Trang chủ / Tri Thức / Thần Học / Phần V: Sự Hiểu Biết Của Kitô Hữu Về Thiên Chúa

Phần V: Sự Hiểu Biết Của Kitô Hữu Về Thiên Chúa

MoseNhư chúng ta đã thấy trong chương trước, các Kitô hữu tin rằng Thiên Chúa đã khởi sự một tương quan với các thọ tạo của Ngài. Thiên Chúa mặc khải chính mình cho chúng ta. Nhưng hãy nhớ đến câu châm ngôn, “Đừng bao giờ cho một người ăn nhiều hơn người ấy có thể tiêu hóa.” Sự tự mặc khải của Thiên Chúa bị giới hạn bởi khả năng hiểu biết của con người. Mặc khải này chỉ được hiểu một cách tiệm tiến và đạt đến đỉnh cao nơi con người của Đức Giêsu, Ngài là mặc khải trọn vẹn của Thiên Chúa. Dù vậy, sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa vẫn phải được lớn lên và phát triển theo thời gian. Mối tương quan của chúng ta với Ngài cũng phải được lớn lên.

Khi chúng ta suy gẫm sự hiểu biết của các Kitô hữu về Thiên Chúa, chúng ta sẽ cố gắng nhìn từ hai viễn cảnh: những hình ảnh về Thiên Chúa nơi Thánh, và những quan niệm thần học về Thiên Chúa.

 Suy Tư Cá Nhân và Thảo Luận

Bạn đã hiểu hoặc hình dung thế nào về Thiên Chúa khi bạn còn bé? Sự hiểu biết của bạn có thay đổi gì không? Thay đổi làm sao?

 1.      NHỮNG HÌNH ẢNH VỀ THIÊN CHÚA TRONG KINH THÁNH CỰU ƯỚC: Gia-vê, Đấng Cứu Độ, Đấng Ban Luật, Đấng Tạo Dựng, Đấng Xét Xử, và Hiền Mẫu

Chúng ta đều biết rằng Cựu Ước là một bộ gồm bốn mươi sáu quyển sách được Thiên Chúa linh hứng. Các sách này rất khác nhau về chủ đề và ý tưởng. Các học giả đã cố gắng để tìm ra một “sợi chỉ đỏ” nhằm kết nối tất cả các sách thành một chủ đề chung. Học giả Thánh Kinh John McKenzie cho rằng có một sợi chỉ đỏ chạy xuyên suốt Cựu Ước:

Sợi chỉ ấy chỉ có thể là sự khám phá về Gia-vê, Thiên Chúa của Ít-ra-en…Sự khám phá về Gia-vê cũng tương tự như khám phá ra Châu Mỹ. Dân Ít-ra-en phải mất hằng thế kỷ trước khi bắt đầu thực sự nhận ra Gia-vê. Tuy nhiên Gia-vê vẫn luôn có đó và không thay đổi (A Theology of the Old Testament. Dobleday, N.Y. p. 29).

Sự hiểu biết về Thiên Chúa của dân Ít-ra-en đã từng bước được lớn lên và phát triển theo thời gian. Chúng ta sẽ lược sơ qua một số hình ảnh quan trọng nhất về Thiên Chúa đã được mặc khải trong Cựu Ước. Hình ảnh là một cách “hình dung về Thiên Chúa” trong cả tâm trí lẫn tâm hồn. Không có hình ảnh nào diễn tả đầy đủ về Thiên Chúa. Khi phải dùng nhiều hình ảnh để diễn tả Thiên Chúa, chúng ta nhận thấy rằng nỗ lực nhằm diễn tả một Thiên Chúa vượt quá ngôn ngữ của con người là điều hết sức phức tạp. Đó là lý do vì sao cần nhiều hình ảnh để có thể có một cái nhìn quân bình và đầy đủ hơn. Những hình ảnh này ít nhất cũng cho phép chúng ta có một chút ánh sáng nào đó về chân lý.

 

Gia-vê. Theo sách Xuất Hành:

Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa: “Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao? “Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Ta là Đấng Hằng Hữu.” Người phán: “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: “Đấng Hằng Hữu sai tôi đến với anh em.” (Xh 3, 13-14).

