|
ĐÔI NÉT LỊCH SỬ
DÒNG TÊN
Tập I: Thời kỳ Khai Sinh
HIỂN LINH 2002
HOÀNG SÓC SƠN
Tri ân
Cha Mariano Manso và Cha Âutinh Đoàn Cao Lý
Lời mở
Lịch sử luôn luôn là một bài học sống động và quý
giá. Tìm hiểu về Dòng Tên, chúng tôi thấy lịch sử
Dòng cũng chứa đựng nhiều bài học sống động và quý
giá. Chúng tôi đã cố ghi chép lại đây đó một số
điều, đôi khi thêm một vài suy nghĩ. Cha Bề Trên Cả
quá cố Pedro Arrupe nói: "Tôi cho là việc biết lịch
sử Dòng rất quan trọng, nhưng là một lịch sử không
những giúp chúng ta biết những biến cố - điều này tự
nó cũng rất ích lợi - mà nhất là giúp suy nghĩ về sứ
điệp các biến cố nói với bản thân tôi. Đó là một
phương pháp hữu hiệu lạ thường." Ước mong bộ sách
nhỏ này giúp được người đọc đôi chút trong viễn
tượng ấy.
Viết tắt
Bt: Bút tích thánh Phanxicô Xavier
HC: Hiến Chương Dòng Tên
HK: Hồi Ký của thánh I-nhã
LT: Linh Thao
NK: Nhật Ký Thiêng Liêng của thánh I-nhã
Chương 1
NHỮNG NGƯỜI BẠN TRONG CHÚA
Societas Jesu
Quae Sanctum Ignatium Loyolam Patrem agnoscit,
Lutetiam matrem
Hic nata est. [1]
(Dòng Tên
sinh tại đây
Cha: Thánh I-nhã
Mẹ: Paris)
Tại nhà thờ Montmartre ở Paris, một tấm
bảng bằng đồng đã ghi dấu ngày 15 tháng 8 năm 1534
của thánh I-nhã và các bạn như vậy. Cha Paul Dudon
cho rằng lúc ấy 'nhóm sau này sẽ được gọi là Dòng
Tên chỉ mới hiện hữu mà chưa định hình; tuy nhiên,
tinh thần Linh Thao đã sống động và mang tất cả tiềm
năng để đem lại sức sống và cơ cấu cho nhóm. Trong ý
nghĩa này, có thể nói là thực sự Dòng Tên đã chào
đời tại Montmartre'. [2]
1. Nhóm 7 người bạn tuyên khấn
Đó là 7 sinh viên Đại Học Paris. Sáng hôm ấy, lễ Đức
Mẹ Hồn Xác Lên Trời, họ cùng nhau đến nhà thờ Các
Thánh Tử Đạo ở Montmatre để tuyên khấn. Chân phước
Phêrô Favre, linh mục duy nhất của nhóm, dâng lễ,
một lễ dành riêng cho họ. Trước khi rước Mình Thánh
Chúa, mỗi người lần lượt đọc lời khấn đã viết sẵn.
Chúng ta không giữ được bản viết lời khấn hôm ấy,
nhưng có thể tóm tắt nội dung trong mấy điểm: Sau
khi tốt nghiệp, họ sẽ
(1) (1) Sống thanh bần, không có của riêng;
(2) (2) Đến Venezia chờ tàu một năm để đi
hành hương Giêrusalem;
(3) (3) Nếu được phép ở lại Giêrusalem thì
sẽ nhận định xem có nên ở lại đó để làm việc tông đồ
không;
(4) (4) Nếu không đi Giêrusalem được, hoặc
nếu đi được nhưng không ở lại, cả nhóm sẽ đến Rôma
đặt mình dưới quyền sử dụng của Đức Thánh Cha.
Chúng ta có thể lưu ý hai điều:
(1) (1) Họ không khấn khiết tịnh, vì giả
thiết điều ấy đi đôi với việc thụ phong linh mục;
(2) (2) Nhóm không có tên, không có luật,
không ai có quyền trên ai, chỉ liên kết với nhau vì
cùng lý tưởng tông đồ và tình bạn thiêng liêng.
Cha Dudon cho rằng: "Bước ra khỏi nhà nguyện hôm ấy,
lòng họ như mở hội, mặt mày rạng rỡ, chỉ nghĩ và chỉ
nói đến Tin Mừng: họ là những người đích thực cải tổ
Hội Thánh." [3] Suốt ngày hôm ấy họ cầu nguyện, chia
sẻ với nhau về đời sống thiêng liêng hiện tại và đời
sống tông đồ tương lai, dùng chung với nhau bữa ăn
thanh đạm nhưng đầy tình huynh đệ.
Đời họ đã được định hướng.
2. Họ là ai?
Pierre Favre (Chân phước Phêrô Favre) sinh năm 1506
tại làng Villaret, miền Savoie, đông nam nước Pháp.
Là con nhà nông, lúc nhỏ ngài đi chăn cừu và dự tính
lớn lên sẽ làm ruộng như cha mẹ. Nhưng ngài nói:
"Thiên Chúa đã để cho người ta thấy nơi tôi chẳng có
chút gì thích hợp với đời sống thế gian". Được một
người cậu là linh mục giúp đỡ, ngài đi học tại
trường gần nhà. Năm 1525, ngài lên Paris học, ở cùng
phòng tại học viện Sainte Barbe với thánh Phanxicô
Xavier và một người Tây Ban Nha khác. Tính tình ngài
hướng nội, hiền hòa và nhạy cảm, hay lo âu và bối
rối. Ngài cũng chưa định học xong sẽ làm gì: giáo
sư, bác sĩ hay linh mục? Thánh I-nhã đến ở cùng
phòng với ngài năm 1529. Trong 2 năm, thánh I-nhã
giúp ngài về đời sống thiêng liêng. Ngài là người
đầu tiên trong nhóm thánh I-nhã gọi là Những người
bạn trong Chúa. Chừng cuối năm 1531, ngài quyết định
theo cách sống của thánh I-nhã. Đầu năm 1534, ngài
tập Linh Thao 30 ngày do thánh I-nhã hướng dẫn. Kế
đến, ngài thụ phong linh mục. Ngài là linh mục duy
nhất trong nhóm khấn tại Montmartre năm 1534, và là
linh mục đầu tiên của Dòng Tên. Sau này, ngài sẽ là
người đầu tiên trong nhóm bạn Montmartre qua đời
(năm 1546).
