng các loại. Cơn cám dỗ mà Chúa Giê-su đã đối mặt trong sa mạc trước khi khởi đầu sứ mạng công khai, đã cho chúng ta thấy rõ đâu là những ngẫu tượng đã mê hoặc con người, khi con người không vượt qua được cái-mình của mình.
Nếu Thiên Chúa bị đẩy ra khỏi vị thế trung tâm, thì con người sẽ đánh mất chỗ đứng đúng đắn của mình, nó cũng chẳng còn tìm thấy vị thế của mình giữa muôn loài thọ tạo, trong các tương quan với tha nhân. Hãy còn đó điều mà minh-triết thời cổ gợi lên với giai thoại về Prometeo: con người nghĩ mình có thể biến chính-mình trở thành “chúa”, là chủ tể của sự sống và sự chết.
Đứng trước bối cảnh ấy, Giáo Hội, trung thành với lệnh truyền của Chúa Ki-tô, không ngừng khẳng định chân lý về con người và chân lý về vận mệnh con người. Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã khẳng quyết cách tóm gọn như sau: “Lý do cao quý nhất của nhân phẩm con người, hệ tại nơi ơn gọi hiệp thông của họ với Thiên Chúa. Ngay từ lúc lọt lòng, con người đã được mời gọi bước vào cuộc thoại với Thiên Chúa: quả thực, bởi tình yêu Thiên Chúa mà con người được dựng nên, và nếu con người không được tình yêu Thiên Chúa gìn giữ, thì con người sẽ không hiện hữu. Con người sẽ không sống cách sung mãn thể theo chân lý được, nếu con người không nhìn nhận Ngài cách tự do, và không tín thác vào Đấng Sáng Tạo nên mình” (Hiến chế Gaudium et spes, 19).
Như vậy, đâu là những lời giải đáp, phải chăng đức tin, với tính dịu dàng và tôn trọng, được mời gọi để đưa ra câu trả lời cho chủ thuyết vô thần, cho chủ thuyết hoài nghi, cho sự dửng dưng đối với tương quan chiều dọc (giữa Thiên Chúa với con người), hầu con người thời đại chúng ta có thể tiếp tục tự vấn về sự hiện hữu của Thiên Chúa, tiếp tục tiến bước trên những nẻo đường dẫn tới Ngài? Tôi muốn gợi ra vài con đường được rút tỉa từ những suy tư tự nhiên, từ cùng một sức mạnh của đức tin. Tôi muốn tóm cách vắn gọn những nẻo đường ấy trong 3 từ: thế giới, con người và đức tin.
Từ thứ nhất: Thế giới. Thánh Augustinô (Âu-tinh) là người mà trong cuộc sống của mình đã dai dẳng đi tìm Chân Lý, và ngài đã được Chân Lý bắt chộp. Thánh nhân đã có một trang rất hay và thời danh, trong đó ngài đã xác nhận rằng: “hãy hỏi vẻ đẹp trái đất, của biển cả, của làn khí loãng và tán ra khắp nơi; hãy hỏi vẻ đẹp của trời cao…, hãy hỏi hết thảy những thực tại ấy. Tất cả đều sẽ trả lời bạn: hãy nhìn và hãy ngắm chúng tôi xem chúng tôi đẹp dường bao. Vẻ đẹp của chúng như một bài ca chúc tụng. Vậy những thụ tạo ấy đẹp đẽ như thế, dầu chóng đổi, ai đã làm nên những vẻ đẹp ấy, nếu không phải Đấng Đẹp trong cách thế bất biến? (Sermon 241, 2: PL 38, 1134).
Tôi thiết nghĩ chúng ta cần phải khôi phục lại và để phục hồi cho người hôm nay khả năng chiêm niệm tạo vật, chiêm ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên, và chiêm ngắm cơ cấu của thiên nhiên. Thế giới không phải là một mớ hỗn mang vô hình thù, nhưng đúng hơn, càng biết về thế giới và càng khám phá những cơ chế tuyệt vời của nó, thì chúng ta càng nhìn ra được một bản thiết kế kỳ diệu, thấy rằng có một trí tuệ sáng tạo. Albert Einstein đã từng nói rằng trong các quy luật tự nhiên “tự biểu lộ một lý trí siêu phàm đến độ tất cả mọi lý lẽ của suy tưởng và mọi sắp xếp nhân loại chỉ là một phản chiếu hết sức nhỏ bé chẳng đáng là gì đối với lý trí ấy” (il Mondo come lo vedo io, Roma 2005). Do vậy, lối nẻo đầu tiên dẫn đến cuộc khám phá Thiên Chúa chính là việc chiêm ngắm thiên nhiên với đôi mắt chăm chú.