Danh xưng “TA LÀ Đấng Hằng Hữu” là bản dịch tiếng Anh dùng cho từ “Gia-vê”. Nghĩa của từ “Gia-vê” thực ra không rõ, dù được bắt nguồn từ tiếng Do Thái có nghĩa “hiện hữu.” Từ “Gia-vê” có nghĩa như là điều gì đó tương tự như “đấng tạo dựng tất cả.” Đối với người Do thái, khi đặt tên cho một ai hoặc một điều gì, thì người đặt tên có quyền trên người hoặc sự vật ấy (như Ađam đã đặt tên cho các loài vật). Chính vì lý do này, người Do Thái không được phép dùng danh xưng Gia-vê. Gia-vê là một danh cực thánh. Vì vậy, cho dẫu Thiên Chúa có danh xưng, nhưng danh xưng ấy không được phép nói ra. Sự thánh thiêng và ý nghĩa của danh xưng Gia-vê cho chúng ta biết điều gì đó rất quan trọng về Thiên Chúa: Thiên Chúa không giống bất kỳ thọ tạo nào của Ngài và trổi vượt mọi loài thọ tạo. Các loài thọ tạo đều mau qua, trong khi Thiên Chúa luôn hiện hữu và Ngài làm chủ tất cả. Thiên Chúa của Ít-ra-en là Thiên Chúa siêu việt: trổi vượt trên các loài thọ tạo của ngài. Chúng ta thấy ý niệm về sự siêu việt của Thiên Chúa luôn được nhấn mạnh xuyên suốt Cựu Ước. Danh xưng Gia-vê dạy chúng ta rằng Thiên Chúa trổi vượt tất cả những hình ảnh hay những ý nghĩ mà chúng ta dùng để nói về Ngài.

 Suy Tư Cá Nhân và Thảo Luận

Bạn hãy vẽ một bức tranh về Thiên Chúa. Hãy cố gắng để tìm cách trình bày cách tượng trưng về Thiên Chúa trong hình vẽ. Bức tranh nói điều gì về sự hiểu biết của bạn về Thiên Chúa?

 

Đấng Cứu Độ: Như Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp Hoa Kỳ đã xác định căn tính của đất nước Hoa Kỳ, thì cuộc Xuất Hành cũng đã hình thành nên dân Thiên Chúa. Người Do Thái từng là một nhóm người liên kết với nhau hết sức lỏng lẻo và sống dưới chế độ nô lệ của vua Pharaô khi Thiên Chúa chọn Môsê để giải thoát dân của Ngài. Đỉnh điểm của việc giải thoát này được diễn ra tại Biển Sậy, nơi người Do Thái được giải thoát, trong khi các chiến mã của Pharaô bị nhấn chìm dưới lòng biển. Chúng ta tìm thấy bài ca ca ngợi cuộc chiến thắng vĩ đại này trong sách Xuất Hành:

“Tôi xin hát mừng CHÚA, Đấng cao cả uy hùng:
Kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương.
CHÚA là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi,
chính Người cứu độ tôi.
Người là Chúa tôi thờ, xin dâng lời vinh chúc,
Người là Chúa tổ tiên, xin mừng câu tán tụng.
Người là trang chiến binh, danh Người là “ĐỨC CHÚA!”
Xa mã Pharaô, Người xô xuống lòng biển,
tướng dũng với binh hùng chết chìm trong Biển Sậy. (Xh 15, 1-4)

Đối với người Do thái, việc được giải thoát lạ lùng khỏi cảnh nô lệ đã mặc khải một Thiên Chúa là đấng giải thoát họ khỏi ách nô lệ và là Đấng chiến đấu cho Dân để chống lại người Ai Cập.

Ngày nay có nhiều người đặt vấn đề về hình ảnh Thiên Chúa như một trang chiến binh. Tuy nhiên, nhiều Kitô hữu ngày nay đang sống trong nghèo đói và áp bức ao ước hình ảnh một Thiên Chúa trong cuộc xuất hành như một kiểu mẫu bởi lẽ Ngài không chỉ giải thoát họ khỏi những áp bức tinh thần, nhưng còn giải thoát khỏi những áp bức chính trị và tình trạng nô lệ nữa.

Suy Tư Cá Nhân và Thảo Luận

Bạn nghĩ gì về hình ảnh Thiên Chúa được phản ảnh nơi bài ca trên đây? Bạn có nghĩ rằng hình ảnh đó vẫn thích hợp cho chúng ta ngày nay không?

 

Đấng Ban Luật. Do Thái là một dân tộc được Thiên Chúa mời gọi đi vào một giao ước đặc biệt. Thiên Chúa mặc khải cho Dân biết chính Ngài đã giải thoát họ khỏi người Ai-cập vì một lý do đặc biệt:

Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai Cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta. Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en. (Xh 19, 4-6)

Nhưng giao ước là một hiệp ước song phương. Chính Thiên Chúa đã ràng buộc mình với dân Ít-ra-en, và theo chiều ngược lại, họ phải tuân theo những điều luật của Ngài. Mười Điều Răn đại diện cho một số điều quan trọng về những điều luật của Gia-vê Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa, Đấng đã đòi buộc Dân phải tuân theo những điều luật này. Dân Ít-ra-en là một dân thánh, và đường dẫn tới sự thánh thiện được là ngang qua luật của Thiên Chúa.

