PHỎNG VẤN THÁNH PHANXICÔ XAVIER

(Theo http://www.freewebs.com/nguyensj/sj/Phong%20Van%20FX.htm)

Ngày 1.12.1552, trên đảo Thượng Xuyên, gần tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa, thánh Phanxicô Xavier, 46 tuổi, đang chờ một nhà buôn đến đưa ngài vào đất liền. Chỉ hai ngày nữa, ngài sẽ qua đời. Chúng ta đến chòi lá của ngài, để phỏng vấn ngài. Các câu hỏi do chúng ta đặt ra, các câu trả lời thực sự là của ngài.

1) Thưa cha, cha nhất định phải vào Trung Hoa?

Hết ngày này sang ngày khác, tôi đang chờ đợi một người Trung Hoa từ Quảng Đông đến đón (Bt 131,10)[1][1]. Trung Hoa là một nước rộng mênh mông bát ngát, thanh bình, và được cai trị bằng những luật lệ khôn ngoan. Chỉ có một vua mà ai nấy đều hết sức tùng phục. Đó là một vương quốc rất giàu có, tài nguyên đủ loại, không thiếu gì… Người Trung Hoa rất khéo léo và rất hiếu học, nhất là về luật lệ liên hệ đến việc trị nước. Họ rất ham hiểu biết… Họ đại lượng và nhất là rất hiếu hòa. Trong nước không có chiến tranh… Tôi đi Trung Hoa để thực hiện những việc lớn lao nhằm phục vụ Thiên Chúa (Bt 97,19). Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là một con đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Dòng Tên, mà còn cho tất cả các dòng khác… (Bt 96,52).

2) Cha biết đó là điều nguy hiểm chứ?

Hai nguy cơ có thể xảy ra, theo như dân địa phương nói. Thứ nhất, người dẫn chúng tôi có thể bỏ chúng tôi trên một đảo hoang, hay ném xuống biển, sau khi đã nhận 200 cruzadoz[2][2], để tổng đốc Quảng Đông khỏi biết; thứ hai, nếu họ đưa chúng tôi đến Quảng Đông, và nếu chúng tôi đến gặp tổng đốc, chúng tôi sẽ bị đánh đập hoặc tống giam… Lệnh cấm ở Trung Hoa ngặt đến nỗi không ai được vào nếu không có phép của nhà vua, mà vua đã cấm ngặt người nước ngoài không ai được vào… Chúng tôi cho rằng những nguy hiểm phần hồn lớn hơn những nguy hiểm phần xác nhiều, nên chúng tôi thấy là thà đương đầu với những nguy hiểm phần xác còn yên tâm hơn là để mình bị nguy hiểm phần hồn trước mặt Thiên Chúa. Vì vậy, chúng tôi nhất quyết đến Trung Hoa, bất cứ bằng cách nào. Tôi hy vọng trong Thiên Chúa là chuyến đi Trung Hoa của chúng tôi sẽ thành công và sẽ góp phần vào việc truyền bá đức tin, mặc dầu Kẻ Thù và tay sai chúng có thể tung ra những cuộc bách hại. Thực vậy, “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta”(Rm 8,31; Bt 131,3.6).

3) Có vẻ cha thích phiêu lưu mạo hiểm!

Có những người thật là ngược đời: cố lôi kéo Thiên Chúa đến nơi họ thích, chứ không chịu đến nơi Thiên Chúa mời gọi họ tới. Có những người đang theo một con đường gập ghềnh và nguy hiểm để leo lên một ngọn đồi dựng đứng, mà sau bao nhiêu cực nhọc, chỉ chuốc lấy một kết thúc khốn khổ (Bt 6,4). Chúng tôi hoàn toàn không đi tìm những ưu đãi của người đời, và chúng tôi có làm gì cũng chỉ vì Chúa. Thực vậy, nếu phải chịu những gian truân chúng tôi đã trải qua chỉ một ngày thôi để được cả thế giới này, chúng tôi cũng từ chối (Bt 13,3).

4) Thời gian ở Ấn Độ của cha thế nào?

     Chúng tôi rời Lisbõa đi Ấn Độ ngày 7.4.1541, và đến Ấn Độ ngày 6.5.1542 (Bt 15,2). Khu vực chúng tôi đến gọi là mũi Comorin (Bt 15,14). Tôi đưa theo 3 người bản xứ. Họ rất thông thạo tiếng Bồ Đào Nha, và thông thạo tiếng mẹ đẻ hơn nữa...Chúng tôi đi qua những làng Kitô giáo, nơi dân chúng đã theo đạo khoảng tám năm trước. Không có người Bồ Đào Nha nào sống trong các làng này, vì đất đai cằn cỗi và người ta hết sức nghèo khổ. Vì các Kitô hữu trong các làng này không được ai dạy dỗ về đức tin, nên về đạo, họ không nói được gì hơn là họ có đạo. Không có ai để dâng lễ cho họ, cũng không có ai dạy họ kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Mười Điều Răn. Khi đến các làng này, tôi đã rửa tội cho tất cả trẻ em chưa được rửa tội; và như vậy, tôi đã rửa tội cho rất nhiều hài nhi “chưa biết phân biệt tay phải với tay trái”(Gn 4,11). Hễ tôi đến làng nào, trẻ em chưa cho tôi đọc kinh, hoặc ăn hay ngủ, nếu chưa dạy các em vài ba kinh. Tôi bắt đầu hiểu rằng “Nước Trời thuộc về những ai giống như trẻ em”(Mt 19,4; Bt 19,2). Xong một làng, tôi để lại một người tiếp tục công việc đã khởi sự, rồi đến các làng khác cũng làm y như vậy… Ở những nơi tôi đi qua, tôi để lại những bản viết các kinh, và cho người biết chữ viết lại, cho học thuộc lòng, rồi cho đọc hằng ngày. Tôi cũng cho mọi người họp vào Chúa Nhật để đọc kinh. Tại các làng, tôi đặt người phụ trách công việc này (Bt 20,7).

10)   10)    Cha có kêu gọi các bạn ở Châu Âu qua tiếp tay không?

Vì thiếu người lo những việc đạo đức và thánh thiện như vậy, nên nhiều người ngoại đáng lẽ có thể theo đạo mà không theo được. Rất nhiều khi tôi có ý định về bên nhà, đến các nơi người ta học hành, để gào thét như một người mất trí, đặc biệt là ở Đại học Paris. Tôi muốn đến Học viện Sorbonne nói với những người hiểu biết nhiều, nhưng ít muốn làm cho kiến thức của mình sinh hoa kết quả: “Biết bao linh hồn không được hưởng phúc vinh quang, nhưng phải sa địa ngục, vì quí vị lơ là”… Gần như tôi bị thúc bách viết thư cho Đại học Paris… để cho biết là hàng ngàn hàng vạn người ngoại sẽ theo đạo, nếu có được những người không bám lấy lợi lộc riêng tư, nhưng cố gắng sinh lợi cho Chúa Giêsu Kitô, nên tìm kiếm và giúp đỡ các linh hồn”(Bt 20,8)… Ôi! Nếu thay vì chỉ thỏa lòng nhờ hiểu những điều mình học, người sinh viên tìm trong việc giúp đỡ tha nhân biết họ cần gì để cảm nhận được Chúa, người ấy sẽ được an ủi hơn và sẵn sàng tính sổ linh hồn với Chúa hơn, vào ngày Đức Kitô sẽ hỏi: “Hãy tính sổ cho Ta biết ngươi đã quản lý tài sản thế nào”(Lc 16,2; Bt 20,13).

11)   11)    Rồi chuyện ở đảo Môrô?

Đối diện với Maluco[3][3], có một xứ gọi là Môrô… Trên đảo này, một số đông người theo đạo từ nhiều năm trước, nhưng vì các giáo sĩ đã rửa tội cho họ sau đó qua đời, nên họ bị bỏ rơi, không ai dạy dỗ. Vì khu vực Môrô ấy rất nguy hiểm…, dân chúng thường trộn thuốc độc vào đồ ăn thức uống đem cho người khác, nên những người có thể lo cho các tín hữu tại Môrô đã từ chối, không chịu đến đó. Vì các tín hữu tại các đảo Môrô cần được dạy dỗ về đức tin, và cần có người rửa tội cho họ để họ được rỗi linh hồn, và cũng vì tôi có bổn phận liều mất sự sống trần gian để giúp đỡ tha nhân về đời sống thiêng liêng, nên tôi đã quyết định đến Môrô để giúp các tín hữu trong những điều thiêng liêng, liều mình vào nơi nguy tử, đặt trọn hy vọng và tin tưởng nơi Thiên Chúa… Nhiều bạn hữu và những người quí mến tôi tìm cách ngăn cản tôi lên đường đến một khu vực nguy hiểm như vậy. khi thấy không thuyết phục được tôi bỏ dự tính, họ cho tôi nhiều thuốc giải độc. Tôi rất biết ơn họ đã yêu mến và quan tâm đến tôi, nhưng để đừng chất vào mình nỗi sợ hãi mình vốn không có, và hơn nữa, vì tôi đã đặt trọn vẹn tin tưởng nơi Thiên Chúa, nên để khỏi đánh mất lòng tin tưởng, tôi đã từ chối, không nhận các thứ thuốc mà vì yêu mến, họ khóc lóc để cố ép tôi nhận. Tôi chỉ xin họ luôn luôn nhớ đến tôi khi cầu nguyện, vì đây là thuốc công hiệu nhất để chống lại việc có thể bị đầu độc (Bt 55,4).

12)   12)    Vì sao cha lại đi Nhật Bản?

