Trang chủ / +Dòng Tên / Tác Phẩm / Dâng hiến Sáng tạo (2)

Dâng hiến Sáng tạo (2)

LỜI GIỚI THIỆU

II. TÂM LÝ NHÂN CÁCH

Hình ảnh con người là một thực tại đa dạng và những vấn đề con người luôn phức tạp. Nhìn từ những góc độ khác nhau, người ta có nhiều hình ảnh khác nhau về con người. Bởi thế, trước khi đọc một tài liệu tâm lý, cần phải xem tác giả nhìn con người từ quan điểm nào. Nghĩa là: trước hết cần hiểu được lập trường và quan điểm nhân học của tác giả. Trong khoa tâm lý hiện đại, có rất nhiều trường phái khác biệt nhau. Mỗi trường phái nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó trong cách giải quyết vấn đề con người. Nếu không chú ý, người ta có nguy cơ đi đến một cái nhìn phiến diện.

Tâm lý về nhân cách là một nổ lực tìm kiếm và giới thiệu một hình ảnh đầy đủ về con người. Nó cứu xét mọi yếu tố ảnh hưởng đến đời sống con người trong hoàn cảnh hiện sinh cụ thể. Nhưng trong lãnh vực tâm lý nhân cách, cũng có nhiều trường phái khác nhau. Tâm lý năng động là một trường phái quan trọng, ít nhất là trong hoàn cảnh hiện thời. Tâm lý năng động cung cấp một khí cụ tương đối thích hợp nhằm giải thích hiện tượng con người. Bởi thế, nó thường được sử dụng trong việc huấn luyện nhân bản hay phát huy sức khỏe tâm thần.

Một số tác giả công giáo (trong đó có M. Dolores) nói đến sinh hoạt đời tu trong nhãn quan của môn tâm lý năng động. Tuy nhiên, những khái niệm về tâm lý năng động có tính cách chuyên môn, không luôn dễ dàng nắm bắt đối với tất cả mọi người. Vì thế, thật hữu ích nếu chúng ta nhắc lại – dù chỉ là cách sơ lược, đơn giản – một vài khái niệm cơ bản về tâm lý học cách chung và về tâm lý năng động cách riêng.

Trước tiên, chúng ta bàn qua các giai đoạn của lịch sử tâm lý học để sau đó có thể xác định rõ hơn về chỗ đứng của môn tâm lý năng động.

Thực ra không dễ giản lược các lý thuyết Tâm lý học vào một vài điểm chính và phân loại các trường phái. Tâm lý học như môn học về con người – để tìm hiểu chính mình hay người khác – đã có từ khi có con người. Nhưng tâm lý học như một khoa học (theo nghĩa: khoa học thực nghiệm) thì xuất hiện gần đây. Nói theo nhà tâm lý người Đức H. Ebbinghaus, thì: “Môn tâm lý học có một quá khứ dài nhưng có một lịch sử ngắn”.

Để có cái nhìn bao quát (mặc dầu sơ lược), chúng ta tạm thời phân chia lịch sử tâm lý học làm ba giai đoạn:

(1). Giai đoạn thuần lý.

(2). Giai đoạn thực nghiệm.

(3). Giai đoạn nhân bản

  1. Giai đoạn thuần lý.

Trong giai đoạn đầu, tâm lý học còn là một lãnh vực giới hạn của Triết học (hay cả Thần học, hoặc Y học), liên quan đến phần vô hình trong con người. Triết gia là người sử dụng lý trí để suy tư về các thực tại siêu hình. Khi suy nghĩ về con người thì triết học cổ truyền không xét đến khía cạnh vật chất, cụ thể, mà chỉ dừng lại ở điều được gọi là: các cơ năng của linh hồn (facultés de l’âme), thuộc thế giới bên trong, thuộc về cái “tâm”. Đại khái như: Bản tính của linh hồn. Chức năng của linh hồn. Vấn đề linh hồn bất tử. Khởi nguyên của các ý tưởng và tiến trình hoạt động của các ý tưởng… Hay các chức năng cao hơn của con người, như: tư duy, ước muốn, nhận thức, v.v…

Nói tóm lại: khoa Tâm lý cổ điển, sử dụng phương pháp triết học, hoàn toàn có tính cách thuần lý (rationnel) để cứu xét những vấn đề thuộc linh hồn. Ngoài ra, nó còn bị giới hạn rất nhiều bởi thuyết nhị nguyên (dualisme) vốn tách rời hay còn cả đối chọi: xác với hồn. Vì thế, nó không giúp nhiều trong việc tìm hiểu con người cách cụ thể và toàn diện.