Thiên Chúa phán tất cả những lời sau đây:

“Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta….
Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì ĐỨC CHÚA không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng…
Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát,…
Ngươi hãy thờ cha kính mẹ…

Ngươi không được giết người.
Ngươi không được ngoại tình.
Ngươi không được trộm cắp.
Ngươi không được làm chứng gian hại người.
Ngươi không được ham muốn nhà người ta,

Ngươi không được ham muốn vợ người ta,… (Xh 20, 1-17)

Luật của Thiên Chúa luôn trổi vượt hơn những quy tắc ứng xử tốt đẹp. Ý định của Thiên Chúa dành cho con người là muốn con người bám rễ sâu nơi sự công chính của Ngài, cũng như ban cho con người nền tảng vững chắc cho cuộc sống. Điều này được diễn tả trong Thánh vịnh I:

Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân,
chẳng bước vào đường quân tội lỗi,
không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng,
nhưng vui thú với lề luật CHÚA,
nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày.
Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước,
cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh,
cành lá chẳng khi nào tàn tạ.
Người như thế làm chi cũng sẽ thành.
Mười Điều Răn là nền tảng cho giao ước trên núi Sinai, nhưng ngôn sứ Giêrêmia mong đợi ngày luật mới sẽ đến, một Luật không phải được ghi trên đá, nhưng được ghi khắc trong tâm hồn của dân:

Này sẽ đến những ngày – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA – Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. (Gr 31, 31-33).

 Suy Tư Cá Nhân và Thảo Luận

 Tuân giữ lề luật và có luật “ghi khắc trong tâm hồn” có điều gì khác nhau không? Hãy cho một ví dụ cụ thể.

 

Đấng Tạo Hóa. Ít-ra-en không phải là dân tộc duy nhất có tôn giáo đề cập đến những trình thuật tạo dựng. Tuy nhiên, những trình thuật tạo dựng nơi các tôn giáo của những dân tộc khác trình bày một ý nghĩa rất khác về tạo dựng. Cách chung, theo “các thần thoại,” thì việc tạo dựng được sinh ra từ một trận chiến giữa các vị thần. Một trong những thần thoại này được biết đến là Enuma Elish. Nơi đó, việc tạo dựng được phát sinh từ cuộc chiến giữa thần Marduk và mẹ của ông là Tiamat. Marduk sát hại mẹ và tạo ra trái đất từ thi thể của bà. Con người được tạo ra nhằm phục vụ của các thần. Vũ trụ này không phải là kết quả quyền năng tạo dựng của Thiên Chúa nhưng từ những cuộc tranh đấu của các sức mạnh thù địch. Cần lưu ý rằng những trình thuật nơi sách Sáng Thế không phải chỉ là “một huyền thoại khác”. Các câu chuyện này là một phần trong các lời được Thiên Chúa linh ứng. Trong Sáng Thế chúng ta có hai trình thuật về tạo dựng. Trình thuật thứ nhất nhấn mạnh việc tạo dựng được phát sinh từ sức mạnh của lời Thiên Chúa. Trình thuật thứ hai mặc khải việc tạo dựng như là kết quả từ lao tác của Thiên Chúa. Quan điểm về tạo dựng của dân Ít-ra-en rất tích cực khi không có sự hiện diện của cuộc giao tranh giữa thiện và ác. Điều này có thể được thấy rõ nơi Thánh vịnh 104:

Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!
Lạy CHÚA là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả!
Áo Ngài mặc: toàn oai phong lẫm liệt,
cẩm bào Ngài khoác: muôn vạn ánh hào quang.
Tầng trời thẳm, Chúa căng như màn trướng,
điện cao vời, dựng trên khối nước cõi thanh không.
Chúa ngự giá xe mây, Ngài lướt bay cánh gió.
Sứ giả Ngài: làm gió bốn phương,
nô bộc Chúa: lửa hồng muôn ngọn.

Chúa lập địa cầu trên nền vững,
khôn chuyển lay muôn thuở muôn đời!
Áo vực thẳm choàng lên trái đất,
khối nước nguồn tụ lại đỉnh non cao.
Nghe tiếng Ngài doạ nạt, chúng đồng loạt chạy dài;
sấm Ngài mới rền vang, chúng kinh hoàng trốn thoát,

Suốt cuộc đời, tôi sẽ ca mừng CHÚA,
sống ngày nào, xin đàn hát kính Thiên Chúa của tôi.