Francisco Xavier (Thánh Phanxicô Xavier) sinh năm
1506 tại Navarra, người dân tộc thiểu số Basco, miền
bắc Tây Ban Nha. Là con nhà quí tộc, ngài được hưởng
nhiều ưu đãi từ nhỏ, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn
do những cuộc tranh chấp quyền hành giữa cac thế
lực. Năm 1525, ngài đến Paris học với ý định sẽ được
hưởng vinh hoa phú quí. Ngài là một người thông
minh, hiếu động và nhiều tham vọng. Năm 1529, thánh
I-nhã đến ở cùng phòng với ngài. Ban đầu thánh
Phanxicô Xavier tỏ ra lạnh lùng với người sinh viên
già mới đến: (1) Thánh I-nhã từng đối đầu với hai
anh thánh Phanxicô Xavier trong trận giao tranh tại
Pamplona năm 1521; (2) Thánh Phanxicô Xavier đang
miệt mài theo đuổi công danh, trong khi thánh I-nhã
đã hoàn toàn từ bỏ công danh. Theo lời chứng của
Edmond Auger (vào Dòng Tên năm 1550), ngài là nắm
bột thô nhất mà thánh I-nhã phải nhào nắn [4]. Theo
cha Georg Schurhammer, nhà nghiên cứu thời danh về
thánh Phanxicô Xavier, thì ngài quyết định theo
thánh I-nhã vào khoảng cuối năm 1533 hay đầu năm
1534. Sau này, ngài sẽ là nhà truyền giáo thời danh
hạng nhất trong lịch sử Hội Thánh.
Simão Rodrigues sinh năm 1509 tại Vouzela, miền bắc
Bồ Đào Nha, trong một gia đình quí phái và giàu có.
Ngài lớn lên tại kinh thành Lisbõa dưới sự coi sóc
của vị niên trưởng tuyên uý hoàng gia. Ngài đến
Paris học năm 1527, có lẽ được hưởng một trong 50
suất học bổng vua João III cấp. Ngài chia sẻ: "Tôi
được từ trên cao thúc giục chuyển cách sống trước
đây của tôi thành một của lễ hoàn hảo dâng lên Thiên
Chúa. Chưa bao giờ tôi trao đổi với cha I-nhã trước,
nhưng cha rất nổi tiếng là thánh thiện, nên khi được
biết, tôi bày tỏ với cha các tâm tư thầm kín. Tôi
không hề biết dự định của ba bạn kia sẽ đi
Giêrusalem và dâng hiến đời mình để cứu giúp các
linh hồn." Như vậy, chính ngài đã có sáng kiến đến
với thánh I-nhã, chứ không phải do thánh I-nhã tìm
cách chinh phục. Trong cuốn Dòng Tên Khai Sinh và
Phát Triển, cha Rodrigues kể tên các bạn theo thứ tự
vào nhóm, và đặt tên mình ngay sau thánh Phanxicô
Xavier. Trong cuốn Hạnh Thánh I-nhã, cha Polanco lại
đặt ngài ở vị trí cuối. Có lẽ vì sau này ngài gây
nhiều rắc rối trong Dòng nên bị cha Polanco coi như
người chót hết. Khi ngài nói 'ba bạn kia', có lẽ chỉ
thánh I-nhã, chân phước Phêrô Favre và thánh
Phanxicô Xavier. Sau này, về cuối đời, ngài sẽ gây
không ít khó khăn cho thánh I-nhã.
Diego Lainez và Alfonso Salmeron. Hai người gặp nhau
tại đại học Alcalá, miền trung Tây Ban Nha, lúc
thánh I-nhã cũng học tại đó (năm 1526), và trở thành
một 'cặp bài trùng'. Diego Lainez sinh năm 1512 tại
Almazan, miền trung Tây Ban Nha. Gia đình ngài thuộc
hàng danh giá và khá giả gốc Do Thái. Ngài có dáng
dấp nhỏ bé và yếu ớt, nhưng rất thông minh, nhạy
bén, cần cù, lịch thiệp và dễ mến. Alfonso Salmeron
sinh năm 1515 tại Toledo, miền trung Tây Ban Nha,
trong một gia đình nghèo nhưng hiếu học. Ngài là
thành viên trẻ nhất trong nhóm, có dáng dấp vừa
phải, rất khỏe mạnh và rất vui tính. Có người cho
rằng cả hai đi Paris để gặp lại thánh I-nhã, vì lúc
còn ở Alcalá, ngài đã nổi tiếng là thánh thiện.
Ngược lại, cũng có người cho rằng hai người đi Paris
để đào sâu triết học và thần học, rồi bất ngờ may
mắn gặp lại thánh I-nhã ngay trong ngày đầu tiên.
Dầu sao, chắc chắn cả hai đã gặp thánh I-nhã ngay
trong những ngày đầu tiên ở Paris, năm 1533, sau đó
được ngài hướng dẫn và giúp đỡ 'cả về vật chất'.
Chúng ta không biết quyết định theo thánh I-nhã là
quyết định riêng mỗi người hay cả hai đã bàn bạc rồi
đi đến quyết định chung. Sau này, cha Lainez sẽ là
vị Bề Trên Cả thứ hai của Dòng Tên, còn cha Salmeron
sẽ là một tông đồ xuất sắc trong nhiều lãnh vực.
Nicolas Babadilla sinh năm 1509 tại Bobadilla, miền
bắc Tây Ban Nha. Chúng ta không biết tên thật của
ngài là gì, vì ngài luôn luôn được người khác lấy
sinh quán làm tên để gọi. Là con gia đình nghèo,
ngài đã cố gắng học hết đại học tại Alcalá, rồi đi
dạy học. Vì muốn học thêm tiếng Latinh, tiếng Hilạp
và tiếng Hipri, ngài đến Paris trễ nhất là mùa thu
năm 1533. Ngài gặp thánh I-nhã và nhóm bạn khoảng
đầu năm 1534, và thay vì đi học ngôn ngữ thì học
Kinh Thánh và thần học. Sau này, ngài là một thành
viên phản kháng nổi tiếng trong Dòng Tên, nhưng là
một tông đồ nhiệt thành không biết mệt mỏi. Ngài
cũng sẽ là người cuối cùng trong nhóm qua đời (năm
1590).