  1. Giai đoạn thực nghiệm.

Tâm lý học được coi như trở thành bộ môn khoa học biệt lập, tách rời khỏi Triết học, khi Wilhelm WUNDT (1832-1920) thiết lập phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên tại Leipzig, vào năm 1879. Nó trở thành khoa học theo đúng nghĩa với các lý thuyết và phương pháp rõ rệt. Những giả thuyết khoa học luôn được kiểm chứng qua những sự kiện có thể quan sát, đo lường được nhờ các thiết bị hay máy móc thích hợp.

Theo Wundt, tâm lý học nhắm đến việc phân tích các tiến trình ý thức thành những yếu tố, đồng thời với việc khám phá các qui luật chi phối mối tương quan giữa các yếu tố này. Theo ông, nội quan (introspection) là phương pháp ưu tiên của môn tâm lý. Qua nhiều bài khảo luận và nghiên cứu sâu sắc về tiến trình tri thức và nhận thức, Wundt chứng minh rằng: tâm lý là một khoa học và các vấn đề tâm lý có thể được nghiên cứu trên căn bản thực nghiệm. Ông có tham vọng đóng góp vào sự hiểu biết đầy đủ về đời sống tâm lý, mà ý thức chỉ cho thấy một vài khía cạnh.

Chắc chắn với Wundt, khoa tâm lý đã bước sang một giai đoạn mới. Nhưng không phải mọi nhà khoa học đều đồng ý với phương pháp nghiên cứu của Wundt. Những giả thuyết và phương pháp khác nhau là nguyên nhân đưa đến nhiều lập trường khác biệt nhau. Chính vì thế mà Tâm lý thực nghiệm mau chóng phân chia thành nhiều trường phái, trong mức độ mà các người chủ xướng nhấn mạnh đến điểm này hơn điểm kia.

-Cơ cấu thuyết (Structuralism). Xuất hiện vào năm 1879. Những nhà tâm lý đầu tiên theo phương pháp do Wundt chủ trương – trong đó nổi bật nhất là Edward B. Titchener (1867-1927) – được gọi là những người theo cơ cấu thuyết, vì họ dựa trên ức thuyết cho rằng: mọi kinh nghiệm tâm não (mental), dầu có phức tạp đến đâu, cũng có thể được coi như sự phối hợp hay tổng hợp của những yếu tố hay tiến trình đơn giản. Qua việc phân tích các yếu tố sơ đẳng của tâm não, như: cảm giác, cảm xúc, hình ảnh…, người ta có thể khám phá được cơ cấu nền tảng của ý thức, mà theo trường phái cơ cấu, thì đối tượng chính của việc nghiên cứu tâm lý là những kinh nghiệm ý thức. Hay nói cách khác: ý thức (consciousness), lãnh vực của trí não, chứa đựng những cảm quan, nhận thức và ký ức, có thể đụng chạm và quan sát được, nhờ nội quan. Và qua việc cẩn thận quan sát, người ta có thể thiết lập những nền tảng sinh lý cho các thể loại kinh nghiệm ý thức.

(Chú ý: Cơ cấu thuyết ở đây không giống cơ cấu thuyết của Piaget, nhà tâm lý người Pháp, cũng không phải là cơ cấu thuyết của Levi-Strauss, nhà nhân chủng học, người Pháp).    

-Chức năng thuyết (Functionalism). Vào những năm l900, một nhóm tâm lý gia khác, dưới sự hướng dẫn của John Dewey (1859-1952), chỉ trích nhóm cơ cấu thuyết như quá hạn hẹp. Dựa trên thuyết tiến hoá của Darwin, họ định nghĩa tâm lý học như: “Tình trạng thích ứng của con người vào môi trường sống”. Họ nhấn mạnh đến giá trị của kinh nghiệm tâm linh trong việc thích ứng với môi trường. Họ tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm ý thức và vẫn còn dựa trên các mô tả nội quan của chủ thể, nhưng nới rộng mục đích của môn tâm lý khoa học, bằng cách nhấn mạnh đến tác phong và sự thích ứng, chớ không giới hạn vào những tình trạng tâm não biệt lập. Hay nói cách khác, họ phân tích trí não và tác phong, trong tương quan với các chức năng hay tính cách hữu dụng của chúng, hơn là cứu xét nội dung của chúng.

