Mình và Máu Chúa Ki-tô Dành Cho Thế Giới (Thánh Thể Trong Đời Tôi – kỳ 5)

eucharist1MÌNH VÀ MÁU CHÚA GIÊ-SU DÀNH CHO THẾ GIỚI

Sứ mạng Chúa đã trao phó cho tôi đã nảy sinh từ cuộc gặp gỡ giữa tôi với Ngài. Sứ mạng ấy luôn được gửi cho những người khác nữa, và cho toàn thế giới, bởi vì Chúa Giê-su đã đổ máu “để nhiều người được rỗi”, nghĩa là cho toàn thể nhân loại. Mỗi thánh lễ được cử hành bất kỳ đâu trên thế giới cũng để là cho toàn thế giới.

Tôi nhớ lại thánh lễ mà tôi đã cử hành trên ngọn núi Fujiyama (núi Phú Sĩ, Nhật) nổi tiếng, ở độ cao hơn 3000 mét. Tôi đã lên núi cùng với một đồng nghiệp (thời đó, hầu hết phải đi bộ). Người ta chỉ có thể đi ngựa lên tới độ cao chừng 1000 mét mà thôi. Để có thể chiêm ngắm toàn cảnh mỹ lệ. Cần phải lên tới đỉnh núi trước 4 giờ sáng, vì sau 6 giờ mây phủ kín đỉnh núi và người ta chẳng còn nhìn thấy được gì nữa.

Chúng tôi lên tới đỉnh núi đúng giờ và chúng tôi đã dâng lễ trong một khung cảnh hoàn toàn thanh vắng. Tôi đã tới nước Nhật trước đó một thời gian, lúc đó tôi sống với những cảm giác đầu tiên mà cảnh vực này khơi lên trong tôi. Trong trí tôi có hàng loạt dự định mong làm cho cả nước Nhật trở lại. Chúng tôi đã lên tới đỉnh núi Fujiyama để có thể dâng lên Thiên Chúa Cha vĩnh cửu, từ nơi cao nhấtMount Fuji and Japanese Temple của nước Nhật, của lễ hy sinh là Con Chiên vô tội vì phần rỗi của quốc gia rộng lớn này.

Việc leo núi rất vất vả, vì chúng tôi phải leo vội để tới đích đúng giờ. Nhiều lần chúng tôi đã nghĩ tới chuyện ông Abraham và Isaac lên núi để sát tế. Khi tới đỉnh núi, quang cảnh mặt trời mọc lên tuyệt đẹp, nâng tâm trí chúng tôi lên và chuẩn bị tâm hồn chúng tôi cử hành thánh lễ. Chưa bao giờ chúng tôi được dâng lễ trong những điều kiện như thế. Phía trên chúng tôi là bầu trời xanh trải rộng, trong lành và hùng vĩ như nóc của một đền thờ vĩ đại. Phía dưới, chúng tôi thấy toàn dân Nhật Bản, lúc ấy có khoảng 80 triệu người chưa biết đến Thiên Chúa. Khi chiêm ngắm vòm trời cao xanh, tâm trí tôi vươn đến tận ngai của Đấng Tối Cao, đến tận tòa Chúa Ba Ngôi. Tôi tưởng mình nhìn thấy thành thánh Giêrusalem trên trời: Chúa Giê-su Ki-tô và thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, vị tông đồ đầu tiên của Nhật Bản theo tháp tùng. Chỉ trong vài tháng ở miền Nhật Bản mà tóc thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê đã bạc trắng vì những đau khổ phải chịu.