3. Thủ lãnh và linh hồn của nhóm
Thủ lãnh và linh hồn của cả nhóm là Inigo de Loyola,
mà ngày nay chúng ta gọi là thánh I-nhã. Ngài thuộc
dân tộc thiểu số Basco, sinh năm 1491 tại lâu đài
Loyola, tỉnh Guipuzcoa, miền bắc Tây Ban Nha. thuộc
giai cấp quí tộc, ngài được huấn luyện trong dinh
quan Thống Đốc Ngân Khố Hoàng Gia, rồi trợ lý cho
phó vương Navarra. Ngài tự nhận: cho đến năm 30
tuổi, 'chỉ mải mê theo đuổi những chuyện phù phiếm'.
Năm 1521, ngài bị thương tại Pamplona, rồi quyết tâm
noi gương các thánh 'phục vụ Đức Kitô'. Ngài đến
Manresa tĩnh tâm gần một năm, và ý thức được Chúa
mời gọi đi 'giúp đỡ các linh hồn'. Đây cũng là thời
gian ngài được soi sáng đặc biệt, nhờ đó, ngài khởi
sự soạn thảo tập Linh Thao.
Sau khi hành hương Giêrusalem, và không được phép ở
lại để truyền giáo cho người Hồi Giáo như lòng ước
nguyện, ngài trở về Tây Ban Nha và đi học, để có thể
giúp đỡ các linh hồn hơn. Tại Barcelona và Alcala,
ngài dùng Linh Thao và những cuộc gặp gỡ để giúp đỡ
các linh hồn. Từ những người ngài giúp đỡ, ngài tập
họp được bốn người bạn cùng chí hướng, nhưng dần dần
tan rã. Năm 1527, ngài đến Paris học đại học. Nhóm
thứ hai gồm ba người mau chóng thành hình, nhưng
cũng mau chóng tan rã. Khởi sự với chân phước Phêrô
Favre và thánh Phanxicô Xavier, sau đó là ba người
nữa, ngài hình thành nhóm thứ ba. Đây chính là nhóm
tuyên khấn tại Montmartre và nhóm sẽ bền vững để trở
thành Dòng Tên.
Xét về mặt tự nhiên, bảy người thật khó
liên kết với nhau lâu dài. Thánh I-nhã và thánh
Phanxicô Xavier là người Basco, chân phước Phêrô
Favre là người Pháp, Lainez, Salmeron và Bobadilla
người Tây Ban Nha, Rodrigues người Bồ Đào Nha. Về
nguồn gốc xã hội, có người thuộc giai cấp quí tộc,
có người thuộc giai cấp bình dân. Về tính tình, họ
rất khác nhau, và cứ bình thường rất dễ xung khắc.
Chẳng những vậy, bức tường hiềm khích dân tộc đôi
khi khá nặng nề. Hai vị vua Carlos của Tây Ban Nha
và Francois của Pháp lúc ấy có thể nói là hai kẻ thù
không đội trời chung: chiến tranh lúc nóng lúc lạnh
hầu như không dứt. Riêng thánh I-nhã và thánh
Phanxicô Xavier còn khó hơn nữa: cùng là dân tộc
Basco, nhưng gia đình thánh Phanxicô Xavier chống
lại triều đình Tây Ban Nha vì muốn Navarra độc lập;
trái lại thánh I-nhã luôn luôn trung thành với triều
đình Tây Ban Nha, kể cả khi chống lại người Navarra.
Trong trận chiến tại Pamplona năm 1521, thánh I-nhã
ở trong pháo đài bị quân đội Pháp và quân đội
Navarra bao vây; trong số những người lãnh đạo quân
đội Navarra ấy, có hai người anh của thánh Phanxicô
Xavier.
Rút kinh nghiệm từ hai lần trước, thánh I-nhã không
nóng vội. Hằng tuần, mỗi Chúa Nhật, ngài cùng với
các bạn đến xưng tội và dự lễ tại đan viện
Notre-Dame de Vauvert dòng Chartreux. Sau thánh lễ,
các bạn chia sẻ với nhau bữa ăn huynh đệ và lý tưởng
tông đồ. Những buổi sinh hoạt như vậy ai muốn đến dự
cũng được, khi nào chán thì bỏ, thấy thích hợp thì
tiếp tục. Sau nhiều gạn lọc, có 6 người thực sự muốn
gắn bó với nhóm. Rồi mỗi người lần lượt, từng người
một, tập Linh Thao 30 ngày do thánh I-nhã hướng dẫn.
Một lý tưởng tông đồ nung nấu những sinh viên trẻ
đầy nhiệt huyết, đồng thời một tình bạn thiêng liêng
lớn dần, nối kết bảy người lại thành một, vượt qua
mọi ngăn cách tự nhiên sẵn có. Kết quả là nhóm bạn
đi đến một quyết định chung: cùng nhau tuyên khấn
sống theo ơn gọi và lý tưởng tông đồ của thánh
I-nhã. Thánh I-nhã gọi nhóm này là Những người bạn
trong Chúa: chính tình bạn trong Chúa liên kết họ
với nhau. Đây sẽ là điều cốt yếu trong thân thể Dòng
Tên.
Sau khi đã thảo luận lâu dài, họ quyết định mọi
người sẽ buộc mình với lời khấn thanh bần, hành
hương Giêrusalem, và khi trở về sẽ hết lòng làm việc
cho tha nhân được cứu độ, cả dân ngoại cũng như tín
hữu, giảng Lời Chúa cho mọi người, ban các bí tích
Giải Tội và Thánh Thể mà không đòi trả công. Rồi họ
giải thích cho rõ hơn về các lời khấn. Lời khấn
thanh bần chỉ có hiệu lực đầy đủ khi đã học xong.
Mặt khác, lộ phí đi Giêrusalem không kể vào lời
khấn. Về hành hương, nếu một năm sau khi học xong mà
chưa đi được, hoặc nếu sau khi hành hương họ quyết
định trở về Châu Âu, họ sẽ để cho Đức Thánh Cha ấn
định cách sống đời tông đồ, các hoạt động mục vụ hay
từ thiện, địa phương hoạt động… Nếu ai được Đức
Thánh Cha ủy thác sứ mạng thì đã thấy rõ đó là ý
Chúa rồi, không cần đắn đo gì nữa. Có người đề nghị
phải quyết định ngay về việc 'đem ánh sáng chân lý
đến cho dân ngoại'. Họ đồng ý tất cả sẽ đáp tàu biển
đi Giêrusalem. Ở đó sẽ xin ơn Chúa để quyết định ở
lại hay về Châu Âu. Nếu đa số muốn ở lại, tất cả sẽ
ở lại truyền giáo cho người Thổ Nhĩ Kỳ; nếu đa số
không muốn ở lại thì tất cả, không trừ ai, sẽ trở về
Châu Âu. Như vậy là họ đã quyết định gắn bó với
nhau, không để cho những ý kiến khác biệt làm họ
chia lìa.