-Tác phong hay phong cách thuyết (Behaviorism). Nhóm người mệnh danh là “behaviorists” còn đi xa hơn, bằng cách nhấn mạnh rằng: kinh nghiệm ý thức ở ngoài tầm của việc quan sát khách quan và không thể là đối tượng nghiên cứu của khoa học. Chủ trương cực đoan nhất không những loại trừ khía cạnh nội tại của sinh hoạt tâm lý mà còn cả khía cạnh sinh lý với những hệ thống thần kinh, nội tiết của nó. Chịu ảnh hưởng của nhà sinh lý học người Nga Ivan Pavlov, họ chủ trương: chỉ nghiên cứu tác phong lộ diện (overt behavior) bên ngoài, mà người ta có thể quan sát được. Vì theo họ, tác phong được xác định bởi một hệ thống phức tạp của những mắt xích: “kích thích – phản ứng” (Stimulus-response). Các mắt xích này trở nên phức tạp hơn qua tiến trình học tập.

Mặc dầu không phải mọi người đều đồng ý rằng kinh nghiệm ý thức không có chỗ đứng trong tâm lý, nhưng các nhà “phong cách thuyết”, dưới sự lãnh đạo của E.L. Thorndike (1874-1949) và nhất là John B. Watson (1878-1958), vào những năm 1914, có ảnh hưởng lớn trong địa hạt tâm lý học Hoa Kỳ, nhờ các phương pháp nghiên cứu khoa học rất tiến bộ, luôn nhắm đến tính cách khách quan trong việc tìm tòi tra cứu. Mặt khác, vì họ chủ trương: đối tượng nghiên cứu khoa học duy nhất thích hợp trong lãnh vực tâm lý, là tác phong có thể quan sát và đo lường được, trong khi ý thức và tình trạng trí não chỉ là những hiện tượng đi kèm, nên họ bị coi như thuộc hệ phái “phong cách thuyết” cực đoan. Sau này, B.F. Skinner (b.1904) chủ trương một đường hướng ôn hoà hơn, mệnh danh “phong cách thuyết canh tân”, theo đó, điều đáng lưu tâm không phải là chính hành vi cho bằng những hiệu quả mà hành vi tác động trên môi trường. Chính vì có sự khác biệt đáng kể trong quan điểm và phương pháp của những người theo phong cách thuyết, mà cho đến nay, thật khó mà đưa ra một định nghĩa chính xác, thế nào là một “tác phong” (behavior).

-Trường phái Tổng thể (Gestalt theory) là một phản ứng chống lại mọi chủ trương cho rằng: các tiến trình hoạt động tâm não (mental processes) hay tác phong bên ngoài có thể coi như sưu tập hay tổng cộng của những yếu tố riêng lẻ. Theo họ, chỉ có thể hiểu những hiện tượng tâm lý khi cứu xét chúng như những toàn thể có tổ chức, có cơ cấu (Gestalten). Bởi thế, việc tách rời, phân tán, xé lẻ của các lập trường tâm lý “hạt nhân hoá” (atomistic hay molecular) trước kia, không còn được chấp nhận. Tại Đức, Max Wertheimer (1880-1943), cùng với W. Kohler và F. Koffka, thiết lập trường phái Gestaltism, vào khoảng năm 1912, dựa trên nguyên tắc căn bản: toàn thể kinh nghiệm hay tác phong thì lớn hơn tổng cộng các thành phần của nó. Lập trường này sau đó được F. Koffka trình bày trong: Principles of Gestalt Psychology (1935). Mặc dầu lý thuyết này hiện giờ không còn tồn tại dưới hình thức nguyên thủy, nhưng những khám phá của nó góp phần rất lớn vào lãnh vực “trường nhận thức” (field of perception) và lý thuyết về “trường bãi” (field theory) trong tâm lý xã hội, hay việc nhấn mạnh đến cách suy nghĩ sáng tạo trong tâm lý giáo dục.

