Thánh Giuse và Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể (Mt 1, 1-25)

THÁNH GIUSE
Bạn Trăm Năm Đức Maria

Bài 1

Thánh Giuse và Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể
(Mt 1, 1-25)

Thánh Giuse thường chỉ được nhìn ngắm trong phạm vi của Thánh Gia, cụ thể là trong tương quan « gia đình » với Đức Maria và Đức Giêsu. Nếu như thế và theo cảm thức thông thường, chúng ta có thể nói rằng đó là những tương quan thật ‘xót xa’.

  • Thánh Giuse là « bạn trăm năm » của Đức Maria, nhưng ai trong chúng ta cũng biết là không theo cách thức vợ chồng sống với nhau bình thường. Ngài sống trọn đời với người mình yêu, nhưng, như người ta thường nói đùa mà lại rất thật : « chẳng sơ múi gì ». Có thể nói, ngài như bị Thiên Chúa lấy mất cái quyền bình thường nhưng cao quí của một người chồng và một người cha.
  • Thánh Giuse là « cha nuôi », chứ không phải là cha ruột của Đức Giêsu, trong khi Đức Maria là Mẹ ruột. Ngài như là người chứng kiến bất lực trước một cuộc sinh ra hoàn toàn do Thiên Chúa sắp đặt ; vì thế, bao nhiêu hào quang và vinh dự Đức Mẹ lãnh hết, và hào quang và vinh dự lớn nhất là tước hiệu « Mẹ Thiên Chúa » !

annunciation-to-josephRồi thánh Giuse kết thúc cuộc đời trong thinh lặng, thinh lặng cũng lớn như chính cuộc đời của Ngài. Chỉ có những bộ phim về cuộc đời Đức Giêsu mới nói tới cái chết của thánh Giuse, còn các Tin Mừng và cả Truyền Thống nữa hoàn toàn không nói gì. Và chính trong cách thức đảm nhận những tình cảnh « éo le » như thế, mà người ta cảm nhận được tất cả những nhân đức cao quí của Thánh Nhân : công chính, trong sạch, thầm lặng, lắng nghe, vâng phục, hi sinh, nhẫn nại, chịu thương chịu khó, khiêm tốn, hiền lành, khôn ngoan, trung tín, cần cù, tận tụy… ; chắc chắn là vẫn chưa hết, chẳng hạn đức ái, tỉnh thức và cầu nguyện[1].

Thánh Cả Giuse rạng ngời bởi các nhân đức và không ngừng nêu gương cho chúng ta bằng các nhân đức, được khám phá không ngừng theo dòng thời gian và tùy theo bối cảnh. Tuy nhiên, những gì mà Tin Mừng Mát-thêu muốn nói cho chúng ta về thánh Giuse vượt xa bình diện các nhân đức và mời gọi chúng ta nhận ra và chiêm ngắm đức công chính đích thực của Thánh Giuse và tầm mức sứ mạng mà ngài được Thiên Chúa mời gọi đảm nhận trong kế hoạch cứu độ.

*  *  *

Thật vậy, ngay trang đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Matthêu (Mt 1, 1-17), thánh Giuse đã được định vị như điểm tới, hay ít nhất như là tên gọi cuối cùng, của cả một gia phả lớn lao diễn tả lịch sử cứu độ, khởi đầu với tổ phụ Abraham :

Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này (c. 2)…

Gia-cóp sinh Giuse, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô (c. 16)

Và gia phả này là gia phả hay chính xác hơn là « nguồn gốc » của Đức Giêsu Kitô, Con vua Đavít, Con tổ phụ Abraham : « Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham danh ». Như thế, chính nhờ sự hiện diện của thánh Giuse mà ba Thánh Danh « Abraham – Đavít – Giêsu » được kết nối, và như thế, làm cho lịch sử cứu độ được hoàn tất. Tin Mừng theo thánh Luca kể lại việc mang thai và sinh ra « Con Thiên Chúa », bởi Đức Trinh Nữ, còn Tin Mừng theo thánh Mát-thêu tường thuật lại việc sinh ra của Đấng Messia, « Con vua Đavít », ngang qua sự ưng thuận, nghĩa là lời « xin vâng » trong tự do và hoàn toàn vô điều kiện, của thánh Giuse. Chúng ta được mời gọi chiêm ngắm tiên vàn một Thánh Giuse như thế đó.

Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, không chỉ được sinh ra bởi lời « xin vâng » của Đức Trinh Nữ Maria, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, nhưng còn được « sinh ra » từ một dân tộc, bởi lời « xin vâng » của Thánh Giuse. Vậy, dân tộc mà Đức Ki-tô thuộc về là dân tộc nào ? Và Thánh Giuse đã lắng nghe và ưng thuận lời mời gọi của Đức Chúa như thế nào ?

 I. Gia phả Đức Giê-su Ki-tô

Đi theo Đức Ki-tô trong ơn gọi gia đình hay nhất là trong ơn gọi dâng hiến phát xuất từ và đặt nền tảng trên kinh nghiệm hiểu biết và yêu mến Người ; như chính Người đã hỏi Phê-rô: “con có yêu mến Thầy không?”, rồi sau đó Người mới mời gọi: “Hãy theo Thầy” (x. Ga 21, 15-19). Và ơn gọi của thánh Phê-rô là khuôn mẫu của mọi ơn gọi.

Nhưng để tìm hiểu Đức Ki-tô, chúng ta nên bắt đầu từ đâu và giai đoạn nào ? Cũng tương tự như tìm hiểu một người, chúng ta phải trở về « nguồn gốc » của Ngài. Nói về nguồn gốc, chúng ta nghĩ ngay đến hành trình từ trời xuống thế, nghĩa là nguồn gốc theo chiều dọc trực tiếp từ Thiên Chúa, như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính : « Người đã từ trời xuống thế ». Nhưng các Tin Mừng trình bày cho chúng ta một nguồn gốc khác, theo chiều ngang, đó là bản gia phả, hay nguồn gốc của Đức Ki-tô, vì Ngài cũng là Con của Con Người, như sau này Ngài thích tự xưng như thế, và nhất là Ngài có sứ mạng « mang lấy các bệnh hoạn tật nguyền » của loài người và của từng người chúng ta. Và ở chiều kích nhân loại, Thiên Chúa cũng vẫn là ngọn nguồn, bởi vì loài người xuất phát từ Adam và Adam là con Thiên Chúa (Lc 3, 38) !

Đức Ki-tô vừa có nguồn gốc trực tiếp từ Thiên Chúa, vừa có nguồn gốc từ một dân tộc như chúng ta, và vừa có cùng nguồn gốc với chúng ta. Giống như mỗi người chúng ta : vừa thuộc về một dân tộc, vừa thuộc về loài người, được Thiên Chúa tạo dựng. Tại sao Đức Ki-tô có hai nguồn gốc ? Đó là để mang lấy, đem lại ý nghĩa và dẫn tới hoàn tất, với tư cách – và chỉ có thể với tư cách này – là Ngôi Lời Thiên Chúa, được sinh ra từ thủa đời đời.

*  *  *

Bản gia phả, dịch sát nghĩa là « cuốn sách về nguồn gốc » : « Gia phả của Đức Giêsu Kitô, con vua Đavít, con tổ phụ Abraham ». Một bản gia phả luôn luôn là khô khan, xa lạ và đều đặn (theo nghĩa là người này sinh ra người kia). Nhưng nếu chúng ta chịu khó dừng lại để suy niệm, chúng ta sẽ khám phá cả một lịch sử sống động ở bên dưới hàng chuỗi những tên gọi, thậm chí cưu mang những tên gọi. Khi đó, chúng thấy mình thật gần gũi và có thể cảm nếm được ; bởi vì, Đức Ki-tô cũng phát xuất từ một lịch sử đầy thăng trầm như chúng ta và còn hơn thế nữa cùng « nguồn gốc » với chúng ta : Đức Ki-tô là con Adam, và Adam là con Thiên Chúa (x. Lc 3, 23-38).