4. Hiện tại và tương lai.
Các lời khấn ở Montmartre đều hướng về tương lai:
sau khi học xong. Trước mắt, tất cả còn phải hoàn
tất chương trình đại học hoặc lấy học vị tiến sĩ.
Trong thời gian ấy, các bạn tiếp tục chương trình
họp mặt Chúa Nhật tại Vauvert. Năm 1535, sau khi tốt
nghiệp đại học, thánh I-nhã theo lời khuyên của bác
sĩ và các bạn về quê để dưỡng bệnh và dàn xếp công
việc của các bạn người Tây Ban Nha. Thánh Phanxicô
Xavier giới thiệu thánh I-nhã với gia đình mình:
"Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho em được biết
ngài Inigo. Qua thư này, em muốn nhìn nhận là bao
lâu còn sống, không bao giờ em trả được món nợ cho
ngài…Tiếp xúc với ngài và nghe lời khuyên của ngài,
anh sẽ được giúp đỡ rất nhiều, vì đó là một con
người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không
có gì chê trách được." [5] Trước khi chia tay ngài,
cả nhóm hẹn sẽ gặp lại nhau tại Venezia, miền đông
bắc nước Ý, đầu năm 1537 để lên tàu đi Giêrusalem.
Tương lai thật bấp bênh. Hai nhóm trước đã tan rã,
thánh I-nhã có chắc chắn là nhóm thứ ba này sẽ bền
vững không?
Nếu nhóm bền vững, liệu những dự trù trong các lời
khấn có khả thi không? Giêrusalem lúc ấy đang do
người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo cai trị, một nhóm 7 người
liệu có hi vọng làm được gì ở đó? Hội Thánh lúc ấy
có nhiều điều đáng buồn. Phong trào Phục Hưng khởi
đầu ở Ý chẳng bao lâu sau đã lan rộng khắp Châu Âu,
làm thay đổi mọi thứ cảm quan của thời Trung Cổ. Nếp
sống tôn giáo và văn hóa truyền thống trở nên như
một cái áo đã cũ, không còn thích hợp nữa. Một thời
đại mới đang bắt đầu với lối suy tưởng mới, nền văn
chương mới, lối kiến trúc mới, nếp sống mới. Phong
trào Phục Hưng được nhiều vị giáo hoàng bảo trợ như
Sixtô V (1471-1484), Giuliô II (1503-1513), Lêô X
(1513-1521). Phong trào cải cách Tin Lành phần nào
là phản ứng chống lại phong trào Phục Hưng mang nặng
tính cách thế tục đã xâm nhập nhiều lãnh vực của Hội
Thánh, đặc biệt hàng giáo phẩm. Năm 1517, phong trào
cải cách Tin Lành đã chính thức tách khỏi Hội Thánh.
Chính trong năm 1534 này, vua Henry VIII của nước
Anh buộc thần dân nhìn nhận mình là thủ lãnh tối cao
và duy nhất của Giáo Hội Anh. Hội Thánh bị xâu xé.
Cũng chính trong năm 1534, chỉ hai tháng sau các
ngài khấn, vị Giáo Hoàng Phaolô III nhậm chức. Ngài
sinh năm 1468, may mắn là có dòng máu quí tộc và có
người em gái, người ta quen gọi là Giulia Hoa Hậu,
lăng nhăng với vị Giáo Hoàng đầy tai tiếng Alexandrô
VI, nên được tấn phong Hồng Y năm 28 tuổi, lúc chưa
có chức thánh nào. Chính bản thân vị hồng y trẻ cũng
làm gương xấu không ít: cụ thể là có 4 người con rơi
mà ngài quí mến và dành nhiều giờ để chăm sóc.
Năm 1492, Colombo đặt chân lên Châu Mỹ. Năm 1597,
Vasco da Gama tìm ra đường biển từ Châu Âu sang Châu
Á vòng qua Mũi Hảo Vọng ở cực nam Châu Phi. Các nhà
buôn đổ xô đi chiếm thị trường. Các đế quốc đổ xô đi
chiếm thuộc địa. Nhiều thừa sai cũng theo chân họ
đem Tin Mừng đến chân trời góc biển. Nhóm 7 người
bạn sẽ làm được gì trong nỗ lực canh tân Hội Thánh
và truyền giáo cho dân ngoại. Xét về mặt tự nhiên,
tương lai thật không có gì tươi sáng. Nhưng nếu
chính Thiên Chúa đã qui tụ các ngài thì cũng chính
Thiên Chúa sẽ ở với các ngài. Cha John W. O'Malley
gọi việc nhóm bạn tuyên khấn tại Montmartre là 'tảng
đá góc tường của Dòng Tên tương lai' [6]. Nếu thực
sự Thiên Chúa đã khởi công, chính Người cũng sẽ hoàn
thành.
Chương 2
ĐOÀN GIÊSU
Hành hương Giêrusalem là ước nguyện của nhiều tín
hữu trong mọi thời đại, đặc biệt là các tín hữu Châu
Âu thời Trung Cổ, và cũng là một trong những nội
dung chính của lời khấn Montmartre năm 1534. Ngay
khi hoán cải, năm 1521, thánh I-nhã đã có ý đi hành
hương Giêrusalem để làm việc đền tội. Năm 1523,
không một đồng trong túi, ngài thực hiện chuyến hành
hương để 'thực tập đức cậy, đức tin và đức mến' [7].
Ngài ước ao được ở lại Giêrusalem để truyền giáo cho
người Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng giáo quyền không
cho phép. Sau đó, hẳn là ngài vẫn ước nguyện được
sống và hoạt động tông đồ tại Giêrusalem, nên thuyết
phục cả nhóm cùng đi.
1. Hẹn nhau tại Venezia
Thời ấy, người Thổ Nhĩ Kỳ cai trị toàn bộ Đất Thánh.