  1. Giai đoạn nhân bản.

Tâm lý hiện đại có xu hướng chung là cứu xét con người như đối tượng ưu tiên. Những khái niệm trừu tượng hay tác phong bên ngoài, chỉ được cứu xét trong tương quan với con người cụ thể. Hay nói cách khác, một đặc tính nổi bật của tâm lý hiện đại là chiều kích nhân bản. Vấn đề quan trọng là làm sao giúp con người hiểu biết về chính mình cũng như hiểu biết người khác. Chính con người trong bản chất độc đáo của nó, với tất cả cơ năng tinh thần, sự cấu tạo thể lý, yếu tố di truyền, lịch sử cá nhân, ảnh hưởng gia đình và tương quan xã hội… chiếm trọn sự chú ý của các nhà tâm lý học. Để nghiên cứu con người như một toàn thể trong chính nó, cũng như trong tương quan với người khác và cảnh sống, khoa tâm lý hiện đại sử dụng một khái niệm tổng quát là: nhân cách (Personality).

Nhân cách” trong bối cảnh tâm lý học, là một từ rất khó định nghĩa cách chính xác. Trong tác phẩm: Personality (1937), G.W. Allport, một chuyên viên về tâm lý nhân cách đã đưa ra gần 50 định nghĩa khác nhau về nhân cách… Dầu sao thì khái niệm nhân cách được sử dụng trong tâm lý học hoàn toàn có tính cách khách quan chớ không mang ý nghĩa giá trị. Nghĩa là: theo quan niệm thông thường, một người được gọi là ”nhân cách”, khi bên ngoài họ có vẻ oai vệ, đi đứng chững chạc, ăn nói hấp dẫn, hay khi được nhiều người biết đến, được nhiều người nể trọng, v.v… Nhưng trong tâm lý học, “nhân cách” là một khái niệm tổng quát bao gồm ba yếu tố chính liên can đến con người: (1) tác phong bên ngoài; (2) kinh nghiệm chủ quan bên trong, hay ý thức về một cái “ngã” thường hằng; (3) một tổ chức các đặc tính đo lường được. Cách vắn gọn, các nhà tâm lý học Hoa Kỳ mô tả “nhân cách”, như “tác phong có tổ chức của một cá vị”. Theo đó, yếu tố: “tổ chức, tác phong và cá vị” có tầm quan trọng đặc biệt, bởi lẽ tâm lý học về nhân cách không chỉ cứu xét hành vi bên ngoài mà còn chú trọng đến các cơ cấu và tiến trình ảnh hưởng trên tác phong đó.

Mỗi trường phái tâm lý nhân cách sẽ chú trọng đến một khía cạnh nào đó của nhân cách và cũng sẽ định nghĩa nhân cách theo nhãn quan của mình. Vì hiện nay, tâm lý nhân cách phát triển sâu rộng, mà trong phạm vi giới hạn của một bài dẫn nhập chúng ta không thể kê khai tất cả mọi trường phái, nên chỉ đề cập đến ba xu hướng chính, ít nhiều tiêu biểu cho các lãnh vực nghiên cứu về nhân cách.

-Lý thuyết về các điển loại (Typology). Tương quan giữa đặc tính thể lý và yếu tố nhân cách.

Đây là phương thức cổ xưa nhất trong việc nghiên cứu về nhân cách. Từ thời Hippocrates (460-377 b.C.), y học đã có khuynh hướng mô tả, xếp loại những đặc tính sinh lý hoặc thể lý trong tương quan với những đặc tính tâm lý và tác phong, hầu giúp con người hiều biết hơn về chính mình cũng như về đồng loại. Galien (130-200), theo truyền thống của Hippocrates, tiếp tục khai triển giả thuyết về bốn loại “khí chất” căn bản trong con người: máu, mật đen, mật vàng (huỳnh đảm), bạch huyết. Tuỳ theo sự phối hợp ít nhiều của các yếu tố này mà người ta có thể phân biệt bốn loại tính tình khác nhau, như: nóng nảy (sanguine/đa huyết), đa sầu (melancholic), dễ giận (choleric), và phớt tỉnh hay lãnh đạm (phlegmatic).

Cách phân loại này còn được cụ thể hóa bằng những mẫu nhân vật lấy từ trong thần thoại Hy lạp, như: Epimêtêô (buồn), Dionysiô (nóng nảy), Prômôtêô (phớt tỉnh), Apolloniô (giận dữ). Trong suốt thời Trung Cổ, điển loại này tương đối phổ thông và không ai đặt lại vấn đề.

