Nguồn gốc dân tộc Việt Nam (tt và hết) – III. Sự phôi thai của dân tộc Việt Nam.

SỰ PHÔI THAI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

(Đào Duy Anh)

Chúng ta đã biết rằng trong thời Tây hán, năm 119 chính sách của nhà Hán đối với dân Lạc Việt là chính sách thả lỏng. Nhưng sau khi Vương Vãng soán vị, sang đời Hán trung hưng thì chính sách nhà Hán đối với các châu quận, riêng về các châu quận mới mở ở xa có chiều thay đổi. Trước kia, quan thứ sử trông nom các châu cứ tháng tám bắt đầu tuần hành rồi đến đầu năm sau trở về kinh đô không ở nhất định tại châu trị. Đến đời Trung hưng thì đặt lệ kê lại các quan thứ sử không phải tự mình về kinh đô tâu việc nữa, từ đó họ phải ở luôn tại trị sở, dẫu có tang cha mẹ cũng không được bỏ chức. Sự thay đổi ấy chứng tỏ rằng nhà Hán muốn các quan thứ sử ở luôn trong châu quận để rõ mọi việc và để kiểm soát các quan thái thú, tức là muốn thắt chặt chính sách đối với các quận vậy.

Ở châu trị, xung quanh quan  thứ sử có các lại viên giúp việc gọi là tòng sự sử; ở quận trị dưới quan thái thú thì có một viên quận thừa để thay mặt thái thú khi mắc việc: xung quanh thái thú thì có các duyên sử chia ra các tào mà làm việc, ví như công tào sử thì trông nom việc lựa chọn người có công lao; mỗi tào lại có các thư tá làm việc giấy má, các quan lại bậc trên giúp việc thứ sử và thái thú có lẽ đều là người Trung Quốc nhưng ở những bậc duyên sử và thư tá thì dùng cả người Trung Quốc và người bản xứ biết chữ.

Tại các quận thì nhà Đông Hán buổi đầu vẫn giữ chức Đô úy, có đô úy thừa giúp việc, để cầm binh đồn trú. Binh lính ấy một phần là người Trung Quốc, một phần là dân bản xứ mới mộ.

Đồng thời với sự thắt chặt chính sách cai trị ở quận Giao Chỉ và Cửu Chân, chúng ta thấy nhà Đông Hán dùng những quan thái thú rất dụng tâm về việc du nhập văn hóa Trung Quốc cho dân bản xứ, nhất là Tích Quang – thái thú Giao Chỉ và Nhâm Diên – thái thú quận Cửu Chân ở đầu đời Hán Trung hưng. Trước kia, các quan thái thú vốn không đụng chạm gì đến việc nội bộ của người Lạc Việt, mà các quan đô úy thì chỉ lo giữ trật tự thôi. Tích Quang là vị thái thú đầu tiên có cái dã tâm đồng hóa dân bản xứ theo Trung Quốc. Người vốn đã bắt đầu làm công việc ấy ngay từ đời Vương Mãng. Có lẽ bấy giờ Tích Quang thấy cuộc loạn ở Trung Quốc, không theo Vương Mãng mà có ý muốn tổ chức bản quận thành một nước nhỏ để làm chủ giang sơn của mình chăng? Lại nhân có nhiều người tôi trung của nhà Hán không thần phục Mãng trốn sang Giao Chỉ, Tích Quang dung nạp hết và nhờ họ giúpsức trong việc khai hóa nhân dân. Sử chép rằng Tích Quang dạy cho dân Giao Chỉ cày cấy, biết đội mũ đi giày, đặt phép mối lái cho họ biết hôn thú, lại lập các học hiệu. lấy lễ nghĩa mà dạy dân (Hậu hán thư, quyển 116). Sang đời Trung Hưng, vua Quang Vũ dùng luôn Tích Quang là người trưởng lại có tư cách rất thích hợp với chính sách cai trị mới của nhà Đông Hán.

Sau Tích Quang, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân cũng hết sức khai hóa cho dân bản xứ. Sử chép rằng Nhâm Diên dạy cho dân cày cấy ruộng bằng trâu bò, dùng điền khí, và khai khẩn đất hoang, cùng là dạy cho dân biết lễ giá thú, khiến các trưởng lại phải giúp tiền cho những người nghèo để họ kết hôn được (Hậu Hán Thư, quyển 186).

Đối với sự khai hóa cải cách của các quan thái thú ấy, hàng quý tộc phong kiến bản xứ (các lạc tướng và bố chính) tất cũng hoan nghênh nhiều điều, ví như phép canh tác, sự học hành, nhưng hẳn cũng có nhiều điều khiến họ bất bình, ví như việc bắt bẻ tính tự do phóng túng của họ theo lễ giáo mới, bắt họ bỏ những phong tục cố hữu mà theo phong tục Trung Hoa.

Vả chăng kể từ nhà Hán Trung Hưng, người dân lại thấy chính sách các quan thái thú đối với họ lại có bề thắt buộc hơn trước, chính sách bắt buộc ấy đến đời Tô Định thay Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ thì lên tới cực điểm nên họ lại thêm bất bình. Hơn nữa, xung quanh dinh thứ sử và thái thú , bấy giờ đều ở Liên Lâu trong quận Giao Chỉ, số thuộc lại người bản xứ một ngày một đông, mà đồng thời, số quân điền trú ở Liên Lâu từ năm Kiến Vũ thứ 6 (tức năm 39 scn) tuy bổ chức đô úy nhưng quân đồn trú lại giao cho thái thú giữ, ngoài một số ít là người Trung Hoa, còn lại là người bản xứ cả. Hai hạng người thuộc lại và đồn binh ấy đã thoát ly hẳn quyền uy của các tù trưởng phong kiến mà theo quan lại Trung Hoa, đó lại là một cớ lớn khiến hạng quý tộc bản xứ bất bình nữa.

Nhưng khi Tích Quang và Nhâm Diên còn ở quận thì chính sách khôn khéo có nhiều ân huệ của họ khiến những mối bất bình không có cơ hội mà bộc phát. Kịp đến khi Nhâm Diên đổi đi quận khác và Tô Định đến thế Tích Quang thì mối oán giận của các nhà quý tộc bản xứ lại tăng lên vì những thủ đoạn tham tàn bạo ngược của các quan  thái thú mới, và chỉ chờ cơ hội là nổ ra. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc.

Trong các nhà quý tộc Lạc Việt thì nhà lạc tướng Mê Linh là danh vọng nhất vì là dòng dõi của lạc vương xưa. Con gái lạc tướng là Trưng Trắc lại là người rất hào hiệp dũng cảm, cho nên quan lại nhà Hán để ý lắm. Con lạc tướng Châu Diên là Thi Sách, chồng Trưng Trắc, tất cũng không phải là người tầm thường, cho nên cũng bị quan lại nhà Hán kiềm chế. Sau khi Tô Định tựu chức hẳn người đã dò biết được sự tình bất bình của các quan quý tộc bản xứ và biết rằng giữa hai dòng họ quý tộc Mê Linh và Châu Diên có quan hệ hộ nhân, thanh thế của họ thêm to; Tô Định ngờ rằng ngoài quan hệ hôn nhân lại còn có cuộc đồng minh về chính trị nữa. Lập tức, Tô Định liệu cách đối phó, bèn toan dùng pháp luật để bắt Thi Sách và Trưng Trắc. Trước tình thế bức xúc ấy, Trưng Trắc bèn cùng chồng và em gái là Trưng Nhị hiệu triệu các đồng chítrong hàng quý tộc bản xứ để dấy nghĩa. Các nhà quý tộc đã sẵn mối bất bình chất chứa nên họ đều hưởng ứng một loạt. Cái mối bất bình của Trưng Trắc bị Tô Định áp bức và mưu giết mất chồng chỉ là mồi lửa để đốt đống rơm chất sẵn, đống rơm ấy tức là mối bất bình chung của giai cấp quý tộc bản xứ đối với chính sách đồng hóa và những thủ đoạn tham tàn của quan lại nhà Hán. Cuộc khởi nghĩa thành công mau chóng dễ dàng lại nhờ ở tinh thần đoàn kết của các quý tộc, mà tinh thần đoàn kết ấy là do một cuộc đào luyện ngấm ngầm trải gần ba thế kỷ nay, bắt đầu từ cuộc thống nhất Lạc Việt của An Dương Vương, trải qua cuộc kháng chiến mười năm với quân Tần và non hai trăm năm sinh hoạt khá tự do dưới sự ước thúc lỏng lẻo của nhà Triệu và Tây hán, đã kết tinh thành cái manh nha của tinh thần dân tộc vậy. Chúng ta có thể nói rằng cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc, về chính trị là tiêu biểu cho sự phản động tinh thần dân tộc mới manh nha đối với sự ức chế của ngoại tộc, mà về mặt văn hóa là tiêu biểu cho sự phản kháng của văn hóa cố hữu đối với văn hóa ngoại lai.

Trong một phạm vi hạn hẹp, chúng tôi không thể thuật lại rõ những chi tiết của cuộc khởi nghĩa ấy. Tôi chỉ xin nhắc rằng theo sử Trung Hoa chép thì tất cả dân Man Lái các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đều hưởng ứng với Trưng Trắc ở quận Giao Chỉ, thế nghĩa là cuộc khởi nghĩa đã lôi cuốn hết dân bản xứ, phần chủ yếu là dân Lạc Việt ở các quận đại khái gồm trong địa bàn của nước Âu Lạc cũ. Trưng Trắc thắng lợi và xưng vương được hai năm . Đầu năm 42, nhà Hán sai viên lão tướng Mã Viện đem quân phản công Trưng Trắc. Ở đây chúng tôi cũng không thể thuật kỹ càng chi tiết của cuộc phản công của mã Viện, chỉ xin nhắc lại vắn tắt rằng Mã Viện tiến binh tới Lãng Bạc (tức là miền làng Yên Phú, tỉnh Bắc Ninh) rồi thẳng tới Tây Vu (miền Cổ Loa) thì bị quân Trưng Trắc kháng chiến kịch liệt. Nhưng giữa năm 43 thì Trưng Trắc phải chạy về Cấm Khê (tỉnh Vĩnh Yên) và rốt cuộc hai chị em phải tự trầm mình ở cửa Hát Giang. Sau hi bình định được quận Giao Chỉ, Mã Viện tiến quân vào Cửu Chân để đuổi theo dư chúng của Hai Bà Trưng do Đô Dương cầm đầu và bình định luôn quận ấy. Thế là cuộc khởi nghĩa của dân Lạc Việt chỉ duy trì được hai năm và rốt cuộc phải thất bại.

Chúng ta cũng có thể hiểu cuộc thất bại ấy do những nguyên nhân chính sau: một là tinh thần dân tộc mới manh nha, tuy buổi đầu có thắng được sự áp bức của các quan lại Trung Quốc cô thế, mà cuối cùng trước sự tấn công hùng hậu của quân đội Mã Viện thì không thể cầm cự nổi mà phải thua; hai là cái văn hóa cố hữu của người Lạc Việt bấy giờ còn chứa nhiều yếu tố sơ khai và bảo thủ, không đủ sức chống lại được văn hóa Trung Hoa đương đầy sinh khí tiến thủ, cho nên rốt cuộc phải thất bại.

Mã Viện là đại biểu cho lực lượng ngoại xâm, mà đồng thời lại là đại biểu cho văn hóa mới sẽ mặc sức tung hoành biển đổi diện mục các xã hội Lạc Việt. Sử chép rằng: “Viện đi qua chỗ nào là đặt quận huyện, xây thành quách, đào sông tưới ruộng. Lại tâu hơn mười việc về luật người Việt khác với luật người Hán và thi hành pháp chế cũ (của người Hán) đối với người Việt để ước thúc họ” (Hậu Hán Thư quyển 54). Câu sách ấy cho chúng ta biết rằng Mã Viện nhận thấy chính sách rộng rãi đối với chế độ phong kiến ở đất Việt rất nguy hiểm cho sự thống trị của nhà Hán, nên xin bỏ chế độ phong kiến mà đặt chế độ huyện để giao cho quan lại Trung Hoa trực tiếp trị dân. Những bộ lạc của các lạc tướng xưa, bấy giờ đổi thành huyện ở dưới quyền cai trị của quan huyện lệnh, đại để là người ngoại quốc. Hạt nào lớn quá, Mã Viện lại chia nhỏ ra cho quan tướng lại có thể trông nom mật thiết được. Về phương diện kinh tế và xã hội, đại khái Mã Viện cùng đem những phương thức của người Trung Hoa mà bắt người Lạc Việt phải theo.

 

Chúng ta có thể xem cuộc kinh lý của Mã Viện là một cuộc cách mệnh. Cũng như mọi cuộc cách mệnh, cuộc cách mệnh này là qui kết của một lịch trình biến chuyển dài chứ không phải là một hiện tượng đột khởi. Chúng ta đã biết rằng ngay đầu thế kỷ thứ 2 tcn, nước Âu Lạc thuộc nhà Triệu, rồi dến cuối thế kỷ ấy lại bị nội thuộc nhà Hán. Dẫu trong suốt hai thế kỷ cho đến đầu kỷ nguyên, người Hán tộc không đụng chạm đến phong tục và chế độ của người Lạc Việt, nhưng sự tiếp xúc ấy đối với người Hán tộc không thể nào không có ảnh hưởng về văn hóa được. Ảnh hưởng cố nhiên càng ngày càng đậm đà , và như chúng ta đã biết, đến đời Tích Quang, Nhâm Diên thì ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa đối với người Lạc Việt đã đi đến chỗ đồng hóa. Cuộc kinh lý của Mã Viện chẳng qua là một cuộc thanh toán bằng võ lực những yếu tố bảo thủ để tạo điều kiện thuận tiện cho cuộc đồng hóa mà thôi.

Chúng ta có thể thấy ngấn tích của lịch trình đồng hóa ấy ở trong những đồ cổ tích đào được ở Đông Sơn. Những đồ trọng yếu đào được là đồ đồng mà nhà khảo cổ học Goloubew đặt vào thế kỷ thứ nhất tức là vào khoảng cuộc kinh lý của Mã Viện. Người ta có thể chia các đồ ấy ra làm ba bộ: bộ thứ nhất gồm những đồ mà chúng tôi nhận là thuần túy Lạc Việt như những trống đồng, lưỡi búa, lưỡi rìu, mũi mác, mũi tên, cái gươm hai lưỡi, những dao găm có hình người, cùng một số đồ trang sức. Trong bộ ấy thì vật đặc biệt tiêu biểu nhất của người Lạc Việt là cái trống đồng, mà ở Đông Sơn chỉ tìm được những thứ nhỏ dùng làm minh khí, nhưng hiện nay còn trống Ngọc Lũ là đại diện vẻ vang.

Bên cạnh những đồ đồng Lạc Việt ấy, người ta nhận thấy một ít dồ của người Trung Hoa đem đến như vài bình kiểu biển hồ, cái dương kiểu nhà Hán và những đồng tiền ngũ thù.

Bộ thứ ba thì gồm những đồ do người Lạc Việt chịu ảnh hưởng của người Trung Quốc mà chế tạo, như cái bình lớn có đường vết khuôn, những miếng giáp đồng, những dao găm, những đồ nửa đồng nửa sắt.

Xét  các đồ ấy thì chúng ta nhận thấy rằng ở giữa thế kỷ thứ nhất, ảnh hưởng của kỹ thuật Trung Hoa đối với Kỹ thuật của người Lạc Việt, tuy đã có ngấn tích nhưng hãy còn mỏng manh, mà kỹ thuật thuần túy Lạc Việt vẫn còn thịnh lắm. Nhưng sau cuộc kinh lý của Mã Viện, chính sách đồng hóa của người Trung Hoa đã được thuận tiện, sự áp bách của văn hóa Trung Quốc ngày càng sâu, cho nên cách non một nghìn năm sau, trong những đồ đào được ở Đông Sơn về đời Tống, chỉ có những đồ gốm của người Trung Hoa, mà đồ đồng của người Lạc Việt thì đã mất hẳn dấu vết.

Về phương diện chủng tộc thì như chúng ta đã biết, người Lạc Việt ở buổi đầu có lẽ còn  mang rất ít yếu tố Mongolois. Có lẽ trải qua hai thế kỷ nội thuộc nhà Triệu và nội thuộc nhà Tây hán đã có sự lai giống sơ sài khiến những yếu tố Mongolois trong cơ cấu chủng tộc của người Lạc Việt thêm lên, song yếu tố Indonesien chiếm phần chủ yếu. Nhưng sau cuộc kinh lý của Mã Viện, sự tạp chủng với người Hán tộc đã đem lại cái kết quả ghê gớm là cách non nghì năm sau cái mặt của người đàn bà về đời Tống đào được ở Đông Sơn[1] đã thành mặt Mongolois, chỉ cái đầu lâu là còn tính chất Indonesien mà thôi.