Hằng năm người Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cho phép tổ chức một
chuyến hành hương Giêrusalem duy nhất, khởi hành ở
Venezia. Vì thế các bạn hẹn nhau tại đó để chờ xuống
tàu.
Thánh I-nhã đến trước nhất. Sau ba tháng tại quê
nhà, ngài đến thăm gia đình một số các bạn trong
nhóm để báo tin và thu xếp công việc, thí dụ gia
đình thánh Phanxicô Xavier và gia đình cha Lainez.
Ngài cũng đi thăm những người trong nhóm bạn thứ
nhất và thứ hai, mong họ gia nhập nhóm mới, nhưng ai
nấy đều đã ổn định trong cuộc sống mới. Sau một hành
trình vất vả trên biển và trên bộ, ngài đến Venezia
vào đầu năm 1536. Ngài tiếp tục chương trình thần
học, đồng thời 'hướng dẫn Linh Thao và nói chuyện về
đời sống thiêng liêng' [8]. Ngài cũng thu nhận thêm
một thành viên mới là Diego de Hoces, người Tây Ban
Nha.
Tại Venezia, thánh I-nhã gặp một tai nạn nhỏ sau này
sẽ gây phiền hà nhiều. Qua Hoces, ngài gặp đức cha
Gian Pietro Carafa, sau này sẽ là Đức Giáo Hoàng
Phaolô IV (1555-1559). Vị này từng là giám mục giáo
phận Chieti, nhưng đã từ chức để cùng với thánh
Gaêtanô (+ 1547) sáng lập Dòng Thêatinô. Lúc đầu,
hai bên khá thân thiện. Có lúc vị giám mục đã đề
nghị thánh I-nhã cho nhóm bạn của ngài hợp nhất với
Dòng Thêatinô. Tuy nhiên, ngài không đồng ý vì hai
bên có quan điểm khác nhau về cách tu. Ngài nhận
thấy dòng tu này không phát triển được, trong khi
nếu phát triển được thì có thể phục vụ và ca ngợi
Chúa hơn. Tại sao không phát triển được? Ngài cho là
có hai lý do: (1) Đức cha Carafa vẫn sống xa hoa và
sang trọng như một giám mục, chứ không như một tu
sĩ, tức là 'theo tinh thần của thánh Phanxicô, thánh
Đaminh và nhiều vị thánh lập dòng khác'; (2) Cách
sống nghèo của dòng tu ấy không thích ứng với những
đòi hỏi của đời tu: các tu sĩ không đi khất thực,
nên thiếu ăn; không đi giảng dạy, cũng chẳng lo công
tác từ thiện, để mưu ích cho tha nhân, nên các tín
hữu ít ai biết đến để giúp đỡ. Ngài giải thích thêm:
Nếu họ làm những điều ngài nói, Thiên Chúa sẽ được
phục vụ hơn, các tín hữu được thúc đẩy lo cho họ
sống với lòng bác ái lớn hơn, các giáo sĩ khác quá
ham tiền sẽ được thúc giục hối cải hơn, và những
người công chính sẽ được khích lệ để bền vững và
tiến tới hơn. Nhìn vào gương các vị thánh lập dòng,
chúng ta thấy các ngài chờ mong mọi sự với lòng tin
tưởng vô biên nơi Chúa, nhưng vẫn không bỏ qua những
phương tiện hữu hiệu nhất để duy trì và phát triển
dòng, nhằm ca ngợi và phục vụ Chúa hơn. Làm khác đi
là thử thách Thiên Chúa chứ không theo con đường
phải theo để phục vụ Chúa. Đó chính là nội dung lá
thư ngài viết năm 1536, không đề ngày, và cũng chẳng
biết thư có được gởi đi không. Từ đó, hai bên kể như
cắt đứt mọi liên lạc, và nghiêm trọng hơn là hai bên
không thể bàn bạc hay cộng tác với nhau ở điều gì
nữa.
Tại Paris, nhóm sinh hoạt đều đặn. Mỗi năm đến ngày
15 tháng 8, nhóm lặp lại lời khấn năm 1534, và thâu
nhận thêm thành viên mới. Năm 1535, thêm cha Claude
Jay, đồng hương với chân phước Phêrô Favre, sinh
khoảng năm 1500-1504, thụ phong linh mục năm 1528.
Năm 1536, thêm hai người Pháp nữa là Paschase Broet,
sinh năm 1500, thụ phong linh mục năm 1524, và Jean
Baptiste Codure, sinh năm 1528, chưa thụ phong linh
mục.
Theo dự tính ban đầu, nhóm sẽ rời Paris ngày
25.1.1537 để đi Venezia. Nhưng giữa hai kẻ thù không
đội trời chung là Carlos V của Tây Ban Nha và
Francois I của Pháp không thể có hòa bình lâu dài
được. Tháng 6 năm 1536, Tây Ban Nha tuyên chiến với
Pháp vì vụ kế vị tại Milano, miền bắc nước Ý. Tháng
7, quân đội Tây Ban Nha tấn công miền nam và tháng 8
xâm lấn miền bắc nước Pháp. Dân chúng Pháp sôi sục
tình cảm bài Tây Ban Nha. Trong 9 thành viên của
nhóm, có đến 4 là người Tây Ban Nha, nên ở Paris lúc
ấy thật là không thuận lợi. Họ quyết định rời Paris
sớm, để bảo toàn nhóm, mặc dầu vuột mất bằng tiến
sĩ. Nhiều người ngoài nhóm phản đối quyết định ấy,
vì cho rằng ở Paris họ có thể làm việc tông đồ bằng
hai ở bất cứ đâu khác, và lên đường trong lúc chiến
tranh là phạm tội trọng vì liều mạng. Nhưng họ đã
dứt khoát.
Để tránh những chiến tuyến, họ không theo lối miền
nam vừa gần vừa dễ đi hơn. Họ sẽ đi về hướng đông,
rồi băng qua Đức và Thụy Sĩ. Họ chia làm hai toán,
mỗi toán có cả người Pháp lẫn người Tây Ban Nha. Nếu
gặp quân đội nước nào, chỉ người nước ấy nói, những
người khác im lặng. Nếu có ai hỏi, họ chỉ trả lời
mình là sinh viên ở Paris, đi hành hương viếng đền
thánh Nicola ở Lorraine. Một toán khởi hành ngày
11.11.1536, một toán khởi hành sau đó 4 ngày. Tất cả
đều mặc đồng phục sinh viên, tức là áo chùng thâm và
đội mũ đen, mỗi người mang trên vai một cái bị đựng
ít quần áo và cuốn Kinh Thánh, cổ đeo tràng hạt,
chứng tỏ mình là người Công Giáo chứ không phải Tin
Lành. Riêng các linh mục có thêm cuốn sách nguyện.