 1. Mầu nhiệm Nguồn Gốc của Đức Giê-su Ki-tô

Ngay câu đầu tiên của bản văn, cũng là câu đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, đã mở ra cho chúng ta một chân trời rất rộng: “Cuốn sách về nguồn gốc của Đức Giêsu Kitô”, vì câu này làm chúng ta nhớ một câu khác trong sách Sáng Thế: « Cuốn sách nguồn gốc của Adam » (St 5, 1). Điểm khác nhau : trong Sáng Thế, đó là gia phả con cháu Adam ; trong trình thuật Tin Mừng, đó là gia phả tổ tiên của Đức Giêsu. Như thế, trình thuật Tin Mừng mời gọi chúng ta nhận ra Đức Ki-tô là Adam mới, Ngài làm cho tất cả những gì xẩy ra trước Ngài, và tất cả những gì xẩy ra sau Ngài trở nên có nghĩa.

Sứ điệp ở đây không phải là tương quan máu huyết ; nhưng là Đức Kitô, ngang qua cuộc sống của mình, và nhất là với Mầu Nhiệm Vượt Qua, sẽ thực sự đảm nhận lịch sử cụ thể của loài người và của từng người để đưa tới đích, là sự sống trong Thiên Chúa. Như thế, lịch của loài người, của từng dân tộc, của từng người trở nên có ý nghĩa và có hướng đi.

  • Nguồn gốc Thiên Chúa : Tin Mừng Mác-cô không nói đến gia phả của Đức Giêsu, và cũng không tường thuật thời thơ ấu của Đức Giêsu, nhưng lại mở đầu Tin Mừng với câu : « Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa », tương tự như Tin Mừng Gioan : « Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa » (Ga 1, 1).
  • Nguồn gốc Con Người : Còn Tin Mừng Mát-thêu khẳng định ngay từ đầu : « Đức Giêsu Kitô, con của Đavít, con của Abraham ». Đức Giêsu là người con của một dân tộc cụ thể, như tất cả mọi người chúng ta. Tin Mừng Luca sẽ đưa Đức Giêsu đi xa hơn : Đức Giêsu Kitô là con của Adam và Adam là Con Thiên Chúa. Như thế, Đức Giêsu là con Thiên Chúa không chỉ từ thủa đời đời, nhưng Ngài là Con Thiên Chúa ngang qua Ông Bố của cả loài người chúng ta. Ngài còn là người con của Nhân Loại, là « Con của Người », là danh xưng mà Ngài rất thích dùng.

2. Đức Ki-tô thuộc về một lịch sử đầy những thăng trầm

Thời các tổ phụ đầy trắc trở về mọi mặt ; thời sinh sống và rốt cuộc trở thành nô lệ bên Ai Cập ; thời thử thách trong sa mạc ; thời lập quốc đầy chiến tranh loạn lạc, thời hoàng kim của Đa-vít và Salomon, nhưng mau lụi tàn bởi sự chia rẽ Bắc Nam ; thời lưu đầy bi đát, thời hậu lưu đầy thật ảm đạm với cảnh bị các đế quốc thay phiên nhau đô hộ[1]. Vậy mà, lịch sử dân tộc của Đức Giêsu vẫn có một cấu trúc cân đối một cách hoàn hảo : 14 – 14 – 14 ! (14 là hai lần 7). Chúng ta hãy dừng lại « đọc và cầu nguyện » với từng giai đoạn của bản gia phả.

Giai đoạn 1 : Đa-vít là đỉnh cao, vì Đa-vít điểm tới của lịch sử các tổ phụ Abraham, Isaac, Giacop và Giuse, và đồng thời Đa-vít chuẩn bị cho thời kì sụp đổ sau đó. Abraham được hứa ban cho vô điều kiện một dòng dõi. Đa-vít, người con của Abraham cũng nhận được cùng một lời hứa và cũng vô điều kiện : ngai vàng vĩnh viễn dành cho một trong những người con của nhà vua (Tv 72,17 ; Tv 47, 10), và mọi dân tộc sẽ đến qui tụ chung quanh ngai vàng Đa-vít. Trước đó, Đức Chúa cũng tuyên bố điều tương tự dành cho Abraham : Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi ; ai nhục mạ ngươi Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên trên mặt đất sẽ được chúc phúc » (St 12, 3). Như thế, vua Đa-vít sẽ mang lại sự hoàn tất hoàn hảo cho lời hứa dành cho Abraham.

Giai đoạn 2 : Tuy nhiên, trong thực tế, kết thúc phần 2 của gia phả là biến cố lưu đày ; với biến cố này, mọi điều tốt đẹp của lời hứa đều tan biến hết : đền thờ, đất đai, ngai vàng. Đất nước rơi vào tay người Babylon.

Giai đoạn 3 : Giai đoạn này là thời gian hậu lưu đày ở Babylon, dân tộc vẫn phải sống lệ thuộc vào người Ba Tư, tiếp theo là người Hy Lạp và sau cùng là người Roma. Giai đoạn này kéo dài khoảng 6 thế kỉ. Như thế, Gia phả của Đức Giêsu theo cách nhìn của thánh sử Mát-thêu, từ thời lưu đày cho đến Giuse và Đức Giêsu, vẫn có một vai trò, một ý nghĩa đối với dân tộc của Đức Giêsu. Cho dù trong thực tế, chẳng còn gì là sôi nổi, thậm chí bị mất hút nữa. Có thể nói lịch sử (theo nghĩa những biến cố đáng lưu tồn) đã dừng lại với thời hậu lưu đày. Kinh Thánh có rất ít trình thuật về thời này. Tuy nhiên khoảng trống này lại được lấp đầy bởi sự chờ đợi, chờ đợi đến tận cùng, khi mà chẳng còn gì để hy vọng (trường hợp các bà Sara, Elisabeth…). Lời nguyện của rất nhiều Thánh Vịnh diễn tả sự chờ đợi tận căn này : « Tôi đã tin cả khi mình đã nói : ôi nhục nhã ê chề… » (Tv 116B ; Tv 42-43 ; Tv 106).

Đức Giêsu đến không chỉ đến để hoàn tất lời hứa được ban cho Abraham và Đa-vít, nhưng còn đi vào trong khoảng không gian của đợi chờ (nhưng không vì thế mà Ngài đóng lại, vì chúng ta vẫn sống trong « Mùa Vọng » lớn, được Giáo Hội cử hành hằng năm). Và Ngài sẽ đi vào sự chờ đợi trong đắng cay một cách thật sự : « Đấng Kitô phải chịu đau khổ nhiều bởi những kẻ tội lỗi », để định hướng, mang lại ý nghĩa, niềm hi vọng và dẫn đưa tới sáng tạo mới.

3. Và đầy tội lỗi

Hơn nữa dân tộc này cũng đầy tội lỗi như bao dân tộc khác. Hiển nhiên, các ông là những tội nhân, nhất là vua Đa-vít, một khuôn mặt tượng trưng cho lời hứa. Còn các bà thì sao ? Cả gia phả qui mô như thế, chỉ có bốn người mẹ được nêu danh, nhưng cả bốn đều « nổi tiếng » :

  • Bà Ta-ma, phạm tội loạn luân với bố chồng (c. 3; St 38)
    • Bà Ra-kháp, là cô gái đứng đường đất Canaan (c. 5; Gs 2)
    • Bà Ruth gốc Moab, nghĩa là dân ngoại (c. 5; Rt 4, 12-22)
    • Và bà Bátseva, vợ của tướng Uria, phạm tội ngoại tình với vua Đa-vít (c. 6 ; 2 Sm 11).

