|
GIÁO HỘI Á CHÂU: BẢN VỊ HÓA GIỮA CÁC TÔN GIÁO Trong bài trước chúng ta đã có dịp xét qua những mô hình thần học bản vị hóa và các mô hình phúc âm hóa như là những bước tiến hành dẫn tới thần học bản vị hóa. Bây giờ chúng ta tìm hiểu những môi trường mà Giáo Hội hiện nay đang sống để phản tỉnh bản vị hóa của mình. 3. MÔI TRƯỜNG BẢN VỊ HÓA
CỦA GIÁO HỘI a. Giáo Hội Tây Phương: Giả thuyết của tục hóa như A. Comte đã chủ trương cho tới nay không những không thực hiện, trái lại càng ngày con người càng cảm thấy mặt trái của một nền văn hóa độc tôn khoa học. Nghiên cứu kỹ tôn giáo, ta sẽ thấy tôn giáo mà các triết gia vô thần công kích không phải là Kitô giáo mà là một thứ tôn giáo do họ tự biến chế ra mà thôi. Nếu chứng minh Thiên Chúa hiện hữu chỉ có ý nghĩa thực trên tiền đề: Ðức tin tìm kiếm lý trí (fides quaerens intellectum) thì theo đó, những nhà vô thần cũng không thoát được tiền đề trên. Nhưng họ lấy lý lẽ gì chứng minh không có Thiên Chúa? Nếu không có Thiên Chúa thì tại sao họ phản đối? Dù sao đi nữa, giáo hội Tây Phương không thể qui hồi cuộc sống trước khi xẩy ra phong trào tục hóa (như nhiều người công giáo bảo thủ thường chủ trương) và cũng không thể sống như thể không có phong trào tục hóa được. Văn minh tục hóa đã trở thành một thực thể thuộc nền văn hóa tây phương. Ở trong môi trường văn hóa này, giáo hội Tây phương không phản tỉnh để tìm "bản vị hóa" cho mình được. Giáo hội Tây phương đang sống trong cơn khủng hoảng: một số đông Kitô hữu đã trở thành tín hữu hữu danh vô thực. Vì trong thực tế họ đã sống theo niềm tin tục hóa rồi. Một số khác bị những giáo phái mới thu hút. Một số khác do dự, hay còn đang trên đường tìm kiếm chân lý (trong số này cũng kể cả những người "vô thần" đang khát khao Thiên Chúa chân thật). K. Rahner và Zerfass đã mô tả hiện trạng này như sau: Giáo hội Tây phương đang sống trong "mùa đông". Nói theo cách tích cực, mùa đông là cơ hội tốt để bắt đầu lại, một dấu hiệu mùa xuân tới. Theo hướng này, tục hóa không chỉ đem lại những hậu quả tai hại, ngược lại cũng có thể nhờ đó tín hữu công giáo trở thành "chín chắn", "trưởng thành". Hiểu như thế giáo hội không thể tiếp tục mơ tưởng một giáo hội quần chúng (mà phần lớn là nương theo dòng) như xưa, nhưng cần nhận định rõ: Kitô giáo là những người "được chọn" để "chọn lựa". Nói cách khác, đường hướng mục vụ bản vị hóa là cho "thiểu số" nhưng "cao phẩm". Trong giáo hội thiểu số nhưng đầy sức sống này, mỗi người mới thật là một chứng nhân tích cực, mỗi Kitô hữu là một vị truyền giáo để "tái thiết" văn hóa tây phương. Giáo hội bắt đầu sống từ việc giáo dục trong gia đình, từ đoàn thể ở "hạ tầng", nơi xứ đạo. Nhờ đó giáo hội mới thực sự thành "Ánh sáng muôn dân", như giáo hội nguyên thủy, chớ không phải đống lửa tàn. Xưa kia Giáo Hội Tây Phương đã có công đưa sức sống mình đi truyền giáo qua các nơi khác, ngày nay họ có thể nhận lại sức sống truyền giáo của các nơi khác đó để tái thiết Giáo Hội địa phương mình. b. Giáo Hội La Tinh Mỹ
Châu: c. Giáo Hội Phi Châu: Bản vị hóa văn hóa đa dạng là một nhiệm vụ khó khăn phức tạp, vì một đàng phải tìm hiểu đúng đắn những nền văn hóa thuần túy của Phi Châu, đồng thời không được coi những nền văn hóa này như những di vật của bảo tàng viện, nghĩa là đã qua và thiếu sống động. Ðàng khác cũng không được phép coi những nền văn hóa này là "tiền thân", là "bàn đạp" để đưa tới việc hợp lý hóa, giáo hội còn phải tránh vết xe cực đoan của "Giáo Hội Phi Châu độc lập"; họ mặc dù chấp nhận Kitô Giáo, nhưng hoàn toàn hiểu Kitô Giáo dưới lăng kính Phi Châu, nên Kitô Giáo bị tha hóa và trở thành một mớ quan niệm chắp vá, thiếu hệ thống. Vì thế không được giới thần học coi trọng. Trong cuộc công du Phi Châu lần thứ năm (từ ngày 23-4 tới ngày 6-5 năm 1989) Ðức Gioan Phaolô II đã thăm viếng bốn quốc gia: Madagascar, Reunion, Zambia và Malawi. Nhân dịp này, ngài đã nhấn mạnh việc bản vị hóa phải được đặt trên nền văn hóa được phong phú hóa do những góp phần mới, nhưng đồng thời không mất rễ thực của nó". Ngài nhắn nhủ các giám mục địa phương tìm cách đưa phúc âm thấm nhập vào đời sống dân bản xứ, khám phá ra "Sức Sống" (Batu) khôn ngoan được biểu tả nơi các cách ngôn, tâm tình đối với Thượng Ðế và lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân cũng như những giá trị nhân bản của gia đình, xã hội. Như vậy nguồn sống đó giúp phúc âm gia nhập vào mỗi nền văn hóa cụ thể và khẩn định giá trị này hầu trở thành một sức sống mới, phát huy truyền thống tốt đẹp nhất, góp phần vào nền văn hóa chung của nhân loại. trong chiều hướng này không những chỉ tránh những tiền kiến gây nên tranh chấp, nhưng đồng thời quan tâm tới những vấn đề mới đang thành hình trong nền văn hóa Phi Châu, như thái độ đối với những người bị bệnh AIDS. Vấn đề tranh chấp các ý thức hệ chính trị, vấn đề trang trải nợ nần quốc tế, vấn đề người tị nạn... "Ðức Kitô cần tới bằng chứng tình yêu của các con để phúc âm càng ngày càng đâm rễ sâu trong văn hóa của các con". Tóm lại, "Nguồn Sống" được phát huy trong đa dạng là nền tảng và phương châm của bản vị hóa Phi Châu. Giáo Hội Á Châu: Khoảng 2/3 tổng số nhân loại hiện nay thuộc về các tôn giáo khác. Phần lớn các tôn giáo này sống ở Á Châu. Nói cách cụ thể: Năm 1985 Á Châu có 2.874 triệu dân. trong số đó số người Công Giáo chỉ chiếm 72 triệu, tức là 0.9%. Nếu cộng thêm 24 triệu các giáo hội Kitô giáo khác thành 1.74% tổng số! Sống trong một môi trường tối thiểu tuyệt đối này, lẽ đương nhiên giáo hội phải tiếp xúc với các tôn giáo khác. Trước kia Giáo Hội tây phương lấy tiêu chuẩn: "ngoài giáo hội không có ơn cứu rỗi" (extra ecclesia nulla salus) và hiểu theo nghĩa cơ cấu hẹp hòi, nên coi tất cả các tôn giáo khác đều là tà đạo, từ Công Ðồng Vaticanô II trở đi quan niệm "giáo hội" và ơn "cứu rỗi" đã được phản tỉnh lại, coi Chúa Kitô là trung tâm của mọi ơn. Người cứu chuộc mọi người. Người tới để chứng thực Chúa là Ðấng tạo hóa, yêu thương mọi tạo vật, nhất là con người, "hình ảnh của Thiên Chúa", mang trong mình "tiếng lương tâm" luôn thôi thúc họ tìm Ngài, làm theo ý Ngài, cả những khi họ chưa nhận ra Ngài. K. Rahner đã gọi những người Thiện Tâm là "Kitô hữu vô danh". Trong tuyên ngôn "Nostra Aetate", Công đồng khi nhắc tới "Ấn độ giáo", "Phật giáo" và "các tôn giáo khác" đã khẳng định: "Với lòng kính trọng chân thành, Giáo hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác nhau với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người". Trong tài liệu "Niềm tin và bản vị hóa", ủy ban thần học quốc tế đã đặc biệt quan tâm tới việc đối thoại với các tôn giáo khác và coi đó như là một trong bốn vấn đề quan trọng nhất của bản vị hóa: "Ðối thoại với các tôn giáo khác là một phần linh động của đời sống Kitô hữu", vì sự đối thoại này đặt trên căn bản tin tưởng: "Chúa Thánh Linh hiện hữu và hoạt động trên toàn thế giới, gọi mỗi nền văn hóa siêu vượt chính mình". Cụ thể, "bản vị hóa" của giáo hội Á Châu là nghiên cứu các tôn giáo bạn để hiểu thấu đáo giáo lý và cuộc sống đạo của họ để tránh những ngộ nhận hay tiên kiến, nhờ đó có thể học hỏi nơi họ cách diễn đạt nào phù hợp với Kitô giáo, nhất là trên lãnh vực tu đức, nhờ đó có thể hợp tác để phát huy Nhân Bản. 4. THAY LỜI KẾT LUẬN Người Việt Nam ở hải ngoại sống rải rắc khắp nơi trên thế giới, nên bản vị hóa đối với chúng ta là một vấn đề phức tạp. Chúng ta phải nhận diện bản vị hóa nơi mà chúng ta đang sống. Như trên chúng ta nói tới những trọng tâm khác nhau ở Âu Mỹ, La Mỹ, Phi Châu và Á Châu. Còn ở Ðại Dương Châu thì sao? Xin dành câu hỏi này để anh chị em thảo luận, vì đó là môi trường sống của các người Công Giáo Việt Nam tại đây. Có lẽ phần diễn đạt bản vị hóa của bốn Châu khác giúp anh chị em so sánh để tìm ra những điểm dị đồng và tính cách đặc thù của văn hóa nơi mình sống. Chúng ta không những cần nhận diện nền văn hóa ở Ðại Dương Châu, và đặc tính bản vị hóa của nó, nhưng là người Việt, chúng ta có cội rễ văn hóa riêng của chúng ta. Bởi đó bản vị hóa đối với người Công Giáo Việt Nam càng khó khăn phức tạp hơn: làm sao chúng ta hội nhập văn hóa ở đây mà không mất gốc? Làm sao đưa tinh thân nhân chứng nhân bản của tiền nhân bổ túc và hòa đồng với nền văn hóa ở đây? Làm sao tinh thần phúc âm giúp chúng ta tổng hợp và tinh luyện những bảng giá trị, nếp sống, phong tục... khác nhau này? Hy vọng qua những bài khác, chúng ta nhận thức được vấn đề bản vị hóa của chúng ta hơn. Tác giả: Vũ Kim Chính, Lm |
![]() |