Vì nhận được thông tin rộng rãi về những thuận lợi cho việc truyền bá đức tin tại các đảo của Nhật Bản, và sau khi đã tìm hiểu nơi những người đáng tin vì đã lưu trú trên các đảo của Nhật Bản, tôi đã quyết định xin Thiên Chúa ban cho tôi ơn trọng đại này là nếu tôi đến những khu vực ấy mà phục vụ được Thiên Chúa hơn, thì cho tôi cảm nhận được ý muốn rất thánh của Người trong tâm hồn, và cho tôi sức mạnh cần thiết để thi hành trọn vẹn. Thiên Chúa uy linh đã thương cho tôi cảm nhận được trong tâm hồn là chính vì việc phục vụ Người mà tôi đi Nhật Bản, và vì vậy tôi rời Ấn Độ để thi hành điều Thiên Chúa cho tôi cảm nhận nhiều lần về việc lên đường đi Nhật Bản, với dự tính phục vụ Người (Bt 83,1).

13)   13)    Xin cha cho biết đôi chút về thời gian cha ở Nhật Bản.

Trước hết, chúng tôi đến Kagoshima. Chúng tôi ở lại đó hơn một năm (Bt 96,13). Trong năm ấy, chúng tôi dạy giáo lý cho các tín hữu, học tiếng và dịch nhiều điều trong Luật Thiên Chúa ra tiếng Nhật Bản… Các tín hữu cũng như những người chưa theo đạo rất thích nghe những điều ấy, vì họ thấy là đúng… Sau một năm, và vì lãnh chúa địa phương không hài lòng về Luật Thiên Chúa lan tràn tại đó, chúng tôi đến một xứ khác… Nhờ đọc cuốn sách chúng tôi đã dịch sang tiếng Nhật Bản, và nhờ nhiều buổi nói chuyện của chúng tôi, nhiều người đã theo đạo… Sau đó, chúng tôi đến Yamaguchi. Trong thành phố ấy có nhiều hiệp sĩ và những người khác rất ước mong biết Luật chúng tôi rao giảng thế nào. Chúng tôi ở lại trong thành phố ấy nhiều ngày để rao giảng trên đường phố cũng như trong nhà. Dân chúng rất thích nghe kể chuyện đời sống Đức Kitô, và họ khóc khi chúng tôi tường thuật cuộc Thuơng Khó. Nhưng ở đó có ít người theo đạo. Vì thấy ít có kết quả, chúng tôi quyết định đến một thành phố khác, thành phố quan trọng nhất trong toàn bộ Nhật Bản, gọi là Myako[4][4]. Chúng tôi mất hai tháng trên đường, phải đương đầu với nhiều nguy hiểm, vì có nhiều trận chiến trong các địa phương, mà trời thì rất lạnh, lại có nhiều kẻ cướp nữa. Chúng tôi tìm cách gặp nhà vua để xin phép rao giảng Luật Thiên Chúa trong vương quốc, nhưng không gặp được. Vì sau đó chúng tôi được biết là người ta không phục tùng nhà vua, nên chúng tôi quay trở lại Yamaguchi… Thường chúng tôi giảng mỗi ngày hai lần. Sau bài giảng là một buổi thảo luận kéo dài khá lâu. Nhà chúng tôi gần như lúc nào cũng đầy người, và thường người ta không vào trong nhà hết được. Họ đặt ra cho chúng tôi biết bao nhiêu câu hỏi, và chúng tôi giải thích cho họ bao nhiêu điều, đến nỗi họ nhìn nhận rằng Luật của các vị thánh hiền họ từng tin là sai, và Luật Thiên Chúa là đúng. Nhiều ngày sau, họ bắt đầu theo đạo, và những người đầu tiên theo đạo lại chính là những người từng tỏ ra thù nghịch nhất cả khi chúng tôi giảng cũng như trong khi thảo luận… Trong khi chúng tôi đang ở thành phố Yamaguchi, thì một lãnh chúa rất quan trọng là công tước xứ Bungo viết thư mời đã đến chỗ ông, vì có một tàu Bồ Đào Nha đã vào cảng của ông, và ông muốn trao đổi với tôi một số điều quan trọng. Hiểu là ông muốn theo đạo, và tôi cũng mong được gặp những người Bồ Đào Nha, tôi đã đi Bungo… Từ Bungo, tôi không trở lại Yamaguchi, nhưng quyết định đi Ấn Độ, trên một chiếc tàu Bồ Đào Nha, để gặp lại anh em ở Ấn Độ, và được vui mừng vì gặp lại nhau, vừa để đưa đến Nhật Bản các cha trong Dòng Tên, vì xứ ấy cần các cha, và cũng để từ Ấn Độ đem theo một số điều cần thiết mà ở Nhật Bản không có (Bt 96,13.14.16.36.40).

9) Xem ra mọi sự có vẻ nhẹ nhàng, nhưng chắc là cha đã gặp nhiều khó khăn!

Tất cả các thân hữu và bạn hữu tôi đều sợ lắm, vì tôi thực hiện một cuộc hành trình lâu dài và nguy hiểm như vậy. Phần mình, tôi sợ hơn họ, vì thấy họ tỏ ra thiếu đức tin. Thiên Chúa chỉ huy và có quyền trên bão tố ở biển Trung Hoa và Nhật Bản, mặc dầu chúng mạnh hơn tất cả bão tố người ta đã gặp từ trước đến nay. Ngoài gió, còn có đá ngầm, nhiều lắm, theo người ta nói, và nhiều con tàu đã tiêu tan ở đó. Nhưng Thiên Chúa là Đấng hùng mạnh. Thiên Chúa chỉ huy và có quyền trên tất cả những tên hải tặc trên biển, dù số này đông đến mức đáng sợ. Những tên hải tặc này rất tàn ác, chúng làm đủ thứ để tra tấn và hành hạ những người bị chúng bắt, nhất là người Bồ Đào Nha. Vì Thiên Chúa có quyền trên chúng hết thảy, nên tôi không sợ ai, ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ sợ Người phạt vì chểnh mảng trong việc phục vụ Người, vì vụng về và vô dụng trong việc truyền bá danh Chúa Giêsu giữa những kẻ chưa biết Người. Còn những nỗi sợ khác, những nguy hiểm khác, những đau khổ khác, mà bạn bè nói tới, đã kể là số không. Tôi chỉ còn sợ Thiên Chúa, vì nỗi sợ đối với các thụ tạo chỉ lớn tới mức Đấng Sáng Tạo ra chúng cho phép là cùng (Bt 78,2). Vì ma quỉ không làm hại con người hơn mức được Thiên Chúa cho phép, nên vào những giờ phút ấy, phải sợ mình thiếu tin tưởng nơi Thiên Chúa hơn là sợ chính Kẻ Thù… Không ai là người yếu đuối, nếu biết tận dụng ơn Thiên Chúa ban cho mình (Bt 90,8.9).

10)   10)    Nghe nói khi gặp nguy hiểm, cha xin Chúa đừng để mình thoát khỏi!

Trong chuyến đi từ Malacca đến Ấn Độ, tôi đã trải qua nhiều nguy hiểm, vì bão suốt ba ngày ba đêm, bão lớn tôi chưa từng gặp bao giờ. Nhiều người còn sống đã than khóc như sắp chết, và thề sống thề chết là nếu Chúa cho thoát được thì sẽ không bao giờ đi biển nữa. Chúng tôi đã liệng hết đồ đạc xuống biển, bỏ của chạy lấy người. Khi trận bão lên đến cực điểm, tôi đặt mình trong tay Chúa… Mỗi lần gặp nguy hiểm, tôi cầu xin các thiên thần, cũng như các thánh tổ phụ, ngôn sứ, tông đồ, thánh sử, tử đạo, tuyên đạo, đồng trinh và tất cả các thánh trên trời. Và để chắc được Thiên Chúa tha thứ muôn vàn tội lỗi, tôi xin Đức Mẹ vinh hiển cầu khẩn cho mình, vì ở trên trời, Mẹ xin gì với Thiên Chúa cũng được nhậm lời. Cuối cùng, tôi đặt hết hy vọng nơi Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Chuộc và là Chúa chúng ta, Đấng đã chịu nạn chịu chết mà lập công đền tội chúng ta. Trong cơn bão tố, nhờ được giúp đỡ và phù hộ như trên, tôi thấy mình được an ủi có thể nhiều khi còn hơn  cả lúc tôi thoát khỏi cảnh ngặt nghèo…  Vì thế, lần gặp bão này, tôi đã xin Thiên Chúa chỉ cho tôi thoát trận bão ấy nếu Người cho tôi chịu những trận khác lớn bằng hay lớn hơn nữa, để phục vụ Thiên Chúa hơn (Bt 59,20-21).

11) Có khi nào cha bị cám dỗ bỏ cuộc không?

Có lần ở Ấn Độ, tôi đã phải thốt lên[5][5]: Bảo đảm và chắc chắn là hôm nay mà có tàu đi, tôi sẽ đi ngay lập tức… Tôi không biết còn làm gì được nữa, nếu không phải là chẳng nên mất thêm thời giờ để sống giữa những người không biết tôn trọng chi hết…Thực là tôi buồn không bút nào tả xiết (Bt 41,1.4). Tôi chán sống đến nỗi thà được chết trong khi truyền bá luật Chúa và đức tin của chúng ta còn hơn cứ phải thấy người ta xúc phạm đến Chúa mà mình không làm gì được (Bt 44,3)… Sống ở nơi người ta thờ tượng thần, nơi khó chịu vì khí hậu rất oi bức; tất cả những trở ngại ấy, nếu biết chấp nhận nhân danh Chúa, chúng sẽ trở nên nguồn phúc đức và dịp lãnh những an ủi lớn lao. Tôi tin rằng ai thực lòng yêu mến Thánh Giá Chúa Kitô sẽ tìm thấy an nghỉ khi đương đầu với những thử thách, và họ sẽ chết khi trốn hoặc thiếu thử thách. Còn cái chết nào tệ hơn đời sống của người, sau khi đã biết Chúa Kitô, lại bỏ Chúa để chạy theo sở thích và quyến luyến riêng! Thật không gì buồn hơn. Trái lại, ai chết đi mỗi ngày, đi ngược lại ý riêng, không tìm những điều thuộc về mình, nhưng là những điều thuộc về Chúa Giêsu Kitô, sẽ được bình an biết bao! (Bt 15,15). Những cám dỗ thường ngăn cản những người yếu đuối đạt đến điều trọng đại này là hiểu biết Thiên Chúa vô cùng nhân hậu thế nào, vì sống trên đời mà không cảm nếm được Thiên Chúa thì đó không phải là sống, mà là chết dần chết mòn (Bt 90,26).   

12) Dòng Tên là “hậu phương” lớn của cha?

Tôi nghĩ rằng Dòng Tên là “Dòng yêu mến và hiệp nhất tâm hồn” (Bt 70,5)… Tất cả anh em trong Dòng hiện diện liên lỷ trong tâm trí tôi (Bt 48,1)… Ở Ấn Độ, để giải trí, tôi rất thường nhớ đến anh em trong Dòng, và nhớ đến thời gian, vì Chúa quá thương, tôi được biết anh em và sống với anh em. Tôi tự biết và cảm thấy trong lòng là, do lỗi mình, tôi đã để thời gian ấy qua đi mà không rút được ích lợi từ bao nhiêu điều chính Chúa cho anh em hiểu biết. Nhờ lời anh em cầu nguyện, và vì anh em luôn luôn nhớ đến tôi, Chúa ban cho tôi ơn rất lớn là dù xa cách anh em về thể xác, nhưng nhờ anh em nâng đỡ và giúp đỡ, Chúa cho tôi cảm thấy muôn vàn tội lỗi của mình, và cho tôi sức mạnh để đến giữa dân ngoại (Bt 20,14)… Để đừng bao giờ quên anh em trong Dòng, và lúc nào cũng nhớ đặc biệt đến anh em, tôi đã cắt tên của anh em trong các thư tử chính tay anh em viết cho tôi, để có thể luôn luôn mang trên mình, cùng với lời khấn của tôi. Điều này đem lại cho tôi nhiều an ủi… Tôi cảm thấy sung sướng khi mang tên của anh em trên mình (Bt 55,10)… Chúa biết cho là gặp anh em thì tâm hồn tôi được an ủi hơn nhiều. Vậy mà tôi cứ phải viết thư cho anh em, lại không chắc thư đến, vì từ Ấn Độ đến Rôma xa quá… Tôi nghĩ mình không lầm khi nói xa cách phần xác không làm cho chúng ta, vốn yêu mến nhau trong Chúa, bớt yêu mến và nghĩ đến nhau (Bt 48,1)… Nếu ở đời này, người ta thấy được trái tim của những người yêu mến nhau trong Đức Kitô, thì anh em Dòng Tên sẽ thấy rõ chính anh em trong trái tim tôi (Bt 90,60)… Khi nói về Dòng Tên, tôi không biết làm sao chuyển sang đề tài khác được, và không sao dừng bút được… Nếu khi nào tôi quên Dòng Tên Chúa Giêsu, thì xin cho tôi quên cả tay phải mình đi[6][6], vì nói sao thì nói, tôi biết là mình mắc nợ rất lớn đối với tất cả anh em trong Dòng (Bt 59,22).

13) Đặc biệt với cha I-nhã?

Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho tôi được biết Cha I-nhã. Bao lâu còn sống, không bao giờ tôi trả được món nợ đối với ngài (Bt 1,6)…Trong số nhiều lời thánh thiện và an ủi của ngài, tôi đọc được những lời thế này: “Hoàn toàn thuộc về nhau. Không bao giờ quên được nhau.” Tôi đã rơi lệ khi đọc những chữ ấy, và cũng rơi lệ khi kể lại, vì nhớ lại thời gian đã qua, nhớ đến ngài đã và vẫn luôn luôn rất thương tôi, và nhờ những lời khẩn nguyện thánh thiện của ngài, Thiên Chúa đã cho tôi thoát được bao gian nan, bao nguy hiểm (Bt 97,1)… Đó là một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách được (Bt 1,7).

14) Nếu lần này Cha không vào Trung Hoa được?

Xin Chúa thương cho ông ấy đến, như tôi vẫn ước mong; vì nếu làm sao đó mà Thiên Chúa không muốn như vậy, tôi không biết sẽ phải làm gì, hoặc là phải đi Ấn Độ hay Thái Lan, để từ Thái Lan theo phái đoàn sứ thần vua Thái Lan cử sang Trung Hoa (Bt 131,10).

 

15) Có người nghĩ là cha có đầu óc chinh phục!

Muốn sống tốt ở đời này, chúng ta phải làm khách hành hương để đi bất cứ đâu, đến nơi chúng ta có thể phục vụ Chúa (Bt 50,2).

 

Đặt câu hỏi: Hoàng Sóc Sơn.

 

 

[1][1] Thánh Phanxicô Xavier , Bút Tích 131, số 10.

[2][2] Xem Bt 132,1: giá 1200 kg hạt tiêu.

[3][3] Quần đảo Maluku, đông bắc Inđônêxia. Môrô, hay Omôrô, hoặc Các Đảo Môrô, là tên gọi chung khu vực bờ biển tây bắc đảo Hamahera và hai đảo Môrôtai và Rau. Dân địa phương gọi bờ biển tây bắc đảo Hamahera là Môrôtia (Môrô đất) và hai đảo kia là Môrôtai (Môrô biển).

 

[4][4] Kyoto hiện nay, lúc ấy là Kinh đô Nhật Bản.

[5][5] “Có lần ở Ấn Độ, tôi đã phải thốt lên”: câu này do người soạn thêm vào.

[6][6] X. Tv 136,5.

 

 

 

ĐÔI NÉT LỊCH SỬ DÒNG TÊN

Tập I: Thời kỳ Khai Sinh

HIỂN LINH 2002

HOÀNG SÓC SƠN

Tri ân

Cha Mariano Manso và Cha Âutinh Đoàn Cao Lý

 

Lời mở 

Lịch sử luôn luôn là một bài học sống động và quý giá. Tìm hiểu về Dòng Tên, chúng tôi thấy lịch sử Dòng cũng chứa đựng nhiều bài học sống động và quý giá. Chúng tôi đã cố ghi chép lại đây đó một số điều, đôi khi thêm một vài suy nghĩ. Cha Bề Trên Cả quá cố Pedro Arrupe nói: "Tôi cho là việc biết lịch sử Dòng rất quan trọng, nhưng là một lịch sử không những giúp chúng ta biết những biến cố - điều này tự nó cũng rất ích lợi - mà nhất là giúp suy nghĩ về sứ điệp các biến cố nói với bản thân tôi. Đó là một phương pháp hữu hiệu lạ thường." Ước mong bộ sách nhỏ này giúp được người đọc đôi chút trong viễn tượng ấy.

Viết tắt

Bt: Bút tích thánh Phanxicô Xavier

HC: Hiến Chương Dòng Tên

HK: Hồi Ký của thánh I-nhã

LT: Linh Thao

NK: Nhật Ký Thiêng Liêng của thánh I-nhã

 

Chương 1

 

NHỮNG NGƯỜI BẠN TRONG CHÚA

Societas Jesu

Quae Sanctum Ignatium Loyolam Patrem agnoscit,

Lutetiam matrem

Hic nata est. [1]

 

(Dòng Tên

sinh tại đây

Cha: Thánh I-nhã

Mẹ: Paris)

 

            Tại nhà thờ Montmartre ở Paris, một tấm bảng bằng đồng đã ghi dấu ngày 15 tháng 8 năm 1534 của thánh I-nhã và các bạn như vậy. Cha Paul Dudon cho rằng lúc ấy 'nhóm sau này sẽ được gọi là Dòng Tên chỉ mới hiện hữu mà chưa định hình; tuy nhiên, tinh thần Linh Thao đã sống động và mang tất cả tiềm năng để đem lại sức sống và cơ cấu cho nhóm. Trong ý nghĩa này, có thể nói là thực sự Dòng Tên đã chào đời tại Montmartre'. [2]

 

  

1.         Nhóm 7 người bạn tuyên khấn

 

Đó là 7 sinh viên Đại Học Paris. Sáng hôm ấy, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, họ cùng nhau đến nhà thờ Các Thánh Tử Đạo ở Montmatre để tuyên khấn. Chân phước Phêrô Favre, linh mục duy nhất của nhóm, dâng lễ, một lễ dành riêng cho họ. Trước khi rước Mình Thánh Chúa, mỗi người lần lượt đọc lời khấn đã viết sẵn.

Chúng ta không giữ được bản viết lời khấn hôm ấy, nhưng có thể tóm tắt nội dung trong mấy điểm: Sau khi tốt nghiệp, họ sẽ

(1)        (1)   Sống thanh bần, không có của riêng;

(2)        (2)   Đến Venezia chờ tàu một năm để đi hành hương Giêrusalem;

(3)        (3)   Nếu được phép ở lại Giêrusalem thì sẽ nhận định xem có nên ở lại đó để làm việc tông đồ không;

(4)        (4)   Nếu không đi Giêrusalem được, hoặc nếu đi được nhưng không ở lại, cả nhóm sẽ đến Rôma đặt mình dưới quyền sử dụng của Đức Thánh Cha.

Chúng ta có thể lưu ý hai điều:

(1)        (1)   Họ không khấn khiết tịnh, vì giả thiết điều ấy đi đôi với việc thụ phong linh mục;

(2)        (2)   Nhóm không có tên, không có luật, không ai có quyền trên ai, chỉ liên kết với nhau vì cùng lý tưởng tông đồ và tình bạn thiêng liêng. 

Cha Dudon cho rằng: "Bước ra khỏi nhà nguyện hôm ấy, lòng họ như mở hội, mặt mày rạng rỡ, chỉ nghĩ và chỉ nói đến Tin Mừng: họ là những người đích thực cải tổ Hội Thánh." [3] Suốt ngày hôm ấy họ cầu nguyện, chia sẻ với nhau về đời sống thiêng liêng hiện tại và đời sống tông đồ tương lai, dùng chung với nhau bữa ăn thanh đạm nhưng đầy tình huynh đệ.

Đời họ đã được định hướng.

 

2.         Họ là ai?

 

Pierre Favre (Chân phước Phêrô Favre) sinh năm 1506 tại làng Villaret, miền Savoie, đông nam nước Pháp. Là con nhà nông, lúc nhỏ ngài đi chăn cừu và dự tính lớn lên sẽ làm ruộng như cha mẹ. Nhưng ngài nói: "Thiên Chúa đã để cho người ta thấy nơi tôi chẳng có chút gì thích hợp với đời sống thế gian". Được một người cậu là linh mục giúp đỡ, ngài đi học tại trường gần nhà. Năm 1525, ngài lên Paris học, ở cùng phòng tại học viện Sainte Barbe với thánh Phanxicô Xavier và một người Tây Ban Nha khác. Tính tình ngài hướng nội, hiền hòa và nhạy cảm, hay lo âu và bối rối. Ngài cũng chưa định học xong sẽ làm gì: giáo sư, bác sĩ hay linh mục? Thánh I-nhã đến ở cùng phòng với ngài năm 1529. Trong 2 năm, thánh I-nhã giúp ngài về đời sống thiêng liêng. Ngài là người đầu tiên trong nhóm thánh I-nhã gọi là Những người bạn trong Chúa. Chừng cuối năm 1531, ngài quyết định theo cách sống của thánh I-nhã. Đầu năm 1534, ngài tập Linh Thao 30 ngày do thánh I-nhã hướng dẫn. Kế đến, ngài thụ phong linh mục. Ngài là linh mục duy nhất trong nhóm khấn tại Montmartre năm 1534, và là linh mục đầu tiên của Dòng Tên. Sau này, ngài sẽ là người đầu tiên trong nhóm bạn Montmartre qua đời (năm 1546).

Francisco Xavier (Thánh Phanxicô Xavier) sinh năm 1506 tại Navarra, người dân tộc thiểu số Basco, miền bắc Tây Ban Nha. Là con nhà quí tộc, ngài được hưởng nhiều ưu đãi từ nhỏ, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn do những cuộc tranh chấp quyền hành giữa cac thế lực. Năm 1525, ngài đến Paris học với ý định sẽ được hưởng vinh hoa phú quí. Ngài là một người thông minh, hiếu động và nhiều tham vọng. Năm 1529, thánh I-nhã đến ở cùng phòng với ngài. Ban đầu thánh Phanxicô Xavier tỏ ra lạnh lùng với người sinh viên già mới đến: (1) Thánh I-nhã từng đối đầu với hai anh thánh Phanxicô Xavier trong trận giao tranh tại Pamplona năm 1521; (2) Thánh Phanxicô Xavier đang miệt mài theo đuổi công danh, trong khi thánh I-nhã đã hoàn toàn từ bỏ công danh. Theo lời chứng của Edmond Auger (vào Dòng Tên năm 1550), ngài là nắm bột thô nhất mà thánh I-nhã phải nhào nắn [4]. Theo cha Georg Schurhammer, nhà nghiên cứu thời danh về thánh Phanxicô Xavier, thì ngài quyết định theo thánh I-nhã vào khoảng cuối năm 1533 hay đầu năm 1534. Sau này, ngài sẽ là nhà truyền giáo thời danh hạng nhất trong lịch sử Hội Thánh.

Simão Rodrigues sinh năm 1509 tại Vouzela, miền bắc Bồ Đào Nha, trong một gia đình quí phái và giàu có. Ngài lớn lên tại kinh thành Lisbõa dưới sự coi sóc của vị niên trưởng tuyên uý hoàng gia. Ngài đến Paris học năm 1527, có lẽ được hưởng một trong 50 suất học bổng vua João III cấp. Ngài chia sẻ: "Tôi được từ trên cao thúc giục chuyển cách sống trước đây của tôi thành một của lễ hoàn hảo dâng lên Thiên Chúa. Chưa bao giờ tôi trao đổi với cha I-nhã trước, nhưng cha rất nổi tiếng là thánh thiện, nên khi được biết, tôi bày tỏ với cha các tâm tư thầm kín. Tôi không hề biết dự định của ba bạn kia sẽ đi Giêrusalem và dâng hiến đời mình để cứu giúp các linh hồn." Như vậy, chính ngài đã có sáng kiến đến với thánh I-nhã, chứ không phải do thánh I-nhã tìm cách chinh phục. Trong cuốn Dòng Tên Khai Sinh và Phát Triển, cha Rodrigues kể tên các bạn theo thứ tự vào nhóm, và đặt tên mình ngay sau thánh Phanxicô Xavier. Trong cuốn Hạnh Thánh I-nhã, cha Polanco lại đặt ngài ở vị trí cuối. Có lẽ vì sau này ngài gây nhiều rắc rối trong Dòng nên bị cha Polanco coi như người chót hết. Khi ngài nói 'ba bạn kia', có lẽ chỉ thánh I-nhã, chân phước Phêrô Favre và thánh Phanxicô Xavier. Sau này, về cuối đời, ngài sẽ gây không ít khó khăn cho thánh I-nhã.

Diego Lainez và Alfonso Salmeron. Hai người gặp nhau tại đại học Alcalá, miền trung Tây Ban Nha, lúc thánh I-nhã cũng học tại đó (năm 1526), và trở thành một 'cặp bài trùng'. Diego Lainez sinh năm 1512 tại Almazan, miền trung Tây Ban Nha. Gia đình ngài thuộc hàng danh giá và khá giả gốc Do Thái. Ngài có dáng dấp nhỏ bé và yếu ớt, nhưng rất thông minh, nhạy bén, cần cù, lịch thiệp và dễ mến. Alfonso Salmeron sinh năm 1515 tại Toledo, miền trung Tây Ban Nha, trong một gia đình nghèo nhưng hiếu học. Ngài là thành viên trẻ nhất trong nhóm, có dáng dấp vừa phải, rất khỏe mạnh và rất vui tính. Có người cho rằng cả hai đi Paris để gặp lại thánh I-nhã, vì lúc còn ở Alcalá, ngài đã nổi tiếng là thánh thiện. Ngược lại, cũng có người cho rằng hai người đi Paris để đào sâu triết học và thần học, rồi bất ngờ may mắn gặp lại thánh I-nhã ngay trong ngày đầu tiên. Dầu sao, chắc chắn cả hai đã gặp thánh I-nhã ngay trong những ngày đầu tiên ở Paris, năm 1533, sau đó được ngài hướng dẫn và giúp đỡ 'cả về vật chất'. Chúng ta không biết quyết định theo thánh I-nhã là quyết định riêng mỗi người hay cả hai đã bàn bạc rồi đi đến quyết định chung. Sau này, cha Lainez sẽ là vị Bề Trên Cả thứ hai của Dòng Tên, còn cha Salmeron sẽ là một tông đồ xuất sắc trong nhiều lãnh vực.

Nicolas Babadilla sinh năm 1509 tại Bobadilla, miền bắc Tây Ban Nha. Chúng ta không biết tên thật của ngài là gì, vì ngài luôn luôn được người khác lấy sinh quán làm tên để gọi. Là con gia đình nghèo, ngài đã cố gắng học hết đại học tại Alcalá, rồi đi dạy học. Vì muốn học thêm tiếng Latinh, tiếng Hilạp và tiếng Hipri, ngài đến Paris trễ nhất là mùa thu năm 1533. Ngài gặp thánh I-nhã và nhóm bạn khoảng đầu năm 1534, và thay vì đi học ngôn ngữ thì học Kinh Thánh và thần học. Sau này, ngài là một thành viên phản kháng nổi tiếng trong Dòng Tên, nhưng là một tông đồ nhiệt thành không biết mệt mỏi. Ngài cũng sẽ là người cuối cùng trong nhóm qua đời (năm 1590).

 

 

3.         Thủ lãnh và linh hồn của nhóm

 

Thủ lãnh và linh hồn của cả nhóm là Inigo de Loyola, mà ngày nay chúng ta gọi là thánh I-nhã. Ngài thuộc dân tộc thiểu số Basco, sinh năm 1491 tại lâu đài Loyola, tỉnh Guipuzcoa, miền bắc Tây Ban Nha. thuộc giai cấp quí tộc, ngài được huấn luyện trong dinh quan Thống Đốc Ngân Khố Hoàng Gia, rồi trợ lý cho phó vương Navarra. Ngài tự nhận: cho đến năm 30 tuổi, 'chỉ mải mê theo đuổi những chuyện phù phiếm'. Năm 1521, ngài bị thương tại Pamplona, rồi quyết tâm noi gương các thánh 'phục vụ Đức Kitô'. Ngài đến Manresa tĩnh tâm gần một năm, và ý thức được Chúa mời gọi đi 'giúp đỡ các linh hồn'. Đây cũng là thời gian ngài được soi sáng đặc biệt, nhờ đó, ngài khởi sự soạn thảo tập Linh Thao.

Sau khi hành hương Giêrusalem, và không được phép ở lại để truyền giáo cho người Hồi Giáo như lòng ước nguyện, ngài trở về Tây Ban Nha và đi học, để có thể giúp đỡ các linh hồn hơn. Tại Barcelona và Alcala, ngài dùng Linh Thao và những cuộc gặp gỡ để giúp đỡ các linh hồn. Từ những người ngài giúp đỡ, ngài tập họp được bốn người bạn cùng chí hướng, nhưng dần dần tan rã. Năm 1527, ngài đến Paris học đại học. Nhóm thứ hai gồm ba người mau chóng thành hình, nhưng cũng mau chóng tan rã. Khởi sự với chân phước Phêrô Favre và thánh Phanxicô Xavier, sau đó là ba người nữa, ngài hình thành nhóm thứ ba. Đây chính là nhóm tuyên khấn tại Montmartre và nhóm sẽ bền vững để trở thành Dòng Tên.

            Xét về mặt tự nhiên, bảy người thật khó liên kết với nhau lâu dài. Thánh I-nhã và thánh Phanxicô Xavier là người Basco, chân phước Phêrô Favre là người Pháp, Lainez, Salmeron và Bobadilla người Tây Ban Nha, Rodrigues người Bồ Đào Nha. Về nguồn gốc xã hội, có người thuộc giai cấp quí tộc, có người thuộc giai cấp bình dân. Về tính tình, họ rất khác nhau, và cứ bình thường rất dễ xung khắc. Chẳng những vậy, bức tường hiềm khích dân tộc đôi khi khá nặng nề. Hai vị vua Carlos của Tây Ban Nha và Francois của Pháp lúc ấy có thể nói là hai kẻ thù không đội trời chung: chiến tranh lúc nóng lúc lạnh hầu như không dứt. Riêng thánh I-nhã và thánh Phanxicô Xavier còn khó hơn nữa: cùng là dân tộc Basco, nhưng gia đình thánh Phanxicô Xavier chống lại triều đình Tây Ban Nha vì muốn Navarra độc lập; trái lại thánh I-nhã luôn luôn trung thành với triều đình Tây Ban Nha, kể cả khi chống lại người Navarra. Trong trận chiến tại Pamplona năm 1521, thánh I-nhã ở trong pháo đài bị quân đội Pháp và quân đội Navarra bao vây; trong số những người lãnh đạo quân đội Navarra ấy, có hai người anh của thánh Phanxicô Xavier.

Rút kinh nghiệm từ hai lần trước, thánh I-nhã không nóng vội. Hằng tuần, mỗi Chúa Nhật, ngài cùng với các bạn đến xưng tội và dự lễ tại đan viện Notre-Dame de Vauvert dòng Chartreux. Sau thánh lễ, các bạn chia sẻ với nhau bữa ăn huynh đệ và lý tưởng tông đồ. Những buổi sinh hoạt như vậy ai muốn đến dự cũng được, khi nào chán thì bỏ, thấy thích hợp thì tiếp tục. Sau nhiều gạn lọc, có 6 người thực sự muốn gắn bó với nhóm. Rồi mỗi người lần lượt, từng người một, tập Linh Thao 30 ngày do thánh I-nhã hướng dẫn. Một lý tưởng tông đồ nung nấu những sinh viên trẻ đầy nhiệt huyết, đồng thời một tình bạn thiêng liêng lớn dần, nối kết bảy người lại thành một, vượt qua mọi ngăn cách tự nhiên sẵn có. Kết quả là nhóm bạn đi đến một quyết định chung: cùng nhau tuyên khấn sống theo ơn gọi và lý tưởng tông đồ của thánh I-nhã. Thánh I-nhã gọi nhóm này là Những người bạn trong Chúa: chính tình bạn trong Chúa liên kết họ với nhau. Đây sẽ là điều cốt yếu trong thân thể Dòng Tên.

Sau khi đã thảo luận lâu dài, họ quyết định mọi người sẽ buộc mình với lời khấn thanh bần, hành hương Giêrusalem, và khi trở về sẽ hết lòng làm việc cho tha nhân được cứu độ, cả dân ngoại cũng như tín hữu, giảng Lời Chúa cho mọi người, ban các bí tích Giải Tội và Thánh Thể mà không đòi trả công. Rồi họ giải thích cho rõ hơn về các lời khấn. Lời khấn thanh bần chỉ có hiệu lực đầy đủ khi đã học xong. Mặt khác, lộ phí đi Giêrusalem không kể vào lời khấn. Về hành hương, nếu một năm sau khi học xong mà chưa đi được, hoặc nếu sau khi hành hương họ quyết định trở về Châu Âu, họ sẽ để cho Đức Thánh Cha ấn định cách sống đời tông đồ, các hoạt động mục vụ hay từ thiện, địa phương hoạt động… Nếu ai được Đức Thánh Cha ủy thác sứ mạng thì đã thấy rõ đó là ý Chúa rồi, không cần đắn đo gì nữa. Có người đề nghị phải quyết định ngay về việc 'đem ánh sáng chân lý đến cho dân ngoại'. Họ đồng ý tất cả sẽ đáp tàu biển đi Giêrusalem. Ở đó sẽ xin ơn Chúa để quyết định ở lại hay về Châu Âu. Nếu đa số muốn ở lại, tất cả sẽ ở lại truyền giáo cho người Thổ Nhĩ Kỳ; nếu đa số không muốn ở lại thì tất cả, không trừ ai, sẽ trở về Châu Âu. Như vậy là họ đã quyết định gắn bó với nhau, không để cho những ý kiến khác biệt làm họ chia lìa.

 

 

4.         Hiện tại và tương lai.

 

Các lời khấn ở Montmartre đều hướng về tương lai: sau khi học xong. Trước mắt, tất cả còn phải hoàn tất chương trình đại học hoặc lấy học vị tiến sĩ. Trong thời gian ấy, các bạn tiếp tục chương trình họp mặt Chúa Nhật tại Vauvert. Năm 1535, sau khi tốt nghiệp đại học, thánh I-nhã theo lời khuyên của bác sĩ và các bạn về quê để dưỡng bệnh và dàn xếp công việc của các bạn người Tây Ban Nha. Thánh Phanxicô Xavier giới thiệu thánh I-nhã với gia đình mình: "Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho em được biết ngài Inigo. Qua thư này, em muốn nhìn nhận là bao lâu còn sống, không bao giờ em trả được món nợ cho ngài…Tiếp xúc với ngài và nghe lời khuyên của ngài, anh sẽ được giúp đỡ rất nhiều, vì đó là một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách được." [5] Trước khi chia tay ngài, cả nhóm hẹn sẽ gặp lại nhau tại Venezia, miền đông bắc nước Ý, đầu năm 1537 để lên tàu đi Giêrusalem. Tương lai thật bấp bênh. Hai nhóm trước đã tan rã, thánh I-nhã có chắc chắn là nhóm thứ ba này sẽ bền vững không?

Nếu nhóm bền vững, liệu những dự trù trong các lời khấn có khả thi không? Giêrusalem lúc ấy đang do người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo cai trị, một nhóm 7 người liệu có hi vọng làm được gì ở đó? Hội Thánh lúc ấy có nhiều điều đáng buồn. Phong trào Phục Hưng khởi đầu ở Ý chẳng bao lâu sau đã lan rộng khắp Châu Âu, làm thay đổi mọi thứ cảm quan của thời Trung Cổ. Nếp sống tôn giáo và văn hóa truyền thống trở nên như một cái áo đã cũ, không còn thích hợp nữa. Một thời đại mới đang bắt đầu với lối suy tưởng mới, nền văn chương mới, lối kiến trúc mới, nếp sống mới. Phong trào Phục Hưng được nhiều vị giáo hoàng bảo trợ như Sixtô V (1471-1484), Giuliô II (1503-1513), Lêô X (1513-1521). Phong trào cải cách Tin Lành phần nào là phản ứng chống lại phong trào Phục Hưng mang nặng tính cách thế tục đã xâm nhập nhiều lãnh vực của Hội Thánh, đặc biệt hàng giáo phẩm. Năm 1517, phong trào cải cách Tin Lành đã chính thức tách khỏi Hội Thánh. Chính trong năm 1534 này, vua Henry VIII của nước Anh buộc thần dân nhìn nhận mình là thủ lãnh tối cao và duy nhất của Giáo Hội Anh. Hội Thánh bị xâu xé. Cũng chính trong năm 1534, chỉ hai tháng sau các ngài khấn, vị Giáo Hoàng Phaolô III nhậm chức. Ngài sinh năm 1468, may mắn là có dòng máu quí tộc và có người em gái, người ta quen gọi là Giulia Hoa Hậu, lăng nhăng với vị Giáo Hoàng đầy tai tiếng Alexandrô VI, nên được tấn phong Hồng Y năm 28 tuổi, lúc chưa có chức thánh nào. Chính bản thân vị hồng y trẻ cũng làm gương xấu không ít: cụ thể là có 4 người con rơi mà ngài quí mến và dành nhiều giờ để chăm sóc.

Năm 1492, Colombo đặt chân lên Châu Mỹ. Năm 1597, Vasco da Gama tìm ra đường biển từ Châu Âu sang Châu Á vòng qua Mũi Hảo Vọng ở cực nam Châu Phi. Các nhà buôn đổ xô đi chiếm thị trường. Các đế quốc đổ xô đi chiếm thuộc địa. Nhiều thừa sai cũng theo chân họ đem Tin Mừng đến chân trời góc biển. Nhóm 7 người bạn sẽ làm được gì trong nỗ lực canh tân Hội Thánh và truyền giáo cho dân ngoại. Xét về mặt tự nhiên, tương lai thật không có gì tươi sáng. Nhưng nếu chính Thiên Chúa đã qui tụ các ngài thì cũng chính Thiên Chúa sẽ ở với các ngài. Cha John W. O'Malley gọi việc nhóm bạn tuyên khấn tại Montmartre là 'tảng đá góc tường của Dòng Tên tương lai' [6]. Nếu thực sự Thiên Chúa đã khởi công, chính Người cũng sẽ hoàn thành.

 

 

 

Chương 2

 

ĐOÀN GIÊSU

 

Hành hương Giêrusalem là ước nguyện của nhiều tín hữu trong mọi thời đại, đặc biệt là các tín hữu Châu Âu thời Trung Cổ, và cũng là một trong những nội dung chính của lời khấn Montmartre năm 1534. Ngay khi hoán cải, năm 1521, thánh I-nhã đã có ý đi hành hương Giêrusalem để làm việc đền tội. Năm 1523, không một đồng trong túi, ngài thực hiện chuyến hành hương để 'thực tập đức cậy, đức tin và đức mến' [7]. Ngài ước ao được ở lại Giêrusalem để truyền giáo cho người Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng giáo quyền không cho phép. Sau đó, hẳn là ngài vẫn ước nguyện được sống và hoạt động tông đồ tại Giêrusalem, nên thuyết phục cả nhóm cùng đi.

 

1.         Hẹn nhau tại Venezia

 

Thời ấy, người Thổ Nhĩ Kỳ cai trị toàn bộ Đất Thánh. Hằng năm người Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cho phép tổ chức một chuyến hành hương Giêrusalem duy nhất, khởi hành ở Venezia. Vì thế các bạn hẹn nhau tại đó để chờ xuống tàu.

Thánh I-nhã đến trước nhất. Sau ba tháng tại quê nhà, ngài đến thăm gia đình một số các bạn trong nhóm để báo tin và thu xếp công việc, thí dụ gia đình thánh Phanxicô Xavier và gia đình cha Lainez. Ngài cũng đi thăm những người trong nhóm bạn thứ nhất và thứ hai, mong họ gia nhập nhóm mới, nhưng ai nấy đều đã ổn định trong cuộc sống mới. Sau một hành trình vất vả trên biển và trên bộ, ngài đến Venezia vào đầu năm 1536. Ngài tiếp tục chương trình thần học, đồng thời 'hướng dẫn Linh Thao và nói chuyện về đời sống thiêng liêng' [8]. Ngài cũng thu nhận thêm một thành viên mới là Diego de Hoces, người Tây Ban Nha.

Tại Venezia, thánh I-nhã gặp một tai nạn nhỏ sau này sẽ gây phiền hà nhiều. Qua Hoces, ngài gặp đức cha Gian Pietro Carafa, sau này sẽ là Đức Giáo Hoàng Phaolô IV (1555-1559). Vị này từng là giám mục giáo phận Chieti, nhưng đã từ chức để cùng với thánh Gaêtanô (+ 1547) sáng lập Dòng Thêatinô. Lúc đầu, hai bên khá thân thiện. Có lúc vị giám mục đã đề nghị thánh I-nhã cho nhóm bạn của ngài hợp nhất với Dòng Thêatinô. Tuy nhiên, ngài không đồng ý vì hai bên có quan điểm khác nhau về cách tu. Ngài nhận thấy dòng tu này không phát triển được, trong khi nếu phát triển được thì có thể phục vụ và ca ngợi Chúa hơn. Tại sao không phát triển được? Ngài cho là có hai lý do: (1) Đức cha Carafa vẫn sống xa hoa và sang trọng như một giám mục, chứ không như một tu sĩ, tức là 'theo tinh thần của thánh Phanxicô, thánh Đaminh và nhiều vị thánh lập dòng khác'; (2) Cách sống nghèo của dòng tu ấy không thích ứng với những đòi hỏi của đời tu: các tu sĩ không đi khất thực, nên thiếu ăn; không đi giảng dạy, cũng chẳng lo công tác từ thiện, để mưu ích cho tha nhân, nên các tín hữu ít ai biết đến để giúp đỡ. Ngài giải thích thêm: Nếu họ làm những điều ngài nói, Thiên Chúa sẽ được phục vụ hơn, các tín hữu được thúc đẩy lo cho họ sống với lòng bác ái lớn hơn, các giáo sĩ khác quá ham tiền sẽ được thúc giục hối cải hơn, và những người công chính sẽ được khích lệ để bền vững và tiến tới hơn. Nhìn vào gương các vị thánh lập dòng, chúng ta thấy các ngài chờ mong mọi sự với lòng tin tưởng vô biên nơi Chúa, nhưng vẫn không bỏ qua những phương tiện hữu hiệu nhất để duy trì và phát triển dòng, nhằm ca ngợi và phục vụ Chúa hơn. Làm khác đi là thử thách Thiên Chúa chứ không theo con đường phải theo để phục vụ Chúa. Đó chính là nội dung lá thư ngài viết năm 1536, không đề ngày, và cũng chẳng biết thư có được gởi đi không. Từ đó, hai bên kể như cắt đứt mọi liên lạc, và nghiêm trọng hơn là hai bên không thể bàn bạc hay cộng tác với nhau ở điều gì nữa.

Tại Paris, nhóm sinh hoạt đều đặn. Mỗi năm đến ngày 15 tháng 8, nhóm lặp lại lời khấn năm 1534, và thâu nhận thêm thành viên mới. Năm 1535, thêm cha Claude Jay, đồng hương với chân phước Phêrô Favre, sinh khoảng năm 1500-1504, thụ phong linh mục năm 1528. Năm 1536, thêm hai người Pháp nữa là Paschase Broet, sinh năm 1500, thụ phong linh mục năm 1524, và Jean Baptiste Codure, sinh năm 1528, chưa thụ phong linh mục.

Theo dự tính ban đầu, nhóm sẽ rời Paris ngày 25.1.1537 để đi Venezia. Nhưng giữa hai kẻ thù không đội trời chung là Carlos V của Tây Ban Nha và Francois I của Pháp không thể có hòa bình lâu dài được. Tháng 6 năm 1536, Tây Ban Nha tuyên chiến với Pháp vì vụ kế vị tại Milano, miền bắc nước Ý. Tháng 7, quân đội Tây Ban Nha tấn công miền nam và tháng 8 xâm lấn miền bắc nước Pháp. Dân chúng Pháp sôi sục tình cảm bài Tây Ban Nha. Trong 9 thành viên của nhóm, có đến 4 là người Tây Ban Nha, nên ở Paris lúc ấy thật là không thuận lợi. Họ quyết định rời Paris sớm, để bảo toàn nhóm, mặc dầu vuột mất bằng tiến sĩ. Nhiều người ngoài nhóm phản đối quyết định ấy, vì cho rằng ở Paris họ có thể làm việc tông đồ bằng hai ở bất cứ đâu khác, và lên đường trong lúc chiến tranh là phạm tội trọng vì liều mạng. Nhưng họ đã dứt khoát.

Để tránh những chiến tuyến, họ không theo lối miền nam vừa gần vừa dễ đi hơn. Họ sẽ đi về hướng đông, rồi băng qua Đức và Thụy Sĩ. Họ chia làm hai toán, mỗi toán có cả người Pháp lẫn người Tây Ban Nha. Nếu gặp quân đội nước nào, chỉ người nước ấy nói, những người khác im lặng. Nếu có ai hỏi, họ chỉ trả lời mình là sinh viên ở Paris, đi hành hương viếng đền thánh Nicola ở Lorraine. Một toán khởi hành ngày 11.11.1536, một toán khởi hành sau đó 4 ngày. Tất cả đều mặc đồng phục sinh viên, tức là áo chùng thâm và đội mũ đen, mỗi người mang trên vai một cái bị đựng ít quần áo và cuốn Kinh Thánh, cổ đeo tràng hạt, chứng tỏ mình là người Công Giáo chứ không phải Tin Lành. Riêng các linh mục có thêm cuốn sách nguyện. Giữa mùa đông khắc nghiệt, họ đi bộ, chịu lạnh, chịu đói, nhiều lúc rất nguy hiểm, đặc biệt khi ngang qua những khu vực Tin Lành và khi vượt dãy núi Alpes. Đối với đa số các bạn, đây là kinh nghiệm đầu tiên về 'con đường nghèo khó và cầu nguyện' cũng như về nghị lực tinh thần. Sau gần 2 tháng, vượt qua trên dưới 1000 km, cả 9 đến Venezia bình an ngày 8.1.1537. Hẳn là cả nhóm đều vui mừng. Hai năm thử thách đã qua, và nhóm chẳng những bền vững mà còn tăng trưởng về con số cũng như về tinh thần. Từ 7 người, nay họ đã thành 11. Hơn nữa, họ đã thực sự nên một.

Ít nhất cũng phải đến tháng 6 hay tháng 7 mới có tàu đi Giêrusalem. Họ lại chia thành hai toán đi phục vụ ở hai bệnh viện trong vùng: một ở bệnh viện Santi Giovanni e Paolo, một ở bệnh viện Nan Y. riêng thánh I-nhã tiếp tục tự học thần học một mình.

 

2.         2.    Thụ phong linh mục

 

Theo thói quen gần như bắt buộc thời ấy, ai muốn đi hành hương Giêrusalem phải đến Rôma xin phép Tòa Thánh và xin phép lành của Đức Thánh Cha.

Ở Rôma lúc ấy có hai nhân vật thánh I-nhã rất ngại gặp. Trước hết là tiến sĩ Pedro Ortiz, đại diện của hoàng đế Carlos V bên cạnh Tòa Thánh. Theo người ta nói, chính ông này trước đây tại Paris đã tố cáo thánh I-nhã trước Tòa Án Giáo Lý. Thứ đến là giám mục Gian Pietro Carafa. Vị này đã bất đồng ý kiến nặng nề với thánh I-nhã đến độ có thể nói là không muốn nhìn mặt nhau nữa. Thánh I-nhã sợ rằng sự hiện diện của ngài ở Rôma có thể gây khó khăn cho các bạn, nên ngài ở lại Venezia. Các bạn khác rời Venezia ngày 13.3.1537.

Một lần nữa, họ đi bộ trên một chặng đường dài, tuy nhiều lúc mệt mỏi và thiếu thốn, nhưng đầy tràn niềm vui thiêng liêng và huynh đệ. Họ đến Rôma ngày 25 tháng 3, đúng ngày Lễ Lá. Điều bất ngờ là họ gặp tiến sĩ Ortiz ngay tại bệnh viện họ đến xin ở trọ, lại được ông bảo lãnh và giới thiệu với Đức Thánh Cha Phaolô III. Ngày 3 tháng 4, ngài tổ chức một buổi tranh luận thần học theo thói quen thường có thời ấy. Các bạn đã tỏ ra xuất sắc đến nỗi họ xin gì mà ngài cho được thì ngài cũng cho. Nhưng họ chỉ xin ngài chúc lành và cho phép đi Giêrusalem. Chẳng những họ được phép và được chúc lành mà còn được Đức Thánh Cha cùng với các hồng y và giám mục cho tiền để thực hiện chuyến hành hương. Hơn nữa, ngài cũng cho phép những ai trong nhóm chưa là linh mục đều được chịu chức linh mục. Cả thánh I-nhã không có mặt cũng được hưởng các đặc ân chung với nhóm.

Họ trở lại Venezia đầu tháng 5. Để chuẩn bị nhận chức thánh, họ lại chia nhau đi phục vụ trong các bệnh viện như trước. Ngày 24.6.1537, thánh I-nhã cùng với 5 bạn khác là thánh Phanxicô Xavier, Diego Lainez, Simão Rodrigues, Nicolas Bobadilla và Jean Baptiste Codure thụ phong linh mục do giám mục Vincenzo Nigusanti "với tư cách thanh bần" [9], tức là không có giáo bổng. Riêng Alfonso Salmeron phải chờ tới khi tròn 22 tuổi theo đúng qui định của Giáo Luật thời ấy. Các tân linh mục ước ao được dâng lễ mở tay tại Giêrusalem.

Bầu khí chiến tranh giữa Venezia và Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng trở nên nặng nề hơn. Căng thẳng giữa hai liên minh, một bên là Thổ Nhĩ Kỳ và Pháp, bên kia là Venezia, Tây Ban Nha và Tòa Thánh, lên tới đỉnh cao năm 1536. Các tàu chiến Thổ Nhĩ Kỳ lởn vởn trên Địa Trung Hải và biển Adriatic, trong khi Venezia ở trong tình trạng ứng chiến. Hy vọng đi Giêrusalem trở nên mong manh. Dầu sao, vẫn cứ chờ đợi một năm như đã khấn.

Trong khi chờ đợi, họ quyết định chia nhau đến các nơi thanh vắng để hồi tâm và cầu nguyện, chuẩn bị dâng lễ mở tay. Họ rút thăm chia toán. Thánh I-nhã cùng với chân phước Favre và cha Lainez đi Vicenza, một thị trấn cách Venezia chừng 60 km về phía tây. Những người khác đi Monselice, Treviso, Bassano và Verona, tất cả đều ở quanh khu vực Venezia, để khi có tàu thì sẵn sàng lên đường. Họ rời Venezia ngày 25 tháng 7. Thánh I-nhã thuật lại: "Kẻ hành hương cùng với Favre và Lainez đi Vỉcenza. Họ tìm được một căn nhà ở ngoài thành phố, không có cửa ra vào cũng không có cửa sổ. Họ ở đó và ngủ trên ít rơm họ đem vào. Mỗi ngày hai người vào thành phố xin ăn hai lần, nhưng được rất ít, nên chỉ sống cầm hơi. Thường thì họ ăn một chút bánh mì nướng, khi có; ai ở nhà thì lo nướng bánh. Họ sống 40 ngày như vậy, chẳng làm gì khác ngoài cầu nguyện." [10]  Vì thiếu ăn và chịu mưa chịu gió, cả ba cùng bị đau ốm, nhưng ai nấy vẫn tràn đầy niềm vui thiêng liêng và chuyên chăm cầu nguyện. Vicenza trở nên như Manresa thứ hai của ngài: ngài thường có thị kiến và được ơn an ủi đến nỗi khóc gần hư cả mắt. Dầu vậy, khi được tin cha Rodrigues đang bị đau ốm ở Bassano, cách Vicenza chừng 30 km, ngài đang bị sốt mà vẫn đi thăm, và đi bộ nhanh đến nỗi chân phước Favre trẻ hơn 15 tuổi phải cố gắng lắm mới theo kịp.

 

3.         3.      Chọn tên cho nhóm

 

Bầu khí chiến tranh giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Venezia cho thấy triển vọng đi Giêrusalem thật xa vời. Đến cuối tháng 9, thánh I-nhã gọi tất cả nhóm tập họp tại Vicenza để hội ý. Tại đây, 4 tân linh mục Xavier, Lainez, Bobadilla và Codure dâng lễ mở tay, hoàn toàn âm thầm nhưng rất sốt sắng. Thánh I-nhã và cha Rodrigues vẫn hi vọng sẽ được dâng lễ mở tay ở Giêrusalem. Hơn nữa, thánh I-nhã 'đã quyết định chưa dâng lễ trong vòng một năm, để dọn mình và khấn xin Đức Mẹ thương đặt mình với Con của Mẹ' [11].

Chưa có tàu đi Giêrusalem, phải làm gì? Họ quyết định đến các nơi trong vùng có trường đại học để giảng thuyết và dạy học, giải tội và hướng dẫn Linh Thao… hy vọng thu nhận thêm một số sinh viên cùng chí hướng: Codure và Hoces đi Padova, Jay và Rodrigues đi Ferrara, Xavier và Bobadilla đi Bologna, Broet và Salmeron đi Siena. Riêng thánh I-nhã sẽ cùng với chân phước Favre và cha Lainez đi Rôma với mục đích tương tự, đồng thời chuẩn bị nếu không đi Giêrusalem được thì cả nhóm sẽ 'dâng mình cho Đức Thánh Cha'. Trước khi chia tay, cần giải đáp câu hỏi này: nếu người ta hỏi họ thuộc nhóm nào thì phải trả lời ra sao? Hóa ra từ hơn 3 năm, kể từ ngày tuyên khấn lần đầu ở Montmartre, nhóm vẫn chưa có tên. Đã có những người gọi họ là nhóm I-nhã, nhưng thánh I-nhã nhất định phản đối. Ngài đề nghị các bạn đi cầu nguyện. Sau đó mọi người nhất trí tự xưng là Đoàn Giêsu. Sau này cha Polanco giải thích lý do: "Vì giữa họ không có ai là thủ lãnh hay bề trên, ngoài Đức Giêsu Kitô là Đấng duy nhất họ phục vụ, họ thấy nên lấy tên của Đấng họ coi là đầu để đặt cho tập thể." Đây sẽ là tên chính thức của nhóm và sau đó là của dòng. Tên nhóm có vẻ đơn giản nhưng diễn tả cả một linh đạo.

Như những người bạn đường của Chúa Giêsu, họ chia tay nhau lên đường, chờ ngày cùng nhau đi Giêrusalem hay đến Rôma. Cha Pedro Arrupe nói về việc thánh I-nhã đi Rôma lần này: "Có lẽ thánh I-nhã không ý thức, nhưng ngài đang tiến đến nơi Thiên Chúa mong đợi ngài." [12]

 

4. Thị kiến La Storta

           

Vicenza đưa thánh I-nhã đến chỗ chìm ngập trong bầu khí thần linh, mà nổi bật hơn hết là ước nguyện được nên một với Chúa Giêsu nghèo hèn. Trên quãng đường 300 km từ Vicenza đến Rôma, ngài được Chúa ban ơn sốt sắng mãnh liệt, mắt gắn chặt vào những thực tại siêu nhiên, lòng tha thiết xin Đức Mẹ cầu khẩn cho mình ơn 'được đặt với Con của Mẹ'.

Tháng 11.1537, khoảng ngày 15, ngài cùng với hai bạn đồng hành đến một địa điểm cách Rôma chừng 15 km về phía bắc gọi là La Storta. Tại đó, có một ngôi nhà thờ nhỏ nằm ngay bên đường. Thánh I-nhã kể: "Một hôm, kẻ ấy đang cầu nguyện trong một nhà thờ, cách mấy dặm nữa thì đến Rôma, kẻ ấy cảm thấy một sự biến đổi trong tâm hồn, và thấy rõ Thiên Chúa Cha đặt mình cùng với Đức Kitô là Con của Người; đến nỗi kẻ ấy không bao giờ dám nghi ngờ việc Thiên Chúa Cha đã đặt mình với Con của Người." [13]

            Cha L.G. da Câmara cho thánh I-nhã biết là cha Lainez kể hơi khác, thì ngài trả lời là "tất cả những gì cha Laynez kể đều đúng, vì chính kẻ ấy không nhớ các chi tiết." [14]

Cha Lainez kể: "Nền tảng đầu tiên của danh hiệu này [15] là Cha I-nhã, như tôi sắp giải thích. Trên đường đi Rôma theo ngả Siena, Cha hay được Thiên Chúa đến thăm viếng và ban nhiều tâm tình thiêng liêng, đặc biệt liên hệ với bí tích Thánh Thể cực trọng, mà hằng ngày Cha nhận từ tay cha Phêrô Favre hay từ tay tôi [16], vì chúng tôi dâng thánh lễ mỗi ngày, riêng Cha thì không... Cha nói với tôi rằng hình như Thiên Chúa Cha đã ghi khắc vào trong lòng Cha những lời này: "Cha sẽ phù hộ chúng con ở Rôma". Và không hiểu những lời ấy muốn ám chỉ gì, Cha nói: "Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho chúng ta ở Rôma, có thể chúng ta sẽ bị đóng đinh vào thập giá ở Rôma." Rồi một lần khác, Cha nói hình như Cha thấy Chúa Giêsu vác Thánh Giá và Chúa Cha ở bên cạnh đó nói với Đức Kitô: "Cha muốn Con nhận người này làm đầy tớ". Và thế là Đức Giêsu thực sự đón nhận Cha và nói: "Ta muốn con phục vụ Chúng Ta." Vì thế, Cha rất sùng kính thánh danh cực trọng, và ước mong đặt tên cho nhóm là Đoàn Giêsu." [17]

Thánh Phêrô Kanijs, có lẽ theo lời kể của chân phước Favre, thuật lại lời Chúa Cha hơi khác: "Ta sẽ ở với các con."

            Kinh nghiệm La Storta rất đậm nét trong đời sống thánh I-nhã: hơn sáu năm sau, ngài viết trong Nhật Ký Thiêng Liêng: "Tôi nhớ lại hôm tôi được Chúa Cha đặt với Chúa Con." [18] Đây là kinh nghiệm thiêng liêng quan trọng hàng đầu trong đời sống thánh I-nhã, đánh dấu đỉnh cao của quá trình 17 năm hành hương. Tại Loyola, ngài đã nghe được lời mời gọi phục vụ Đức Kitô và đã quảng đại đáp ứng. Tại Manresa, trong bài Hai cờ hiệu của Linh Thao, ngài đã xin được nhận vào dưới cờ của Đức Kitô. Nay ở La Storta, ngài được đặt với Chúa Con. Ngay lúc ấy, ngài có ấn tượng mạnh đến nỗi ngài nói với hai bạn cùng đi: "Tôi không biết chuyện gì sẽ đến với chúng ta . Có thể ở Rôma chúng ta sẽ bị đóng đinh vào Thánh Giá."

Cha André Ravier bình luận: "Đặt trở lại vào toàn bộ đời sống thần nhiệm của thánh I-nhã từ lúc hoán cải, đưa lại vào trong chuyển động của Tình Yêu đã thúc đẩy thánh I-nhã bắt chước và kết hiệp với Chúa Kitô (đúng theo nghĩa của thánh Gioan dùng) cùng lao nhọc và chịu đau khổ với Người để tôn vinh Thiên Chúa Cha hơn, thị kiến La Storta xuất hiện như thời điểm nổi bật, mặc dù biến cố rất giản dị; nơi thị kiến ấy kết tinh cả định mệnh của một con người của sứ mạng Thiên Chúa ủy thác cho con người ấy và của cả công trình con người ấy sẽ thực hiện. Nếu như một số người thường nói, La Storta mang tính tiên tri, thì trước tiên do nó xác chuẩn cả một quá khứ đầy ân sủng." [19]

            Cha Pedro Arrupe giải thích: "Ở La Storta, số phận của Dòng đã được định đoạt. Thánh I-nhã và các bạn có lẽ vẫn có thể đi Giêrusalem, mặc dầu điều này dĩ nhiên sẽ kéo theo một loạt những hệ quả mà chúng ta chỉ còn biết dự đoán. Nhưng sự chuẩn y của La Storta còn hàm ý rằng Rôma đã trở thành nơi Đoàn Giêsu phải ưu tiên hướng tới, và phụ khoản Giáo Hoàng của lời khấn Montmartre, trước đây chỉ là một giả định, thì nay sẽ trở thành yếu tố định đoạt số phận của Dòng. Chỉ còn sáu tháng nữa là tròn một năm chờ đợi để lời khấn đi Giêrusalem nhường chỗ cho phụ khoản 'trình diện vị Đại Diện Đức Kitô để ngài tùy ý sử dụng vào nơi nào ngài thấy là tôn vinh Thiên Chúa hơn và mưu ích cho các linh hồn hơn' [20]. Tất cả những từ ngữ 'sử dụng', 'vị Đại Diện Đức Kitô', 'tôn vinh Thiên Chúa hơn', 'mưu ích cho các linh hồn', đã hoàn toàn là đặc trưng Giêsu hữu. Dây liên kết đặc biệt với vị Đại Diện Đức Kitô đang ngày một rõ hơn. Nếu ở Cardoner mà những 'cảm nhận về những mầu nhiệm của Chúa' cũng đã được mở rộng đến những mầu nhiệm Hội Thánh [21], rồi sau đó ở Montmartre cũng thế, thì giờ đây ở La Storta, ngay ngưỡng cửa Rôma, thánh I-nhã thấy rằng việc phục vụ Hội Thánh đòi phải ứng trực đối với vị Đại Diện Đức Kitô."  [22]

Sau bao nhiêu năm lần bước theo một tiếng gọi tuy âm thầm nhưng rất mãnh liệt, giờ đây ngài xác định được rõ ràng ơn gọi của ngài và các bạn cùng chí hướng :

(1)        (1)              Ơn ngài xin từ lâu đã được Thiên Chúa nhận lời, đó là được đặt với Chúa Con, được phục vụ Chúa Giêsu vác Thánh Gía;

(2)        (2)              Thiên Chúa phê chuẩn danh hiệu Đoàn Giêsu, vì ngài và các bạn cùng chí hướng được nhận làm bạn đồng hành với Chúa Giêsu;

(3)        (3)              Ngài và các bạn cùng chí hướng không đi Giêrusalem nữa, nhưng đến Rôma, đặt mình dưới quyền sử dụng của Đức Thánh Cha.

 

Với thị kiến La Storta, xác tín về lời Chúa Cha: "Cha sẽ phù hộ chúng con tại Rôma",  thánh I-nhã gọi tất cả các bạn về Rôma, chuẩn bị 'dâng mình' cho Đức Thánh Cha. Thật ra hạn định một năm chờ tàu chưa hết, nhưng như chân phước Phêrô Favre nói: "Chúng tôi đi theo một tiếng nói."

            Thực tế là chuyến hành hương Giêrusalem của thánh I-nhã và các bạn dự tính trong năm 1537 đã không thực hiện được: chỉ năm 1537 không có tàu đi Giêrusalem. Tuy nhiên, ước nguyện hành hương Giêrusalem hình như vẫn nung nấu các ngài. 18 năm sau, khi dự tính đến Trung Hoa truyền giáo, thánh Phanxicô Xavier viết cho thánh I-nhã: "Mọi người đều nói với con là từ Trung Hoa có thể đi Giêrusalem được." [23] Mặc dầu 'phụ khoản Giáo Hoàng' của lời khấn đã đưa đến việc thành lập Dòng Tên, hai ước nguyện song song là được sống gần với Chúa Giêsu và truyền giáo cho dân ngoại lúc nào cũng thôi thúc các Giêsu hữu.

 

 

 

2a

Bài đọc thêm

 

Danh Hiệu

ĐOÀN GIÊSU

 

            Trong số những câu hỏi được nêu lên liên hệ đến những điều được bao gồm trong Thị kiến La Storta, có câu hỏi về danh hiệu Đoàn Giêsu của Dòng Tên. Cũng như những biến cố khác trong kinh nghiệm La Storta, vấn đề này đòi phải có một cơ sở lịch sử và một giải thích thần học. Chúng tôi sẽ cố gắng làm công việc đó.

            Chúng ta cần nhắc lại là trong bài huấn dụ ngày 2.7.1559 của cha Lainez, trong đó ngài giải thích nguồn gốc phát sinh Dòng Tên, ngài liên kết danh hiệu Đoàn Giêsu với những gì xảy ra tại La Storta:

            Nền tảng đầu tiên của danh hiệu này [24] là Cha I-nhã, như tôi sắp giải thích. 

            Và sau khi đã thuật lại các điều xảy ra cho thánh I-nhã ở La Storta, cha Lainez kết luận:

            Vì thế, Cha rất sùng kính thánh danh cực trọng, và ước mong đặt tên cho nhóm là Đoàn Giêsu.

            Điều này đặt chúng ta đối diện với việc trình bày các sự kiện mà, có thể vì các lý do sư phạm, ngài đã tóm tắt trong vài ba hàng những biến cố có lẽ đã diễn ra trong một thời gian lâu dài hơn ngài gợi ý. Riêng về danh hiệu Đoàn Giêsu, một số tác giả đã cho biết nguồn gốc và lý do nhóm các cha đầu tiên đã chọn. Các tác giả này cũng chính là những người đã nhiều lần khác nhau và nhằm những mục đích khác nhau đề cập Thị kiến La Storta: Nadal, Polanco và Ribadeneira.

            Một chứng từ của cha Polanco, được viết năm 1547- 1548, và được gọi là Summarium Hispanicum, kể lại những điều các bạn đồng hành của thánh I-nhã nói hay viết về nguồn gốc và sự lớn mạnh của Dòng. Về vấn đề danh hiệu, cha Polanco cho biết tên của Đoàn được chọn trước khi các cha đầu tiên đến Rôma. Bản văn qui chiếu trực tiếp về La Storta.

            Danh hiệu là Đoàn Giêsu. Danh hiệu này do các bạn đầu tiên chọn trước khi đến Rôma. Họ trao đổi với nhau về việc người ta hỏi họ thuộc về hội nào hay nhóm nào (họ có 9 hay 10 người), thì phải trả lời thế nào. Họ bắt đầu cầu nguyện và suy nghĩ xem danh hiệu nào thích hợp nhất. Vì thấy ngoài Đức Giêsu Kitô, giữa họ không có đầu hay trưởng nào khác, và họ chỉ phục vụ một mình Người thôi, nên họ thấy nhận tên của Đấng là đầu của nhóm là đúng, và họ tự xưng là Đoàn Giêsu. Về điều này, Cha I-nhã đã được Đấng mà các bạn đầu tiên đã nhận tên đến thăm viếng thiêng liêng rất nhiều lần, và ra nhiều tín hiệu cho biết Người phê chuẩn và chuẩn y danh hiệu ấy, đến nỗi tôi đã nghe chính Cha I-nhã nói nếu nghĩ là danh hiệu ấy không phù hợp, cha tin rằng cha chống lại Thiên Chúa. Và vì người ta nói cha và viết thư cho cha để yêu cầu đổi tên Đoàn Giêsu - có người cho rằng chúng ta đang tự tôn mình lên ngang hàng với Chúa Giêsu, và người khác đưa ra những lý lẽ khác - cha nói với tôi , tôi nhớ, nếu mọi người trong Dòng Tên cùng với mọi người khác, những người không bị buộc phải tin, mà nếu không tin thì có tội, nghĩ là phải đổi tên, thì một mình cha vẫn không bao giờ đồng ý. Ngoài ra, vì Hiến Chương [25] định rằng không được quyết định gì nếu chỉ một trong các bạn đầu tiên không động ý, nên bao lâu ngài còn sống, danh hiệu này sẽ không bao giờ thay đổi. Cha I-nhã thường có lập trường sắt đá như vậy trong những điều mà ngài biết được do những cách thức vượt trên sự hiểu biết của loài người. Và trong những vấn đề như vậy, ngài không chịu khuất phục bất kỳ lý lẽ nào.

            Thực ra danh hiệu Đoàn Giêsu đã được chọn trong cuộc bàn luận tập thể ở Vicenza vào tháng 9 năm 1537. Có thể gọi đó là một một cuộc lựa chọn, điều được đề cập trong Linh Thao, nhưng được thực hiện trong một nhóm. Điều này bao gồm cầu nguyện riêng và chung, cân nhắc các ý kiến khác nhau, phân tích và lượng giá các chuyển biến nội tâm, như sau này các cha đầu tiên sẽ làm một cách hệ thống hơn ở Rôma vào Mùa Chay năm 1539. Danh hiệu đó các cha đầu tiên chọn, nhưng cha Ribadeneira ghi nhận là thánh I-nhã đã đề nghị dành cho ngài việc chọn tên cho nhóm theo lòng sùng mộ của ngài:

            Do đó [26], khi Cha I-nhã và các bạn sau này quyết định thành lập một dòng tu, và tìm một tên cho dòng..., Cha I-nhã đề nghị các bạn đ