Khám phá này làm cho chúng ta thật an ủi: Đức Giêsu bén rễ trong tội của dân tộc Ngài, dân tộc mà Ngài sẽ cứu vớt (Mt 1, 21) ; và cách Ngài cứu sẽ rất lạ lùng : Ngài sẽ mang lấy vào thân mình ngang qua dân tộc này, tội lỗi của tất cả mọi người : « Ngài đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta » (Mt 8, 17 trích Is 53, 4). Và chính trong một lịch sử như thế mà Thiên Chúa làm trào vọt những điều lạ lùng, trào vọt ra Thánh Gia (Thánh Giuse, Đức Maria và Đức Giêsu), trào vọt ra ơn cứu độ.

Là Ki-tô hữu, chúng ta đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, ơn gọi gia đình, dâng hiến hay độc thân; và ơn gọi của chúng ta cũng được Thiên Chúa chuẩn bị từ xa, và cũng bằng những nẻo đường rất bình thường và cũng rất đời thường, và với cả những sai lầm tội lỗi nữa (chẳng hạn tội, của các anh đối với người em Giuse, trong sách Sáng Thế). Nhớ lại và suy đi nghĩ lại trong trong lòng để nhận ra “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136), được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta sẽ có sức mạnh để yêu mến và dấn thân bền vững hơn, theo gương của Đức Maria và Thánh Cả Giuse.

II. Lời « xin vâng » của Thánh Giuse

St_Joseph_the_WorkerTên của Thánh Giuse được định vị, có thể nói, ở ngay vị trí trung tâm của tương quan giữa lịch sử cứu độ và Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể, như chúng ta vừa trình bày ở phần trên. Tuy nhiên, vai trò lớn lao này của Thánh Giuse lại bắt đầu bằng một biến cố thật hạn hẹp, thật nhỏ bé, thật khiêm tốn, thật âm thầm và kín ẩn, đó là biến cố Truyền Tin cho Thánh Giuse. Nhỏ bé và âm thầm, nhưng đó chính là một kinh nghiệm thiêng liêng làm thay đổi cuộc đời của Thánh Giuse và của lịch sử cứu độ. Và đó cũng là như thế đối với lời « xin vâng » nhỏ bé và âm thầm của chúng ta.

Trình thuật truyền tin cho Thánh Giuse mở đầu bằng ý định lìa bỏ, hay đúng hơn « lui lại phía sau » (c. 18-19) và kết thúc với quyết định đón nhận (c. 24-25) ; và như thế trung tâm của trình thuật là Lời Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa được chuyển đạt ngang qua trung gian sứ thần (c. 20-22) và Lời Thiên Chúa đến từ Kinh Thánh (c. 22-23).

(A)  Ý định lìa bỏ (c. 18-19).

(B) Lời Thiên Chúa (c. 20-23).

(A’) Quyết định đón nhận (24-25).

1. Ý Định “lui lại phía sau” (c. 18-19)

Người ta thường hiểu đức công chính của Thánh Giuse là đức công chính theo Lề Luật, bởi lẽ ngài quyết định từ bỏ vị hôn thê của mình, vốn có thai trước khi về nhà chồng; nhưng ngài cũng là người nhân từ, nên không muốn làm to chuyện mà chỉ hành động cách kín đáo mà thôi. Tuy nhiên cách hiểu này hướng chúng ta đến nhân đức cá nhân của Thánh Giuse, trong khi tác giả Tin Mừng lại muốn bày tỏ cho chúng ta vai trò lớn lao của Thánh Giuse trong lịch sử cứu độ.

Thật vậy, trình thuật Tin Mừng theo thánh Mát-thêu có sứ điệp chính yếu liên quan đến vai trò của Thánh Giuse. Nếu quyền năng của Thánh Linh làm cho việc thụ thai đồng trinh xẩy ra, thì thánh Giuse vẫn có một sứ mạng phải đảm nhận. Và đức công chính của thánh nhân được thể hiện ngang qua cung cách ngài đảm nhận sứ mạng này. Ngài là người công chính, không phải vì tuân giữ thật nhiệm nhặt Lề Luật, vốn cho phép li dị trong trường hợp ngoại tình, cũng không phải vì tỏ ra quá nhân từ đối với Đức Maria, cũng không phải vì lẽ công bằng mà ngài phải thực hiện đối với vị hôn thê vô tội, nhưng trong mức độ ngài nhận ra và tôn trọng sự hiện diện và hành động nhiệm mầu của Thiên Chúa nơi Đức Maria; vì thế, ngài không muốn âm thầm tự biến mình trở thành cha của Con Trẻ thần linh như không có chuyện gì. Nếu ngài sợ rước Đức Maria về nhà, đó không phải là vì động lực tính toán hơn thiệt, nhưng vì ngài khám phá ra một “nhiệm cục” lớn hơn nhiệm cục hôn nhân mà ngài đang dự kiến. Thánh Giuse thận trọng “lui lại phía sau” trong sự tinh tế của đức công chính mà ngài nỗ lực thể hiện đối với Thiên Chúa, và xác tín rằng đó là điều Người muốn, ngài không muốn “phát tán” mầu nhiệm thần linh đang hình thành nơi Đức Maria. Nhưng, Đức Chúa muốn bảo đảm tương lai cho Người Trinh Nữ Ngài đã tuyển chọn và Ngài muốn trao sứ mạng hệ trọng này cho chính Thánh Giuse, và sứ mạng này đã làm thay đổi sâu xa cuộc đời của thánh nhân. Thiên Chúa can thiệp và Thánh Giuse vâng phục. Lời xin vâng rất lặng lẽ nhưng thật lớn lao.

Như thế, sự công chính của Thánh Giuse được thể hiện trong tương quan tinh tế của ngài với chính Thiên Chúa, chứ không phải với Lề Luật, ngang qua ý định “lui lại phía sau” cách âm thầm cũng như qua lời xin vâng quảng đại, và ngài sẽ đảm nhận sự ưng thuận của mình cho đến cùng. Tuy nhiên, ngài luôn đảm nhận với tâm tình “lui lại phía sau”, không phải để thoái thác, nhưng để cho Mầu Nhiệm Ngôi Lời Thiên Chúa và Mầu Nhiệm Mẹ Thiên Chúa được rạng ngời. Và khi đến thời gian đã định, Đức Chúa sẽ “chiều theo” lòng ước ao của thánh nhân.

Nhưng trên hết, nơi đức công chính của Thánh Giuse, và một Thánh Giuse được định vị trong lịch sử cứu độ, chúng ta sẽ khám phá ra rằng đó còn là và nhất là đức công chính mà Thiên Chúa ban cho ngài. Bởi vì, ngài đã được Thiên Chúa chọn và chuẩn bị cách nhưng không từ trước muôn thủa để cộng tác vào kế hoạch cứu độ.

2. Lời Thiên Chúa (c. 20-23)

a. Sứ thần báo mộng

Thánh Giuse được mời gọi cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và nhất là vào tiến trình Nhập Thể của Con Thiên Chúa, nhưng ngài lại nghe được tiếng gọi đảm nhận sứ mạng lớn lao này ngang qua những giấc mơ nhỏ bé và âm thầm của Ngài ; bốn biến cố khúc quanh trong giai đoạn đầu của mầu nhiệm Nhập Thể ứng với bốn giấc mơ của Thánh Giuse: trước khi ngài đón Đức Maria về chung sống, đưa gia đình đi trốn sang Ai Cập, đưa về quê hương và cuối cùng đưa đến lập nghiệp ở Nazareth (Mt 1, 20 ; 2, 13.19.22). Phải chăng đó là vì khi nằm mơ, con người chúng ta trở nên yếu ớt nhất, ít kháng cự nhất đối với ý muốn của Thiên Chúa? Nếu đúng như thế, các giấc mơ có thể được hiểu như một ngôn ngữ diễn tả sự ưng thuận trọn vẹn của Thánh Giuse đối với ý muốn của Thiên Chúa. Sự ưng thuận đến quên mình.

Chúng ta không thể không so sánh sự ưng thuận này với lời “xin vâng” của Đức Maria; và chúng ta có thể nhận ra rằng sự ưng thuận của Thánh Giuse thật là tuyệt đối! Để Ngôi Lời nhập thể, Thiên Chúa cần hai lời xin vâng chứ không phải một.

b. Sứ mạng của Thánh Giuse

Thực vậy, sứ thần đến xác chuẩn nguồn gốc thần linh của con trẻ đang được hoài thai trong cung lòng Đức Maria, đồng thời mời gọi Thánh Giuse đón nhận sứ mạng; sứ mạng này gồm hai bước: đón nhận Đức Maria vào nhà mình và đặt tên cho Người Con. Ngoài ra, sứ thần còn kết nối mầu nhiệm Nhập Thể với lịch sử cứu độ, được diễn tả bởi bản Gia Phả, ngang qua lời Kinh Thánh: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Is 7, 14).

Thiên Chúa cần sự cộng tác của Thánh Giuse, vì Ngôi Lời sinh ra vẫn chưa đủ, cho dù đây là cuộc sinh ra lạ lùng về khía cạnh sinh học. Bởi vì Ngài còn phải hội nhập vào một gia tộc và một dân tộc với một lịch sử và một nền văn hóa đặc thù ; qua đó, Ngài mang lấy « thân phận con người ». Để có được chiều kích nền tảng này của mầu nhiệm nhập thể, Con Thiên Chúa cần một người đàn ông nhận mình làm con một cách tự do. Thật vậy, khi đón nhận Mẹ Maria và hoa trái trong lòng Mẹ, Thánh Giuse làm cho Người Con đi vào trong dòng tộc Đavít, nghĩa là đi vào lịch sử và nền văn hóa của một dân tộc; và khi đặt tên, ngài nhận Con Trẻ làm con của mình một cách chính thức. Vì thế, khi loan báo, thiên thần đã gọi Thánh Giuse một cách long trọng: “ông Giuse, con vua Đavít”.

Chúng ta hãy hình dung ra tình cảnh một em bé được sinh mà không có cha, và tình cảnh này không hề hiếm thấy trong xã hội chúng ta hôm nay. “Có cha” ở đây không theo nghĩa sinh học (vì ai mà chẳng có cha theo nghĩa sinh học), như chúng ta vẫn hiểu như thế khi nói: em bé sinh ra không cha; nhưng theo nghĩa là phải có ai đó nhìn nhận và đưa vào trong một tương quan gia đình, gia tộc, dân tộc (với một lịch sử và một nền văn hóa) và qua đó tương quan gia đình nhân loại.

Cũng như Đức Maria, Thánh Giuse đã can đảm để cho Đức Giêsu đến với lịch sử nhân loại và thế giới con người cách thực sự và trọn vẹn ngang qua cuộc đời nhỏ bé của mình. Thánh Giuse không sinh ra Đức Giêsu, nhưng ngài đã cưu mang thực sự Đức Giêsu trong những tháng năm dài để làm cho ngài lớn lên và đi vào lịch sử (cá nhân, nhóm, dân tộc và cả nhân loại). Phải chẳng đó cũng là sứ mạng của mỗi người chúng ta?

3. Quyết định đón nhận (c. 24-25)

Nhận một trinh nữ mang thai về nhà, rồi sau đó đặt tên cho em bé, đó là một việc thật giới hạn trong không gian và thời gian. Nhưng ý nghĩa của hành động này thật lớn lao, vì Thánh Giuse sẽ làm cho Con Trẻ mới sinh trở thành “Con Vua Đavít”, một tước hiệu có tính quyết định trong sứ mạng của Đức Giêsu, và nhất là trở thành Đấng Emmanuel, Thiên Chúa-Ở-Cùng-Chúng-Ta. Quả vậy, sau này, Đức Giêsu sẽ có một tương quan mật thiết từ rất sớm với Chúa Cha, được diễn tả trong trình thuật ở lại Đền Thờ theo Tin Mừng Luca (Lc 2, 49) và trở nên một với Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9). Nếu như thế, chúng ta phải coi trọng hình ảnh đầu tiên về người cha mà Đức Giêsu có được trong ý thức của mình; và hình ảnh này chỉ có thể là « bố Giuse » của Đức Giêsu.

 *  *  *

Sứ mạng lớn lao như thế, nhưng trong thực tế, Thánh Giuse chỉ nhận được mỗi tước hiệu “Cha Nuôi” của Đức Giêsu! Cái nhìn của chúng ta về Thánh Giuse bị chi phối nặng nề bởi bình diện sinh học, hay nói một cách trí thức hơn, bình diện bản tính. Chúng ta phải vượt qua cái nhìn sinh học, máu mủ huyết thống. Bởi vì yếu tố quyết định trong tương quan của Thánh Giuse và Thánh Gia là sự lựa chọn tự do. Và đó chính là tương quan của Nước Trời : do bởi Tinh Yêu tự do nhưng không, chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa ; vì thế, chúng ta được mời gọi nhìn nhận nhau là anh chị em của nhau, theo cách thức Đức Giêsu đón nhận mỗi người chúng ta. Thánh Giuse đã không nghe đuợc câu nói này của Đức Giêsu : « Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em, là mẹ tôi » (Mc 3, 35), nhưng ngài đã sống trọn vẹn điều này trước đó thật lâu. Có thể nói chắc chắn rằng, trước khi công bố lời này, Đức Giêsu đã kinh nghiệm được tương quan mới mẻ này nơi Thánh Giuse. Như thế, lý do tận cùng của sự kiện Thánh Giuse là « bố » của Đức Giêsu, « bố đích thực », chính là vì ngài đã thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

Tháng Kính Thánh Giuse 2014
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



[1] Khi vua Salômon chết, năm 930, vương quốc bị phân chia ra làm hai : phía nam, vương quốc Giu-đa, thủ đô là Giêrusalem; phía bắc là vương quốc Israel, thủ đô là Tirsa, sau đó là Samaria. Vào năm 722, người Assyria thôn tính vương quốc Israel. Năm 587, Giêrusalem bị phá hủy và người Juda bị đưa đi lưu đày ở Babylon. Năm 539, vua Perse, là Cyrus chinh phục Babylon. Người Do Thái dần dần được trở về lập cư quanh Giêrusalem, nhưng sống dưới sự thống trị của người Perse. Từ năm 333, Alexandre chinh phục vùng Cận Đông và áp đặt nền văn hóa và ngôn ngữ Hy Lạp. Từ năm 63, người Roma chiếm cứ vùng Cận Đông và vua Hêrôđê cai trị từ năm 40 đến 4, trước công nguyên (xem Étienne Charpentier, Pour lire l’Ancien Testament, Paris, Editions du Cerf, 1994, trang 22-23).



[1] ĐGM. GB. Bùi Tuần, “Ơn khôn ngoan nơi thánh Giuse”, Công Giáo và Dân Tộc, số 1547, 3-9/3/2006, trang 18-19.

 
Thuộc về mục: Kinh Thánh
 
Bài mới hơn
  •  
    Bài cũ hơn
  • .

    Để lại lời bình