Tuy nhiên, phải đợi đến E. Kretschmer (1888-1964) mới thấy xuất hiện một lý thuyết đầy đủ về điển loại. Dựa trên những khảo sát lâm sàng, Kretschmer – vào năm 1925 – mô tả bốn loại nhân cách tương ứng với các đặc tính cơ thể, như: pyknic (ngắn, tròn): người hay có phản ứng cực đoan; asthenic (dài, mảnh khảnh): người sống mơ mộng, xa thực tế; hypoplastic (thiếu phát triển): có nhiều mặc cảm tự ti, và athletic (lực sĩ): khoẻ mạnh, tự tin. Đây là hạng người lý tưởng, dưới cái nhìn của Krestchmer.

Dầu vậy, lý thuyết của Krestchmer bị phản bác vì lấy mẫu từ kinh nghiệm lâm sàng, không phù hợp với những đặc tính của con người bình thường.

Đặc biệt, W.H. Sheldon (1898-1970), qua một hệ thống phức tạp, vào khoảng năm 1942, muốn chứng minh rằng có một tương quan chặt chẽ giữa cấu trúc thể lý và những yếu tố tâm lý. Trên bình diện thể lý, ông phân biệt ba thành tố sơ đẳng: béo phì (endomorphy/nội bì) mà tâm bào và nội tạng là những cơ quan nổi bật, hình dáng bên ngoài thì tròn trịa; gân guốc (mesomorphy/trung bì), người có cơ thể, gân cốt của lực sĩ; ốm yếu (ectomorphy/ngoại bì), người mảnh khảnh, nhỏ thó, có hệ thống thần kinh nhạy cảm.

Trong tương quan giữa thể lý và tính tình- khí chất, người ta diễn dịch ba thành tố sơ đẳng về thể chất như tương ứng với ba điển loại nhân cách:

1/ (viscerotonia/vượng bào, thịnh về nội tạng): thích ẩm thực, vui vẻ, cởi mở, lịch thiệp;

2/ (somatotonia/vượng thể, thịnh về thể xác): cường tráng, vạm vỡ, thích phiêu lưu mạo hiểm;

3/ (cerebrotonia/vượng não, thiên về trí óc): nhút nhát, dè dặt, đắn đo.

(Dầu vậy, lý thuyết này cũng không có sức thuyết phục đối với các nhà tâm lý chuyên nghiệp, vì bị coi như mắc phải một số sai lầm về tính toán, không có nền tảng khoa học, bởi lẽ không có tương quan nguyên nhân- hậu quả, mà chỉ có mô tả và nhận định).

-Phân loại tính tình của Jung (1903)

Một phân loại khác, hiện nay được các nhà tâm lý tôn giáo lưu ý sử dụng vì phần nào liên can đến đời sống tu đức và cầu nguyện, đó là phân loại của Carl Gustav Jung (1875- 1961). Trong lý thuyết về nhân cách, Jung phân biệt hai thái độ căn bản là: hướng nội (introvert) và hướng ngoại (extrovert). Hai thái độ này được diễn tả cách cụ thể qua bốn chức năng giúp tăng trưởng trong ý thức và thích ứng vào thế giới bên ngoài: suy nghĩ (Thinking), cảm nghiệm (Feeling), trực giác (N = Intuition), và cảm quan (Sensation). Sự phối hợp của hai thái độ căn bản với bốn chức năng này làm nên đặc tính của mỗi nhân cách.

Điển loại của Jung sau này- vào khoảng 1950- được Isabel Myers và mẹ là Katherine Briggs sửa đổi đôi chút để làm thành bảng trắc nghiệm tâm lý (Myers Briggs Type Indicator = MBTI), gồm bảy câu hỏi, dựa trên các yếu tố căn bản sau đây. Về phương diện nhận thức, có hai cách xử lý đối nghịch, qua cảm quan (Sensation) và qua trực giác (N = Intuition). Giác quan giúp tiếp nhận thực tại từ bên ngoài. Trực giác là nhận thức từ bên trong hay từ hoạt động của vô thức. Cũng có hai cách đưa đến kết luận hay phê phán về một thực tại: từ tư duy hay suy nghĩ (Thinking) và từ cảm tính (Feeling). Hai cặp (SN và TF) có thể phối hợp với nhau để làm nên nhiều loại tính tình khác nhau. Sự khác biệt trong cách nhận thức và phán đoán giữa những con người còn được tỏ hiện qua tính cách hướng nội (I) hay hướng ngoại (E) của mỗi người. Trong cách ứng xử với thế giới bên ngoài, còn có hai thái độ, là: phán đoán (Judging) và nhận định (Perceiving). Như vậy, có cả thảy là mười sáu cách phối hợp giữa các cặp EI, SN, TF, JP. Mười sáu cách này có thể giúp mỗi người nhận ra cá tính của mình. Đồ biểu tâm lý này, thoạt đầu gặp nhiều đề kháng, nhưng hiện nay được sử dụng rộng rãi trong các môi trường tôn giáo như trường hợp của phương pháp “Cửu bộ” (Enneagram), khá phổ biến tại Mỹ Quốc từ những năm l971-1974. Về phương diện xếp loại tính tình, cũng nên nhắc đến “tính tình học” của René Le Senne hay E. Mounier (1946), tại Pháp, mặc dầu phương pháp này không được coi như có giá trị khoa học vững chắc.