Chúng ta có thể nhận thấy việc tạo dựng con người được miêu tả như là đỉnh cao của công trình sáng tạo ra sao: con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa.

Hình ảnh Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa rất quan trọng đối với người Do Thái, nhưng hình ảnh này chỉ có thể được hiểu với niềm xác tín Thiên Chúa ấy là Đấng vẫn luôn hoạt động nơi lịch sử và cũng là Đấng đã giải thoát dân Ngài. Thiên Chúa tạo dựng muôn loài cũng chính là Đấng giải phóng dân Ngài khỏi ách nô lệ và thiết lập một giao ước với họ.

 Suy Tư Cá Nhân và Thảo Luận

Cho đến thời gian gần đây, chúng ta đã bắt đầu nhận ra trái đất này thật quý giá và cũng hết sức mỏng manh. Những thay đổi về môi trường buộc chúng ta phải lượng giá cách thức chúng ta sử dụng hoặc lạm dụng trái đất. Hãy viết một bài ca, ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa vì món quà tạo dựng của Ngài.

 

Thẩm Phán. Thiên Chúa của Cựu Ước là một Thiên Chúa đứng về phía người nghèo và người bị áp bức chống lại những kẻ áp bức họ. Ngài là Thiên Chúa mời gọi dân Ngài vượt lên những nghi lễ tôn giáo để tiến những thực hành đích thực nơi niềm tin của họ: chăm sóc người nghèo, trẻ mồ côi và người quá bụa. Lời mời gọi đầy thách đố này của Thiên Chúa thường đến qua các tiên tri. Khái niệm chung về một tiên tri là người tiên báo về tương lai, nhưng trong Thánh Kinh thì tiên tri chính yếu là người nói nhân danh Thiên Chúa. Các tiên tri đóng vai trò như “lương tâm của dân tộc,” và thường thì chân lý họ loan báo lại là điều dân chúng không muốn nghe.

Tiên tri A-mốt là một trong những tiên tri vĩ đại loan báo về sự công bình của Thiên Chúa. Dân Ít-ra-en đã phát minh nhiều nghi lễ để tôn thờ Gia-vê. Những nghi lễ này thường bao gồm những của lễ chiên bò và múa hát trong buổi lễ. Vào thời của A-mốt (ca. 750 BCE) khoảng cách giữa một số người giàu và nhiều người nghèo là rất lớn. A-mốt đã nói nhân danh Gia-vê.

Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường;
hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú.
Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu. ..
những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận,
chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài.
Hãy dẹp bỏ tiếng hát om sòm của ngươi
Ta không muốn nghe tiếng đàn của ngươi nữa.
Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào,
cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn. (Am 5, 21-24)

Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ
và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. (Am 8, 4)

 Suy Tư Cá Nhân và Thảo Luận

Bạn là tiên tri của Thiên Chúa và sẽ nói một sự thật khó nghe cho dân của Ngài. Vậy sứ điệp của bạn là gì?

 

Hiền Mẫu. Một trong những sai lầm lớn nơi nhiều Kitô hữu đó là cho rằng Thiên Chúa của Cựu Ước là Thiên Chúa của lề luật, trong khi Thiên Chúa của Tân Ước là Thiên Chúa của tình yêu. Chỉ có một Thiên Chúa và Ngài rất mực yêu thương dân Ngài. Tiên tri Isaia đã diễn tả tình yêu này hết sức tuyệt vời. Sau khi lưu đày ở Babilon, Dân cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Isaia đoan chắc với dân rằng tình yêu của Thiên Chúa như tình yêu của người mẹ dành cho con thơ của mình:

Xion từng nói: “ĐỨC CHÚA đã bỏ tôi,
Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi! ”
Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,
hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau?
Cho dù nó có quên đi nữa,
thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.
Hãy xem, Ta đã ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta,
thành luỹ ngươi, Ta luôn thấy trước mặt. (Is 49, 14-16)

Thánh vịnh 139 cho thấy Thiên Chúa rất gần gũi và biết sâu xa từng con cái của Ngài. Ngài không chỉ là đấng tạo dựng vũ trụ, nhưng còn là đấng tạo nên từng người chúng ta:

Lạy CHÚA, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,

Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. (Tv 139, 1-2. 13)

 Suy Tư Cá Nhân và Thảo Luận

Các Kitô hữu thường gọi Chúa là Cha, nhưng Isaia lại so sánh Thiên Chúa với một phụ nữ mang nặng đẻ đau. Chúng ta có thể học hỏi điều gì từ hình ảnh Thiên Chúa là “hiền mẫu”?

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *