Ai cũng nhận Hồi Giáo ngày nay đã ra khác, trở thành cực đoan cao độ. Hai học giả Công Giáo, trong tháng 5 vừa qua, đã lên tiếng về hiện tượng này. Đó là linh mục Dòng Tên Samir Khalil, một tác giả và là giáo sư Đại Học St Joseph, Lebanon về thần học Công Giáo và Hồi Giáo Học, đồng thời là cố vấn cho nhiều nhà lãnh đạo Công Giáo và chính trị gia; và Giáo Sư David Forte, một chuyên gia về Luật Hồi Giáo, của Đại Học Tiểu Bang Cleveland.
Diễn trình cực đoan hóa
Lên tiếng trong một cuộc phỏng vấn của Chương Trình “Where God Weeps” với sự hợp tác của cơ quan “Trợ Giúp Các Giáo Hội Cần Trợ Giúp”, Linh Mục Khalil cho biết diễn trình cực đoan hóa của Hồi Giáo.
Theo ngài, diễn trình này bắt đầu với tổ chức Muslim Brotherhood (Huynh Đệ Hồi Giáo) vào cuối thập niên 1920, đặc biệt là lúc chấm dứt Thế Chiến I và việc xụp đổ hệ thống cai trị Hồi Giáo (Caliphate) vào năm 1923-1924, lúc Đế Quốc Ottoman, Đế Quốc Hồi Giáo cuối cùng, cáo chung sau 1,300 năm. Thêm vào đó, còn có việc thế tục hóa Thổ Nhĩ Kỳ nữa. Lúc ấy, người Hồi Giáo hoang mang, không biết mình phải làm gì. Họ tự hỏi ai sẽ là lãnh tụ (caliph) mới? Ả Rập Saođi, hay Ai Cập? Nhưng họ không thấy ai lãnh đạo được đế quốc này. Thế là mọc ra một phong trào với mục tiêu “Chúng ta phải hồi giáo hóa các nước Hồi Giáo. Các nước này đã quá tây phương hóa mất rồi!”.
Mà đúng thế, hệ thống pháp luật của họ dựa trên các hệ thống của Pháp, của Thụy Sĩ… và thế là họ thành lập và khởi sự Huynh Đệ Hồi Giáo, lúc ấy không có gì mạnh cả. Ý định của họ chỉ là thay đổi xã hội hướng tới một cái gì có tính Hồi Giáo hơn mà thôi. Tuy nhiên, họ cũng bắt đầu dưới danh nghĩa một phong trào chính trị tại Ai Cập. Thoạt đầu, họ hoàn toàn bác bỏ bạo động, nhưng rồi với thời gian, bạo động trở thành một phần trong cuộc tranh đấu chống lại cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của Tổng Thống Gamal Abdel Nasser. Vì thế, các thành viên của Huynh Đệ Hồi Giáo đã bị bách hại, bỏ tù hay bị giết. Phản ứng lại, họ bắt đầu tổ chức việc đề kháng và chống đối. Từ đó, mỗi năm, họ một trở nên bạo động hơn.
Thế rồi năm 1948, nhà nước Do Thái được dựng lên. Các nước Ả Rập nhất loạt tuyên chiến với Do Thái. Cuộc chiến kết thúc với việc tất cả quốc gia Ả Rập đều thua một mình nước tí hon này. Họ cảm thấy nhục nhã. Nhưng rồi họ nhận định: lý do của cuộc thua trận lần này là các quốc gia Hồi Giáo chưa hồi giáo đủ; “ta cần khởi động một cuộc cách mạng”. Chiến tranh liên tiếp được tuyên bố giữa Do Thái và thế giới Ả Rập và mỗi lần thất bại lại về phía các quốc gia Ả Rập.
Nhưng tình thế bắt đầu thay đổi về phương diện kinh tế trong các năm 1973-1974, khi có nhu cầu gia tăng về dầu hỏa. Giá dầu tăng 4 lần và một lượng dollars khổng lồ bỗng nhiên được tích lũy. Các nước sản xuất dầu hỏa như Ả Rập Saođi phải dùng tiền này để làm gì? Họ bèn đi xây đền thờ và các trung tâm Hồi Giáo. Tại Ai Cập, họ tài trợ việc xây dựng cả hàng ngàn trường học và đền thờ Hồi Giáo. Ngày nay, họ vẫn tiếp tục tài trợ như thế.