-Lý thuyết về các nét hay đặc tính (Traits Approaches).

Lối tiếp cận này dựa trên giả thuyết cho rằng nhân cách là một sự tổng hợp các nét hay đặc tính trong cách ứng xử, suy nghĩ, phản ứng, v.v… Thoạt đầu, các lý thuyết gia chỉ nhắm đến việc kê khai, xếp loại các nét đặc trưng của tác phong. Chỉ sau này, các chuyên viên mới sử dụng các kỹ thuật phân tích yếu tố (factor analysis) để khám phá những nét căn bản dựa trên những nhu cầu cá nhân: sơ đẳng (viscerogenic) hay thứ đẳng (psychogenic), như H. Murray chủ trương. Còn E. Spranger (1882-1963) trình bày lý thuyết về các giá trị, trong quyển “Lebensformen”, được dịch ra Anh ngữ: Types of men (1928). Trong sách này tác giả muốn chứng minh rằng: cách tốt nhất để hiểu biết một nhân cách là nghiên cứu các giá trị hay triết lý sống của người ấy, vốn được gồm tóm trong sáu động lực cơ bản: lý thuyết, kinh tế, thẩm mỹ, xã hội, chính trị và tôn giáo.

Nhưng cuối cùng, chỉ có lý thuyết của R.B. Cattell (b. 1905) về các đặc tính gốc (source traits) là có ảnh hưởng sâu rộng. Theo Cattell, mục đích của lý thuyết về nhân cách là tạo ra một định thức cơ bản về các đặc tính cá vị để có thể tiên đoán về định hướng của tác phong. Mà các đặc tính này, mặc dầu giới hạn về lượng số, nhưng thực sự là những cơ cấu nền tảng ảnh hưởng trên tác phong. Các đặc tính gốc giải thích các đặc tính bề mặt (surface traits).

Chú ý: hai phương thức điển loại và đặc tính, bổ túc cho nhau như hai mặt của một đồng tiền. Điển loại nhấn mạnh đến khía cạnh tương đồng, còn đặc tính thì chú trọng đến sắc thái dị biệt của mỗi cá vị.

-Tâm lý năng động và phân tâm học.

(Psychodynamic and psychoanalytic theories).

Trong khi các phương thức trên có xu hướng mô tả, so sánh, xếp loại các đặc tính bên ngoài của nhân cách, mà không giải thích, thì phân tâm và tâm lý năng động hướng về việc tìm hiểu cơ cấu và những yếu tố sâu xa làm thành nhân cách. Tâm lý các nét đặc tính có thể giúp thoả mãn óc tò mò, thích phê phán, chớ không giúp chuẩn bị tiếp nhận và giúp đỡ kẻ khác. Các nhà phân tâm trái lại, thay vì đề nghị những mô hình nhân cách, thì đề nghị những lược đồ giúp khám phá cách sâu xa sự thành hình và các thành tố tạo nên tác phong. Những lược đồ nhiều khi không đầy đủ nhưng hữu dụng để giải thích một số trường hợp bất thích ứng của nhân cách. Hay đúng hơn, họ chỉ đề nghị một lược đồ nhưng giải thích nhiều điển loại nhân cách khác nhau.

Người ta có xu hướng lẫn lộn tâm lý năng động với phân tâm học (psychanalyse). Nhưng trong thực tế, thì hai ngành này khác biệt nhau.

Vì đây là một lập trường quan trọng trong việc tìm hiểu nhân cách, nên cần được cứu xét cách đặc biệt.