Cuộc kinh lý của Mã Viện mở đầu cho cuộc đô hộ nặng nề trong hơn một nghìn năm của người Trung Quốc đã có kết quả là biến hẳn chủng tộc và văn hóa của người Lạc Việt, đến nỗi theo bề ngoài người ta có thể nói rằng dân tộc Việt Nam ngày nay về chủng tộc cũng như về văn hóa, khác hẳn với người Lạc Việt xưa. Cuộc kinh lý của Mã Viện thực đã quyết định một cách tàn khốc cái vận mệnh lịch sử của dân tộc ta vậy[2].

Nhưng xét cho kỹ thì chúng ta nhận thấy rằng trong cơ cấu chủng tộc của người đàn bà Đông Sơn về đời Tống là đại biểu cho người Việt Nam khi mới thoát ly Bắc thuộc, yếu tố Mongolois vẫn chưa lấn được hẳn yếu tố Indonesien người Lạc Việt còn duy trì trong hình đầu lâu, đồng thời những tính tình, phong tục, chế độ của người Việt Nam nhất là người bình dân, đến các đời Trần đời Lê, cho đến ngày nay nữa cũng vẫn bày ra những điều đặc biệt khác hẳn với tính tình phong tục, chế độ của người Trung Quốc. Cơ cấu chủng tộc và trạng thái văn hóa của người Việt Nam sau thời kỳ Bắc thuộc không giống cơ cấu chủng tộc và trạng thái văn hóa của người Lạc Việt nữa, nhưng dân tộc Việt Nam đến khi đã hoàn toàn tự giác để thoát ly cuộc đô hộ của Trung Hoa là đã lấy các cốt cách Lạc Việt mà dung hòa những yếu tố chủng tộc và văn hóa của người Hán tộc, và một ít yếu tố của các giống người khác ở lân cận, để thành một nhân cách riêng[3]. Nhân cách ấy đã bị đoàn luyện trong những nỗi đau đớn khổ sở, nhục nhã và trong những cuộc quật khởi vinh quang trải qua non nghìn năm mới thành thục mà dành lại sinh tồn độc lập.

Xét qua nguồn gốc của dân tộc Việ Nam chúng ta thấy rằng tất cả giống Việt tộc từ xưa đã chiếm khắp miền lưu vực sông Dương Tư và miền Nam bộ Trung Hoa, là một chủng tộc rất xưa; chúng ta đã thấy rằng lịch sử đã từng đem họ lên địa vị vẻ vang oanh liệt ở thời các nước Sở, Ngô, Việt thay nhau xưng bá. Chúng ta đã thây họ đã từng có cái cao vọng phát triển lên Bắc để tung hoành ở Trung Quốc và từng làm mối lo lớn cho người Hán tộc trong bao nhiêu đời. Chúng ta đã thấ rằng trước sức áp bức nam tiến của người Hán tộc, họ đã vì văn hóa tương dối sút kém mà phải thua và dần dần các quốc gia và các bộ lạc của họ trước sau đều bị Hán tộc đồng hóa. Nhưng trong cái vận mệnh bi đát của Việt tộc ấy, chúng ta thấy có một nhóm, tức là nhóm Lạc Việt đã thoát khỏi cái nạn đồng hóa, cái nạn tiêu vong  mà sống sót lại, rồi trong bao nhiêu thế kỷ, bao nhiêu nỗi đau đớn ê chề, đã đào luyện họ thành dân tộc Việt Nam với một tinh thần tự chủ mạnh mẽ. Chúng ta không thể không lấy làm lạ trước cái vận mệnh may mắn riêng của tổ tiên chúng ta, mà chúng ta có thể cắt nghĩa bằng những lý do sau đây:

  1. Trước sự áp bức nam tiến của người Hán tộc, theo một cái công lệ nam tiến về miền biển của các chủng tộc ở Á châu phát tích ở miền đại lục, người Việt tộc cũng phải tiến về phương nam trong ấy có hai nhóm Tây Âu và Lạc Việt là phần tử tinh nhuệ và dũng cảm hơn hết đã làm tiên phong trong cuộc nam tiến của Việt tộc.
  2. Nhờ ở miền Bắc kỳ là miền xa hơn cả trong đất Bách Việt, người Lạc Việt đã dễ dàng hợp sức với người Tây Âu để chống cự quân độ nhà Tần, mà sau này, nhờ họ ở miền trung châu phì nhiêu nên họ lại dễ dàng phát triển hơn người Tây Âu ở miền rừng núi, rốt cuộc họ chống lại  sự áp bức của Hán tộc có hiệu quả hơn người Tây Âu.
  3. Họ đã nhờ được cuộc kháng chiến  với nhà Tần, hun đúc cho họ cái mầm mống của tinh thần dân tộc.
  4. Tinh thân dân tộc  mới nẩy mầm thì người Lạc Việt bị nội thuộc nhà Triệu và nhà Tây Hán, nhưng chính sách lỏng lẻo của người Hán tộc không những không bóp chết mầm ấy mà lại giúp điều kiện cho nó nẩy nở thêm để đến đời Trưng Trắc thì nó biểu hiện thành cuộc khởi nghĩa. Những nỗi đau đớn khổ sở trong non nghìn năm đô hộ lại rèn đúc tinh thầ dân tộc ấy thành cứng cáp thêm để đến thế kỷ thứ 10 nó đem dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ.

Xem thế thì chúng ta nhận thấy rằng cái vận mạng đặc biệt của dân tộc Việt Nam là đại biểu cuối cùng và duy nhất của Việt tộc không phải là ngẫu nhiên mà thành vậy.


[1] E. Patte, Etude d’un s’que’ette humain de Dong Son, B.E.F.E.O, XXXIV.

[2] Sự đồng hóa của Hán tộc là một điều may hay là một điều rủi cho dân tộc ta? Ở đây tôi muốn giữ thái độ hoàn toàn khách quan, không muốn đem sự suy đoán về giá trị để xét vấn đề đồng hóa. Vả chăng lịch sử là lịch sử, dù chúng ta suy đoán thế nào cũng không thể sửa đổi sự tình lịch sử được. Biết vậy mà chúng ta cũng không thể không nhận thấy rằng sau cuộc Bắc thuộc thì người Việt Nam mất hẳn cái kỹ thuật đồ đồng mà không thấy cái tài tinh xảo và cái sức hùng dũng biểu hiện trên các đồ ấy biến hóa vào giá trị mới tương đương, thế là họ đã mất những giá trị văn hóa rất quý. Chúng ta không thể không nhận đó là một kết quả tàn khốc của cuộc Bắc thuộc quá lâu dài. Đành rằng trên thế giớ xưa nay không có chủng tộc nào và văn hóa nào tự bảo tồn thuần túy được, nhưng nếu sự đồng hóa diễn hành trên những điều kiện tự do thì kết quả của nó tất tốt đẹp hơn, vì sự đồng hóa bấy giờ chỉ là dung hòa những yếu tố tốt của mình. Mỗi lần thấy cái trống đồng, mỗi lần nghĩ cái trống đồng, bất giác chúng tôi có cái hoài cảm rằng đã mất một cái gì quý báu to lớn mà hiện nay, không tìm đâu thấy nữa.

[3] Người Lạc Việt, sau khi hỗn chủng và đồng hóa với người Hán tộc, đã dần dần hình thành dân tộc Việt Nam. Nhưng trong cái gốc Lạc Việt, chúng ta nên phân biệt hai bộ phận: một bộ phận ở miền đồng bằng và bờ biển, vì điều kiện sinh hoạt dễ dàng, vì điều kiện giao thông thuận lợi, và vì sự đồng hóa với người Hán tộc đậm đà, đã thành dân tộc Việt Nam ngày nay; một bộ phận ở miền đồi núi vì điều kiện giao thông trở ngại, và vì đồng hóa với người Hán tộc ít hơn, nên đã thành một nhánh khác với người Việt Nam, về chủng tộc cung như văn hóa còn giữ được yếu tố Lạc Việt nhiều hơn tức là ngườì Mường. Sự nghiên cứu văn hóa của người Mường sẽ giúp cho chúng ta hiểu biết văn hóa của người Lạc Việt nhiều lắm.


 
Thuộc về mục: Uncategorized
 
Bài mới hơn
  •  
    Bài cũ hơn
  • Comments are closed.