Trả lời câu hỏi: họ có nghị trình gì về tôn giáo hay không, Linh Mục Khalil trả lời có. Thuyết Wahhab xuất hiện, mang tên của Abdal Wahhab, người, vào năm 1780, đã thỏa hiệp với Ông Hoàng Muhammad ibn Saud. Ông ta hỗ trợ ông hoàng này và ông hoàng này chấp nhận ý thức hệ tôn giáo của Abdal Wahhab. Lúc ấy có 4 trường phái pháp chế trong Hồi Giáo. Pháp chế khắt khe nhất được gọi là Hanbali, được Ả Rập Saođi thực hành. Nhưng đối với Wahhab, pháp chế đó vẫn chưa khắt khe đủ, nên mới có thuyết Wahhab. Đây là thực hành khắt khe nhất của Hồi Giáo. Khi Ả Rập Saođi được thành lập ở đầu thế kỷ 20, thứ Hồi Giáo này đã trở thành quốc giáo buộc mọi người phải theo. Với tiền từ dầu hỏa, họ bắt đầu xuất cảng ý thức hệ này, và do đó, nó đã được du nhập vào Ai Cập, rồi trong các thập niên 1990, nó tràn vào Angiêri và Nam Dương.
Cho nên có thể nói: tiền Mỹ và Âu Châu mua dầu hỏa đã cung cấp nhiên liệu cho việc phát triển chủ nghĩa Hồi Giáo cực đoan. Cả ngày nay nữa, họ vẫn tiếp tục làm như thế; họ vốn có nhiều tiền, và một viễn kiến, một ý thức hệ.
Ở đây, chính trị và tôn giáo luôn luôn dính kết với nhau. Tại Tây Phương, người ta trải nghiệm việc thế tục hóa và việc tách biệt giữa Giáo Hội và nhà nước. Điều ấy có thể xẩy ra tại thế giới Hồi Giáo hay không? Theo Cha Khalil, người Hồi Giáo vốn chưa bao giờ trải nghiệm việc thế tục hóa, nên họ coi việc này như chủ nghĩa vô thần. Họ không thể tưởng tượng nổi một nhà nước vô tôn giáo. Thế tục hóa, vì thế, đối với họ, là đặt tôn giáo ra ngoài, là vô thần. Cha Khalil cho hay: ngài không dùng hạn từ này bằng tiếng Ả Rập, mà chỉ dám nói tới “nhà nước dân chính”, một hạn từ không loại bỏ tôn giáo ra bên ngoài.
Ít có thể lạc quan
Lên tiếng trong một bài thuyết trình tại Viện Acton ở Rôma chuyên nghiên cứu về Tôn Giáo Và Tự Do, Giáo Sư David Forte thú nhận là càng ngày càng ít lạc quan hơn trước chủ nghĩa Hồi Giáo cực đoan, một ý thức hệ đòi phải tuyệt đối tuân theo Luật của Hồi Giáo, và do đó, kình chống triệt để đối với những người không phải là Hồi Giáo.
Hiện tượng trên khá hiển nhiên tại một số quốc gia hậu “xuân Ả Rập”. Tại đó, các đảng phái duy Hồi Giáo như Huynh Đệ Hồi Giáo, từng bị cấm dưới các chế độ trước đây, nay đang dành được hậu thuẫn ngày càng lớn. Sự tái xuất giang hồ của họ cũng đang được nhiều nước Á Châu và Tây Phi Châu chứng kiến, tuy kém mức độ hơn.
Và với đà phát triển của ý thức hệ này, khi người Kitô giáo cũng như nhiều nhóm thiểu số khác phải rời bỏ quê hương ra đi, thì người Hồi Giáo càng ngày càng coi Luật Sharia không phải chỉ như đặc điểm làm nên người Hồi Giáo mà còn là thành phần cấu tạo ra hiến pháp của nhà nước Hồi Giáo nữa.
Điều làm Giáo Sư Forte lưu tâm hơn cả, là áp lực muốn biến Sharia thành hiến pháp hay hệ thống pháp luật của nhà nước Hồi Giáo vốn không đến từ Hồi Giáo truyền thống. Ông cho Zenit hay: “Trước đây, không bao giờ như thế cả. Nhà nước Hồi Giáo luôn tách biệt đối với Sharia, dù chịu ảnh hưởng nặng nề bởi nó và vốn chấp hành một số phần của nó, nhưng đồng thời cũng chấp hành các phần trái ngược với nó nữa. Chính các mullahs, các ulama (trọng tài của Luật Sharia) cũng đồng ý với việc đó”.