Đứng trước nước Nhật của thánh Phanxicô Xaviê, tôi cũng đứng trước một tương lai hoàn toàn mù mịt. Nếu lúc đó tôi biết được những đau khổ tôi sẽ phải chịu, thì khi nâng tấm bánh lên, có lẽ đôi bàn tay tôi sẽ run biết chừng nào! Trên đỉnh núi rất gần trời này, tôi cảm thấy hiểu rõ sứ mạng mà Chúa Giê-su trao phó cho tôi hơn. Tôi xuống núi với một niềm hoan lạc mới. Thánh Thể đã giúp tôi cảm nghiệm được Thiên Chúa toàn năng hằng hữu và là Chúa Tể càn khôn. Tôi nhận ra mình là người phụ tá, người cộng sự của Chúa Giê-su Ki-tô trong sứ mạng cứu chuộc cao cả mà Thiên Chúa Cha đã trao phó cho Ngài. Với lòng xác tín chân thành, tôi có thể lặp lại lời ngôn sứ Isaia: “Này con đây, xin hãy sai con” (Is 6,8) hay lời của thánh Phanxicô Xaviê: “Vâng, xin hãy sai con”.

Tin Mừng kể lại cho chúng ta chính Chúa Giê-su đã lên núi cùng với các môn đệ và đã biến hình trước mặt họ (Mt 17,1 tt). Bản thân tôi cũng không muốn xuống núi nữa, để có thể hưởng nếm những giây phút và chia sẻ ước muốn mà thánh Phê-rô đã nghiệm thấy: “Chúng ta ở đây thì hạnh phúc lắm! Nếu Thầy muốn, con sẽ dựng ba lều: một cho Thầy, một cho Môisê (Bạn đồng hành của tôi cũng mang tên này Mô-sê Domenzain), và một cho Elia” (Mt 17,4). Chúa Giê-su đã làm cho thánh Phê-rô tràn ngập niềm vui và thán phục đến nỗi sấp mình xuống mà thờ lạy Chúa ( Mt 17,6). Chính Chúa Giê-su này đã hiện ra với tôi trong cảnh tuyệt dịu của Thánh Thể: tấm bánh đã thánh hiến được mặt trời bình minh chiếu sáng như hiển dung trước mắt tôi và tôi cũng nghe thấy lời của Thiên Chúa nói với thánh Phê-rô “Đừng sợ!” (Mt 17,7). Tôi cần lời này biết bao, khi xuống khỏi ngọn núi cao để trở về với cuộc sống đang chờ đợi tôi ở Nhật Bản vào những năm đó. Chỉ trong một thánh lễ thôi, thế mà Chúa đã có thể dạy dỗ và cho tôi cảm nghiệm biết bao nhiêu điều!

Tôi xin kể một kinh nghiệm khác về Thánh Thể. Đó là một thánh lễ được cử hành trong một hoàn cảnh khác hẳn mọi lần, nhưng đã dạy cho tôi biết, qua con đường huyền nhiệm của đau khổ, Chúa Giê-su đã chịu khổ hình và chịu chết để có thể thực hiện ý định cứu độ của Ngài.

Trái bom nguyên tử nổ ra vào lúc 8 giờ 10 phút, sáng ngày mồng 6 tháng 8 năm 1945.ATOMIC B3


Nó biến cả thành phố Hi-rô-shi-ma thành tro bụi và giết chết 80.000 người cùng một lúc. Ngôi nhà của chúng tôi là một trong những ngôi nhà chưa bị sụp đổ, nhưng ở trong một điều kiện hết sức tồi tàn: không còn cửa ra vào, các cánh cửa đã bị cơn gió cực mạnh tạo ra do vụ nổ, cuốn đi hết. Chúng tôi chuyển sang ở bệnh viện, nơi tiếp đón, chăm sóc và giúp đỡ cho 200 nạn nhân.

Ngày hôm sau, mồng 7 tháng 8, vào lúc 5 giờ sáng, tôi đang dâng thánh lễ ở nhà, trước khi bắt đầu công việc cứu giúp những người bị thương và chôn cất những người chết. Trong những giây phút càng bi thảm, người ta càng gần Thiên Chúa hơn, người ta càng thấy cần thiết phải giúp đỡ nhau, khung cảnh thực không thích hợp cho việc sốt sắng thánh lễ. Nhà nguyện thì một nửa đã bị phá hủy, chật ních những người bị thương nằm chen chúc nhau trên mặt đất. Họ đau khổ ghê gớm và quằn quại vì đau đớn. Tôi bắt đầu dâng lễ như tôi có thể, giữa đám người không có chút ý niệm về những gì diễn ra trên bàn thờ: họ là những người ngoại đạo chưa bao giờ tham dự thánh lễ.