Từ thứ hai: con người. Rồi cũng chính là thánh Âu-tinh có một câu nói thời danh, trong đó ngài nói rằng Thiên Chúa thiết thân với tôi còn hơn cả tôi thiết thân với chính-mình (x. Tự thú, III, 6, 11). Và từ nền tảng ấy thánh Âu-tinh đã đưa ra lời mời gọi: “Bạn đừng đi ra ngoài mình, hãy trở vào trong chính-mình bạn: trong con người nội tâm có chân lý đang cư ngụ” (De vera religione, 39, 72). Đây là một khía cạnh khác, khía cạnh mà chúng ta có nguy cơ bị hút mất trong một thế giới ồn ào và gây chia trí, thế giới mà trong đó chúng ta đang sống: khả năng chúng ta dừng lại và nhìn ngắm vào chiều sâu trong chính lòng mình và đọc được niềm khao khát về cái vô hạn mà chúng ta đang mang trong mình. Niềm khao khát ấy đẩy chúng ta đi xa hơn và tìm gặp một Đấng có thể làm thỏa cơn khát. Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định rằng “cùng với việc mở ra với chân lý và với cái đẹp, cùng với cảm thức của mình về điều thiện luân lý, cùng với sự tự do của mình và tiếng nói lương tâm, cùng với sự hứng thú với cái vô hạn và với niềm hạnh phúc, con người sẽ tự vấn về sự hiện hữu của Thiên Chúa” (n.33).
Từ thứ ba: đức tin. Tiên vàn trong thực tại của thời này, chúng ta không được quên nẻo đường đưa dẫn chúng ta đến chỗ nhận biết Thiên Chúa, đến chỗ gặp gỡ Ngài, đó chính là đời sống đức tin. Những ai tin vào Thiên Chúa sẽ được nên một với Thiên Chúa, và người ấy sẽ được mở ra với ân sủng của ngài, mở ra với sức mạnh của đức ái. Thế thì sự hiện hữu của người ấy trở nên chứng tá không phải cho chính-mình nữa nhưng là chứng tá cho Đấng Phục Sinh, và đức tin của người ấy chẳng còn ngại gì mà lại không bày tỏ trong đời sống thường nhật. Người ấy cũng được mở ra với cuộc thoại biểu lộ tình bằng hữu sâu sắc đối với cuộc hành trình của mọi người, và biết bật lên ánh sáng hy-vọng cho nhu cầu cứu rỗi, nhu cầu hạnh phúc và nhu cầu tương lai. Quả thực đức tin là một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng nói và hành động trong lịch sử, và đang biến đổi đời sống hằng ngày của chúng ta, đang thay đổi nơi não trạng của chúng ta, nơi phán đoán các giá trị, ngang qua những chọn lựa và các hành động cụ thể. Đức tin không phải là một ảo tưởng, trốn chạy khỏi thực tại, một cuộc tị nạn thoải mái, một thái độ duy tình cảm, nhưng đức tin có dính dáng đến tất cả cuộc sống và là cuộc loan báo về Tin Mừng, Tin Tốt Lành có khả năng giải thoát hết thảy mọi người. Một Ki-tô hữu, một cộng đoàn siêng năng và trung tín với dự phóng của Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta trước, sẽ kiến tạo được một con đường ưu tiên cho những ai đang ở trong tình trạng dửng dưng hoặc nghi ngờ về sự hiện hữu và hành động của họ. Nhưng điều này đòi hỏi mỗi người phải làm cho đời sống chứng nhân đức nhân ngày thêm sáng trong hơn, thanh luyện đời sống của mình hợp với Chúa Ki-tô. Ngày nay, có nhiều người có một quan niệm hạn hẹp về đức tin Ki-tô giáo, bởi lẽ họ đồng hóa đức tin với một hệ thống đơn thuần các tín điều và các giá trị, chứ không đồng hóa đức tin với chân lý về một vị Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải trong lịch sử, muốn thông truyền với con người từng người người một, trong tương quan yêu thương với ngài. Trên thực tế, nơi nền tảng của mỗi đạo lý hoặc giá trị có một biến cố gặp gỡ giữa con người và Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su. Đạo Ki-tô, trước khi là một nền luân lý đạo đức, thì nó là biến cố yêu thương, là sự đón nhận con người Giê-su. Vì thế, Ki-tô hữu và các cộng đoàn Ki-tô hữu, trước hết phải hướng nhìn và để giúp người khác nhìn vào Chúa Ki-tô, là Đường đích thực dẫn chúng ta tới Thiên Chúa.
Xin cám ơn anh chị em.

RadioVaticana 14/11/2012

Augustin Nguyễn Thái Hiệp, S.J

Augustin Nguyễn Minh Triệu, S.J.

chuyển ngữ và giới thiệu.

Bình luận

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.