Nhưng hiện nay, ý niệm về một nhà nước như thế đã biến mất và khuynh hướng hiện nay là tiến tới tình trạng coi “việc thi hành Sharia như một hệ thống pháp lý”. Một phát triển theo chiều hướng ấy quả đang làm người ta nản lòng, kể cả những người Hồi Giáo có óc cải tiến.
Lý do của khuynh hướng này xem ra nằm ở việc sáp nhập truyền thống ulama vào nhà nước hiện đại. Dưới các chế độ đế quyền của Hồi Giáo, phong tục và các lực lượng khác bên trong đế quốc luôn kiềm chế các nguy cơ quá lạm. “Các nhà cầm quyền luôn hạn chế Sharia, và ngược lại bị Sharia hạn chế, đó là một cơ cấu chính trị kh hỗn hợp và khá phức tạp. Nhưng với việc ra đời của các nhà nước riêng rẽ và sự xuất hiện của người Duy Hồi Giáo trong thế kỷ 20, họ muốn làm cho Sharia cao hơn nữa, đồng thời cột nó vào chính sách độc quyền của nhà nước thực chứng hiện đại. Hai điều đó đi đôi với nahu, làm người ta lo ngại”.
Như thế có hy vọng gì có những canh tân dân chủ tại đa số các nước Hồi Giáo, tiếp theo Mùa Xuân Ả Rập hay không? Giáo Sư Forte trả lời rằng khó mà biết được, xét về hình thức và bản chất dân chủ. Vì hình thức bầu cử chỉ có nghĩa nếu đặt căn bản trên viễn kiến vững chắc về bản chất con người nhân bản. Căn cứ vào ý thức hệ của Huynh Đệ Hồi Giáo, ta thấy họ ủng hộ một số hình thức dân chủ, nhưng họ muốn những hình thức này phải áp đặt luật Sharia lên những người khác. Cho nên khó có thể nói họ nghĩ gì về bản chất của dân chủ.
Nói chung về tác động của Mùa Xuân Ả Rập, Giáo Sư Forte cho rằng tác động tích cực của nó có hay không hoàn toàn tùy thuộc việc tự giáo dục của người dân trong vùng. “Nếu các định chế giáo dục của họ cởi mở hơn, để người dân đọc nhiều hơn, thì họ sẽ trở nên văn minh hơn, và nhờ thế quay trở về với ý niệm coi Sharia như chỉ góp một phần hạn chế trong xã hội, chứ không phải là tất cả, và có lẽ áp dụng nó vào việc thờ phượng hay thừa kế chẳng hạn thôi”.
Theo GS Forte, nhà nước hỗn hợp có thể phát sinh, nếu dân chúng không còn tin Sharia thích hợp với ý thức của họ về cá thể tính và nhân phẩm nữa. Đây chỉ là một hy vọng, ông không rõ liệu điều ấy có thể xẩy ra trên thực tế hay không.
Sharia cũng không nhất thiết là một hệ thống pháp lý không thể canh cải được, như lịch sử đã từng chứng minh. Thực tế này cho ta thấy một dấu chỉ để hy vọng, đáng được nghiên cứu thêm. Ông bảo: “Khảo sát nó trong các hạn từ cổ điển, bạn sẽ thấy nội dung của Sharia khá cởi mở và có tính cải tiến ở thời kỳ khởi đầu, nhưng sau đó nó đã ra khô cứng, trở thành lỗi thời nhiều cách”.
Theo truyền thống, Sharia coi 3 loại người sau đây là hèn kém suốt đời: phụ nữ, nô lệ và người không tin, và tiếp tục áp dụng các yếu tố lỗi thời của luật như trừng phạt vợ về thể lý và rạch mặt những kẻ trộm cắp. Tuy nhiên, Giáo Sư Forte lưu ý rằng: nô lệ, một thành phần căn bản của Sharia, nay đã bị bãi bỏ. Không thấy một mullah nào, dù cực đoan bao nhiêu, đi kêu gọi lập lại chế độ nô lệ. Đây là điều gây ngạc nhiên, có tính “mạc khải”, cần được thăm dò sâu sắc hơn. Tuy nhiên, ông cho hay trước đây 10 năm ông còn có chút lạc quan, chứ ngày nay ông tỏ ra khá bi quan.