Giữa mùa đông khắc nghiệt, họ đi bộ, chịu lạnh, chịu
đói, nhiều lúc rất nguy hiểm, đặc biệt khi ngang qua
những khu vực Tin Lành và khi vượt dãy núi Alpes.
Đối với đa số các bạn, đây là kinh nghiệm đầu tiên
về 'con đường nghèo khó và cầu nguyện' cũng như về
nghị lực tinh thần. Sau gần 2 tháng, vượt qua trên
dưới 1000 km, cả 9 đến Venezia bình an ngày
8.1.1537. Hẳn là cả nhóm đều vui mừng. Hai năm thử
thách đã qua, và nhóm chẳng những bền vững mà còn
tăng trưởng về con số cũng như về tinh thần. Từ 7
người, nay họ đã thành 11. Hơn nữa, họ đã thực sự
nên một.
Ít nhất cũng phải đến tháng 6 hay tháng 7 mới có tàu
đi Giêrusalem. Họ lại chia thành hai toán đi phục vụ
ở hai bệnh viện trong vùng: một ở bệnh viện Santi
Giovanni e Paolo, một ở bệnh viện Nan Y. riêng thánh
I-nhã tiếp tục tự học thần học một mình.
2. 2. Thụ phong linh mục
Theo thói quen gần như bắt buộc thời ấy, ai muốn đi
hành hương Giêrusalem phải đến Rôma xin phép Tòa
Thánh và xin phép lành của Đức Thánh Cha.
Ở Rôma lúc ấy có hai nhân vật thánh I-nhã rất ngại
gặp. Trước hết là tiến sĩ Pedro Ortiz, đại diện của
hoàng đế Carlos V bên cạnh Tòa Thánh. Theo người ta
nói, chính ông này trước đây tại Paris đã tố cáo
thánh I-nhã trước Tòa Án Giáo Lý. Thứ đến là giám
mục Gian Pietro Carafa. Vị này đã bất đồng ý kiến
nặng nề với thánh I-nhã đến độ có thể nói là không
muốn nhìn mặt nhau nữa. Thánh I-nhã sợ rằng sự hiện
diện của ngài ở Rôma có thể gây khó khăn cho các
bạn, nên ngài ở lại Venezia. Các bạn khác rời
Venezia ngày 13.3.1537.
Một lần nữa, họ đi bộ trên một chặng đường dài, tuy
nhiều lúc mệt mỏi và thiếu thốn, nhưng đầy tràn niềm
vui thiêng liêng và huynh đệ. Họ đến Rôma ngày 25
tháng 3, đúng ngày Lễ Lá. Điều bất ngờ là họ gặp
tiến sĩ Ortiz ngay tại bệnh viện họ đến xin ở trọ,
lại được ông bảo lãnh và giới thiệu với Đức Thánh
Cha Phaolô III. Ngày 3 tháng 4, ngài tổ chức một
buổi tranh luận thần học theo thói quen thường có
thời ấy. Các bạn đã tỏ ra xuất sắc đến nỗi họ xin gì
mà ngài cho được thì ngài cũng cho. Nhưng họ chỉ xin
ngài chúc lành và cho phép đi Giêrusalem. Chẳng
những họ được phép và được chúc lành mà còn được Đức
Thánh Cha cùng với các hồng y và giám mục cho tiền
để thực hiện chuyến hành hương. Hơn nữa, ngài cũng
cho phép những ai trong nhóm chưa là linh mục đều
được chịu chức linh mục. Cả thánh I-nhã không có mặt
cũng được hưởng các đặc ân chung với nhóm.
Họ trở lại Venezia đầu tháng 5. Để chuẩn bị nhận
chức thánh, họ lại chia nhau đi phục vụ trong các
bệnh viện như trước. Ngày 24.6.1537, thánh I-nhã
cùng với 5 bạn khác là thánh Phanxicô Xavier, Diego
Lainez, Simão Rodrigues, Nicolas Bobadilla và Jean
Baptiste Codure thụ phong linh mục do giám mục
Vincenzo Nigusanti "với tư cách thanh bần" [9], tức
là không có giáo bổng. Riêng Alfonso Salmeron phải
chờ tới khi tròn 22 tuổi theo đúng qui định của Giáo
Luật thời ấy. Các tân linh mục ước ao được dâng lễ
mở tay tại Giêrusalem.
Bầu khí chiến tranh giữa Venezia và Thổ Nhĩ Kỳ ngày
càng trở nên nặng nề hơn. Căng thẳng giữa hai liên
minh, một bên là Thổ Nhĩ Kỳ và Pháp, bên kia là
Venezia, Tây Ban Nha và Tòa Thánh, lên tới đỉnh cao
năm 1536. Các tàu chiến Thổ Nhĩ Kỳ lởn vởn trên Địa
Trung Hải và biển Adriatic, trong khi Venezia ở
trong tình trạng ứng chiến. Hy vọng đi Giêrusalem
trở nên mong manh. Dầu sao, vẫn cứ chờ đợi một năm
như đã khấn.
Trong khi chờ đợi, họ quyết định chia nhau đến các
nơi thanh vắng để hồi tâm và cầu nguyện, chuẩn bị
dâng lễ mở tay. Họ rút thăm chia toán. Thánh I-nhã
cùng với chân phước Favre và cha Lainez đi Vicenza,
một thị trấn cách Venezia chừng 60 km về phía tây.