Tôi không thể nào quên được cái cảm giác bàng hoàng khi quay lại phía họ để chúc: ATOMIC B5

“Chúa ở cùng anh chị em” (hồi đó, các linh mục làm lễ quay mặt lên bàn thờ) và tôi cảm thấy cảnh tượng này của bàn thờ. Không thể cử động được nữa, tôi đứng như người bất toại, hai tay dang ra, nhìn ngắm tấm thảm kịch này của nhân loại: kiến thức loài người, tiến bộ kỹ thuật đã được dùng để hủy diệt con người. Tất cả họ nhìn tôi, với cặp mắt đầy lo lắng và thất vọng, như thể chờ đợi một sự an ủi nào đó đến từ bàn thờ. Cảnh tượng thật hãi hùng! Vài phút sau, Đấng mà thánh Gio-an Tẩy Giả đã nói: “Ở giữa anh em có một Đấng mà anh em không biết”, ngự xuống bàn thờ.

Chưa bao giờ tôi cảm nhận được sự cô độc của những người không biết Chúa Giê-su Ki-tôATOMIC B1
như lúc ấy. Cứu Chúa của họ đang hiện diện ở đó. Đấng đã hiến mạng sống cho họ… nhưng họ lại không biết “Không biết Ngài ở giữa họ” (Ga 1, 26). Lúc đó, chỉ có tôi biết Ngài. Tự nhiên tôi thốt lên lời nguyện cầu cho những kẻ tàn ác dã man đã ném bom nguyên tử: “Lạy Chúa, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”, và cho những người nằm xoài trước mặt tôi đang quằn quại vì đau đớn: “Lạy Chúa, xin ban cho họ niềm tin để họ thấy và xin ban sức mạnh để họ chịu đựng đau khổ”. Khi nâng tấm bánh lên trước mặt những thể xác đầy thương tích và rách nát này, tôi kêu lên tự đáy lòng: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa Con, xin thương xót đoàn chiên không có chủ chăn này!” (Mt 9, 36; Mc 6, 34). “Lạy Chúa, để họ tin vào  Chúa, xin hãy nhớ họ cũng là những người cần phải nhận biết Chúa” (1 Tm 2, 4).

Những dòng thác ân sủng chắc chắn đã tuôn chảy từ tấm bánh và bàn thờ. Sáu tháng sau, khi đã được chữa lành, tất cả đã từ giã nhà dòng chúng tôi (chỉ có hai người đã chết ở đó), nhiều người trong số họ đã lãnh nhận bí tích rửa tội. Tất cả họ đều nhận ra đức ái Ki-tô giáo thì thông cảm, giúp đỡ, đem lại niềm an ủi vượt trên mọi nâng đỡ con người. Đức ái thông truyền bình an, giúp cho ta tươi cười trong đau khổ, và tha thứ cho những người đã gây bao đau khổ cho ta.ATOMIC B2

Những Thánh Lễ như thế là những trực giác sống động về Thánh Thể, giúp ta hiểu được giá trị của đau khổ, sự cao cả và vẻ đẹp của hy sinh vì đức ái, điều mà không có niềm tin chúng ta không thể hoặc khó có thể hiểu được.

 

Mời quý vị đón xem kỳ 6:

CHÚA GIÊ-SU NGƯỜI BẠN VÀ ĐẤNG AN ỦI”

Phụ trách,

Augustin Nguyễn Thái Hiệp, S.J.

 
Thuộc về mục: Tác Phẩm, Đức Tin và Người Trẻ
 
Bài mới hơn
  •  
    Bài cũ hơn
  • .

    Để lại lời bình