-Phân tâm học của S. Freud (1856-1939)

Cùng lúc với “chứ năng thuyết” ở Mỹ châu, phân tâm học xuất hiện ở Âu châu. Trong nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân và phương thế chữa trị các loại xáo trộn nhân cách (personality disorders) S. Freud đặt giả thuyết về sự hiện hữu của những tiến trình tâm não vô thức, vốn ảnh hưởng đến tác phong của một người bằng vô số phương cách gián tiếp, mặc dầu đương sự không ý thức về điều đó.

Lược đồ nhân cách do Freud đề nghị, chắc chắn có một giá trị lớn trong việc giải thích sự thành hình của – ít nhất một số lớn – những cấu trúc hay tình trạng tâm lý bất thích ứng (nhiễu tâm), khi việc phát triển tâm lý – phái tính bị nhiễu loạn bởi những vấn đề tâm cảm.

Người ta biết rằng, do những thành kiến khác nhau, Freud cho rằng phải quan niệm đời sống tâm lý như “chức năng” của một bộ máy, là “hệ thống thần kinh”. Cơ cấu tâm linh được coi như phát sinh cách tiệm tiến từ hệ thống thể lý bằng con đường tiến hoá. Trong nguồn gốc sâu xa, tiến trình này là vô thức. Nhưng khi trở thành hệ thống tâm linh, thì nó bắt đầu phân hoá và làm phát sinh ba “cấp”, “vùng” hay trung tâm chức năng, mệnh danh : Cái “Đó”, cái “Ngã” và cái “Siêu Ngã”.

-Cái «Đó» (Id) là vùng cổ xưa nhất trong hệ thống tâm linh. Nội dung của nó bao gồm tất cả mọi điều mà chủ thể mang theo khi sinh vào đời. Đây là phần tăm tối, khó dò thấu nhất trong nhân cách…và người ta chỉ có thể mô tả bằng cách đối chọi với cái Ngã. Nó không biết đến các phán đoán giá trị và luân lý. Chỉ biết có nguyên lý khoái lạc (principe de plaisir).

-Cái «Ngã» (Ego) xuất hiện như sau: dưới ảnh hưởng của thế giới bên ngoài bao quanh nhân cách, một phần của cái «Đó» trải qua một sự tiến hoá đặc biệt. Từ lớp vỏ não nguyên thuỷ…một tổ chức đặc loại được thành hình, làm trung gian giữa cái «Đó» và thế giới bên ngoài. Cái phần của tâm linh này được gọi là cái Ngã. Nó diễn tả sinh hoạt tâm não, trí tuệ và ý chí. Đây là vùng của tư duy và ý thức. Giữa ý thức và vô thức có «tiền thức» (préconscient),vốn là một phần của vô thức, có khi thì vẫn ở trong trạng thái vô thức, có lúc lại trở nên ý thức. Cái Ngã bị chế ngự bởi nguyên lý thực tại (principe de réalité) nghĩa là bởi những đòi hỏi của thế giới bên ngoài, tuy nhiên nó vẫn phải lưu ý đến cái Đó và những đòi hỏi của cái Siêu Ngã.

-Cái «Siêu Ngã» (Super-Ego) là một vùng mới, được thành hình trong lòng cái Ngã từ ấu thời, khi chủ thể ở dưới quyền của cha mẹ. Freud cho rằng đó là tiếng nói của lương tâm. Ngoài ra nó còn bao gồm các phán đoán giá trị và những lý tưởng mà chủ thể tự dặt ra cho chính mình.

Phải công nhận rằng lược đồ nhân cách này, mặc dầu là bất túc, nhưng lại phù hợp với một số dữ kiện được quan sát. Chính vì thế, mà khi đề cập đến phân tâm của Freud người ta luôn nói đến ba phần của tâm linh này, nhiều khi còn bình dân hoá hay đơn giản hoá thực tại đó nữa. Điều này góp phần vào việc hiểu sai quan niệm của Freud.

Những ý tưởng của Freud gây ảnh hưởng lên trên lý thuyết về nhân cách và trên những phương pháp chữa trị các loại xáo trộn tâm thần. Nhưng phân tâm học không đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản trong tâm lý, như tiến trình học tập và việc tổ chức những khả năng của con người. Lý thuyết phân tâm học thường bị phê bình do sự kiện là nó được xây dựng cách chủ yếu trên những dữ kiện lâm sàng chớ không phải trên những thí nghiệm được kiểm soát.

Chính trong trường phái phân tâm cũng có nhiều tiếng nói khác nhau, nhiều khi còn bài bác cả lập trường của Freud.

Bình luận

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.