Những người khác đi Monselice, Treviso, Bassano và
Verona, tất cả đều ở quanh khu vực Venezia, để khi
có tàu thì sẵn sàng lên đường. Họ rời Venezia ngày
25 tháng 7. Thánh I-nhã thuật lại: "Kẻ hành hương
cùng với Favre và Lainez đi Vỉcenza. Họ tìm được một
căn nhà ở ngoài thành phố, không có cửa ra vào cũng
không có cửa sổ. Họ ở đó và ngủ trên ít rơm họ đem
vào. Mỗi ngày hai người vào thành phố xin ăn hai
lần, nhưng được rất ít, nên chỉ sống cầm hơi. Thường
thì họ ăn một chút bánh mì nướng, khi có; ai ở nhà
thì lo nướng bánh. Họ sống 40 ngày như vậy, chẳng
làm gì khác ngoài cầu nguyện." [10] Vì thiếu ăn và
chịu mưa chịu gió, cả ba cùng bị đau ốm, nhưng ai
nấy vẫn tràn đầy niềm vui thiêng liêng và chuyên
chăm cầu nguyện. Vicenza trở nên như Manresa thứ hai
của ngài: ngài thường có thị kiến và được ơn an ủi
đến nỗi khóc gần hư cả mắt. Dầu vậy, khi được tin
cha Rodrigues đang bị đau ốm ở Bassano, cách Vicenza
chừng 30 km, ngài đang bị sốt mà vẫn đi thăm, và đi
bộ nhanh đến nỗi chân phước Favre trẻ hơn 15 tuổi
phải cố gắng lắm mới theo kịp.
3. 3. Chọn tên cho nhóm
Bầu khí chiến tranh giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Venezia cho
thấy triển vọng đi Giêrusalem thật xa vời. Đến cuối
tháng 9, thánh I-nhã gọi tất cả nhóm tập họp tại
Vicenza để hội ý. Tại đây, 4 tân linh mục Xavier,
Lainez, Bobadilla và Codure dâng lễ mở tay, hoàn
toàn âm thầm nhưng rất sốt sắng. Thánh I-nhã và cha
Rodrigues vẫn hi vọng sẽ được dâng lễ mở tay ở
Giêrusalem. Hơn nữa, thánh I-nhã 'đã quyết định chưa
dâng lễ trong vòng một năm, để dọn mình và khấn xin
Đức Mẹ thương đặt mình với Con của Mẹ' [11].
Chưa có tàu đi Giêrusalem, phải làm gì? Họ quyết
định đến các nơi trong vùng có trường đại học để
giảng thuyết và dạy học, giải tội và hướng dẫn Linh
Thao… hy vọng thu nhận thêm một số sinh viên cùng
chí hướng: Codure và Hoces đi Padova, Jay và
Rodrigues đi Ferrara, Xavier và Bobadilla đi
Bologna, Broet và Salmeron đi Siena. Riêng thánh
I-nhã sẽ cùng với chân phước Favre và cha Lainez đi
Rôma với mục đích tương tự, đồng thời chuẩn bị nếu
không đi Giêrusalem được thì cả nhóm sẽ 'dâng mình
cho Đức Thánh Cha'. Trước khi chia tay, cần giải đáp
câu hỏi này: nếu người ta hỏi họ thuộc nhóm nào thì
phải trả lời ra sao? Hóa ra từ hơn 3 năm, kể từ ngày
tuyên khấn lần đầu ở Montmartre, nhóm vẫn chưa có
tên. Đã có những người gọi họ là nhóm I-nhã, nhưng
thánh I-nhã nhất định phản đối. Ngài đề nghị các bạn
đi cầu nguyện. Sau đó mọi người nhất trí tự xưng là
Đoàn Giêsu. Sau này cha Polanco giải thích lý do:
"Vì giữa họ không có ai là thủ lãnh hay bề trên,
ngoài Đức Giêsu Kitô là Đấng duy nhất họ phục vụ, họ
thấy nên lấy tên của Đấng họ coi là đầu để đặt cho
tập thể." Đây sẽ là tên chính thức của nhóm và sau
đó là của dòng. Tên nhóm có vẻ đơn giản nhưng diễn
tả cả một linh đạo.
Như những người bạn đường của Chúa Giêsu, họ chia
tay nhau lên đường, chờ ngày cùng nhau đi Giêrusalem
hay đến Rôma. Cha Pedro Arrupe nói về việc thánh
I-nhã đi Rôma lần này: "Có lẽ thánh I-nhã không ý
thức, nhưng ngài đang tiến đến nơi Thiên Chúa mong
đợi ngài." [12]
4. Thị kiến La Storta
Vicenza đưa thánh I-nhã đến chỗ chìm ngập trong bầu
khí thần linh, mà nổi bật hơn hết là ước nguyện được
nên một với Chúa Giêsu nghèo hèn. Trên quãng đường
300 km từ Vicenza đến Rôma, ngài được Chúa ban ơn
sốt sắng mãnh liệt, mắt gắn chặt vào những thực tại
siêu nhiên, lòng tha thiết xin Đức Mẹ cầu khẩn cho
mình ơn 'được đặt với Con của Mẹ'.
Tháng 11.1537, khoảng ngày 15, ngài cùng với hai bạn
đồng hành đến một địa điểm cách Rôma chừng 15 km về
phía bắc gọi là La Storta. Tại đó, có một ngôi nhà
thờ nhỏ nằm ngay bên đường. Thánh I-nhã kể: "Một
hôm, kẻ ấy đang cầu nguyện trong một nhà thờ, cách
mấy dặm nữa thì đến Rôma, kẻ ấy cảm thấy một sự biến
đổi trong tâm hồn, và thấy rõ Thiên Chúa Cha đặt
mình cùng với Đức Kitô là Con của Người; đến nỗi kẻ
ấy không bao giờ dám nghi ngờ việc Thiên Chúa Cha đã
đặt mình với Con của Người." [13]
Cha L.G. da Câmara cho thánh I-nhã biết
là cha Lainez kể hơi khác, thì ngài trả lời là "tất
cả những gì cha Laynez kể đều đúng, vì chính kẻ ấy
không nhớ các chi tiết." [14]
Cha Lainez kể: "Nền tảng đầu tiên của danh hiệu này
[15] là Cha I-nhã, như tôi sắp giải thích. Trên
đường đi Rôma theo ngả Siena, Cha hay được Thiên
Chúa đến thăm viếng và ban nhiều tâm tình thiêng
liêng, đặc biệt liên hệ với bí tích Thánh Thể cực
trọng, mà hằng ngày Cha nhận từ tay cha Phêrô Favre
hay từ tay tôi [16], vì chúng tôi dâng thánh lễ mỗi
ngày, riêng Cha thì không... Cha nói với tôi rằng
hình như Thiên Chúa Cha đã ghi khắc vào trong lòng
Cha những lời này: "Cha sẽ phù hộ chúng con ở Rôma".