Người Công Giáo trong cái nhìn của Hồi Giáo cực đoan
Đối với người Công Giáo, trong số các tài liệu thu lượm được trong cuộc đột nhập vào sào huyệt của Bin Laden ở Pakistan, có tờ trình của một viên chức Al Qaeda người Mỹ đề nghị nên lưu tâm tới những người Công Giáo bỏ đạo, họ là các mục tiêu tốt để khuyên trở lại Hồi Giáo. Tài liệu này vừa được công bố tại Mỹ, trong đó phát ngôn viên Mỹ của Al Qaeda là Adam Gadahn trình với Bin Laden vào tháng Giêng năm ngoái rằng người Công Giáo là “mảnh đất tốt” để trở lại, “nhất là sau sự bất mãn tràn lan chống lại giáo hội mẹ (Vatican) do hậu quả các vụ gương xấu và các chính sách bị nhiều người trong công chúng của họ bác bỏ”.
Gadahn đơn cử cách riêng người Ái Nhĩ Lan, cho rằng họ “là những người tôn giáo vô thần nhất của Âu Châu’ và đang hướng về chủ nghĩa duy tục. “Tại sao ta không cho họ đối diện với Hồi Giáo?”, hắn hỏi như thế.
Nhận định đáng tiếc của Gadahn, phần nào, đã ứng nghiệm một trong các cảnh giác của Đức GH Bênêđíctô XVI trong bài diễn văn gây tranh cãi tại Regensburg năm 2006, rằng chủ nghĩa duy tục, do thời hậu ánh sáng đem tới, vốn là lối suy nghĩ duy nghiệm và duy vật, sẽ dẫn người ta tới một khả năng suy luận không đầy đủ. Các mưu toan xây dựng một nền đạo đức học từ các qui luật của biến hóa hay từ tâm lý học hay xã hội học, kết cục sẽ trở thành thiếu sót. Một lý trí câm điếc đối với cõi thần linh và đẩy tôn giáo vào lãnh vực văn hóa phụ đẳng (subcultures) sẽ không có khả năng bước vào cuộc đối thoại văn hóa”
Giáo Sư Forte tin rằng đặc biệt trong lãnh vực này, Đức Giáo Hoàng quả là tiên tri. Ông bảo: “Lúc ấy, chúng ta không hiểu được cái nhìn xã hội học hết sức thấu suốt của ngài về chức năng của lý trí. Đức Bênêđíctô XVI hiểu rõ tác động xã hội học đối với một xã hội đã từ bỏ lý trí đúng đắn và chỉ dùng nó cho các mục tiêu hữu dụng chật hẹp. Đó là thứ xã hội đã trở nên mất hết khả năng và khao khát có được một loại trú ẩn tâm linh nào đó. Thế là niềm tin Hồi Giáo xuất hiện như một niềm tin đơn giản và thực tiễn”.
Ông nhấn mạnh rằng những người duy tục và các nhà trí thức đã đánh mất Kitô Giáo rất dễ coi Hồi Giáo như một thứ chủ nghĩa độc vị tâm linh (spiritual unitarianism), một chủ nghĩa bác bỏ các tín điều chính thức để áp dụng phương thức duy lý vào đức tin. Nhưng theo ông, “lý trí đúng đắn, tức lý trí đi tìm các nguyên lý đệ nhất” hẳn phải bác bỏ Hồi Giáo vì căn bản triết lý hiện nay của nó “gần như chỉ có tính thực dụng, không như trong các thế kỷ đầu của Hồi Giáo”.
Ông cho hay: “nếu có được một truyền thống trí thức sinh động biết tôn trọng luật tự nhiên, thì phần lớn các nhà trí thức sẽ nhận ra giá trị của đức tin vì nó luôn đi tìm các nguyên lý đệ nhất. Nhưng nếu chỉ có một cơ cấu triết lý rời rạc trong đó người ta không đi tìm lý trí đúng đắn, thì họ sẽ đi tìm đức tin ở khắp mọi nơi”.
Ông nói thêm: “Đây không hẳn là vấn đề bạn không có đức tin và lý trí để hướng dẫn bạn, mà chỉ là vấn đề bạn không tin vào (khả năng) của lý trí có thể đạt được các mục tiêu đúng đắn. Trong trường hợp này, bạn mặc tình để mình bị thuyết phục bởi đủ mọi thứ ảnh hưởng”.
Vũ Văn An
Vietcatholic.net


Cảm nhận