Và không hiểu những lời ấy muốn ám chỉ gì, Cha nói:
"Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho chúng ta ở
Rôma, có thể chúng ta sẽ bị đóng đinh vào thập giá ở
Rôma." Rồi một lần khác, Cha nói hình như Cha thấy
Chúa Giêsu vác Thánh Giá và Chúa Cha ở bên cạnh đó
nói với Đức Kitô: "Cha muốn Con nhận người này làm
đầy tớ". Và thế là Đức Giêsu thực sự đón nhận Cha và
nói: "Ta muốn con phục vụ Chúng Ta." Vì thế, Cha rất
sùng kính thánh danh cực trọng, và ước mong đặt tên
cho nhóm là Đoàn Giêsu." [17]
Thánh Phêrô Kanijs, có lẽ theo lời kể của chân phước
Favre, thuật lại lời Chúa Cha hơi khác: "Ta sẽ ở với
các con."
Kinh nghiệm La Storta rất đậm nét trong
đời sống thánh I-nhã: hơn sáu năm sau, ngài viết
trong Nhật Ký Thiêng Liêng: "Tôi nhớ lại hôm tôi
được Chúa Cha đặt với Chúa Con." [18] Đây là kinh
nghiệm thiêng liêng quan trọng hàng đầu trong đời
sống thánh I-nhã, đánh dấu đỉnh cao của quá trình 17
năm hành hương. Tại Loyola, ngài đã nghe được lời
mời gọi phục vụ Đức Kitô và đã quảng đại đáp ứng.
Tại Manresa, trong bài Hai cờ hiệu của Linh Thao,
ngài đã xin được nhận vào dưới cờ của Đức Kitô. Nay
ở La Storta, ngài được đặt với Chúa Con. Ngay lúc
ấy, ngài có ấn tượng mạnh đến nỗi ngài nói với hai
bạn cùng đi: "Tôi không biết chuyện gì sẽ đến với
chúng ta . Có thể ở Rôma chúng ta sẽ bị đóng đinh
vào Thánh Giá."
Cha André Ravier bình luận: "Đặt trở lại vào toàn bộ
đời sống thần nhiệm của thánh I-nhã từ lúc hoán cải,
đưa lại vào trong chuyển động của Tình Yêu đã thúc
đẩy thánh I-nhã bắt chước và kết hiệp với Chúa Kitô
(đúng theo nghĩa của thánh Gioan dùng) cùng lao nhọc
và chịu đau khổ với Người để tôn vinh Thiên Chúa Cha
hơn, thị kiến La Storta xuất hiện như thời điểm nổi
bật, mặc dù biến cố rất giản dị; nơi thị kiến ấy kết
tinh cả định mệnh của một con người của sứ mạng
Thiên Chúa ủy thác cho con người ấy và của cả công
trình con người ấy sẽ thực hiện. Nếu như một số
người thường nói, La Storta mang tính tiên tri, thì
trước tiên do nó xác chuẩn cả một quá khứ đầy ân
sủng." [19]
Cha Pedro Arrupe giải thích: "Ở La
Storta, số phận của Dòng đã được định đoạt. Thánh
I-nhã và các bạn có lẽ vẫn có thể đi Giêrusalem, mặc
dầu điều này dĩ nhiên sẽ kéo theo một loạt những hệ
quả mà chúng ta chỉ còn biết dự đoán. Nhưng sự chuẩn
y của La Storta còn hàm ý rằng Rôma đã trở thành nơi
Đoàn Giêsu phải ưu tiên hướng tới, và phụ khoản Giáo
Hoàng của lời khấn Montmartre, trước đây chỉ là một
giả định, thì nay sẽ trở thành yếu tố định đoạt số
phận của Dòng. Chỉ còn sáu tháng nữa là tròn một năm
chờ đợi để lời khấn đi Giêrusalem nhường chỗ cho phụ
khoản 'trình diện vị Đại Diện Đức Kitô để ngài tùy ý
sử dụng vào nơi nào ngài thấy là tôn vinh Thiên Chúa
hơn và mưu ích cho các linh hồn hơn' [20]. Tất cả
những từ ngữ 'sử dụng', 'vị Đại Diện Đức Kitô', 'tôn
vinh Thiên Chúa hơn', 'mưu ích cho các linh hồn', đã
hoàn toàn là đặc trưng Giêsu hữu. Dây liên kết đặc
biệt với vị Đại Diện Đức Kitô đang ngày một rõ hơn.
Nếu ở Cardoner mà những 'cảm nhận về những mầu nhiệm
của Chúa' cũng đã được mở rộng đến những mầu nhiệm
Hội Thánh [21], rồi sau đó ở Montmartre cũng thế,
thì giờ đây ở La Storta, ngay ngưỡng cửa Rôma, thánh
I-nhã thấy rằng việc phục vụ Hội Thánh đòi phải ứng
trực đối với vị Đại Diện Đức Kitô." [22]
Sau bao nhiêu năm lần bước theo một tiếng gọi tuy âm
thầm nhưng rất mãnh liệt, giờ đây ngài xác định được
rõ ràng ơn gọi của ngài và các bạn cùng chí hướng :
(1) (1) Ơn ngài xin từ lâu đã
được Thiên Chúa nhận lời, đó là được đặt với Chúa
Con, được phục vụ Chúa Giêsu vác Thánh Gía;
(2) (2) Thiên Chúa phê chuẩn
danh hiệu Đoàn Giêsu, vì ngài và các bạn cùng chí
hướng được nhận làm bạn đồng hành với Chúa Giêsu;
(3) (3) Ngài và các bạn cùng chí
hướng không đi Giêrusalem nữa, nhưng đến Rôma, đặt
mình dưới quyền sử dụng của Đức Thánh Cha.
Với thị kiến La Storta, xác tín về lời Chúa Cha:
"Cha sẽ phù hộ chúng con tại Rôma", thánh I-nhã gọi
tất cả các bạn về Rôma, chuẩn bị 'dâng mình' cho Đức
Thánh Cha. Thật ra hạn định một năm chờ tàu chưa
hết, nhưng như chân phước Phêrô Favre nói: "Chúng
tôi đi theo một tiếng nói."
Thực tế là chuyến hành hương Giêrusalem
của thánh I-nhã và các bạn dự tính trong năm 1537 đã
không thực hiện được: chỉ năm 1537 không có tàu đi
Giêrusalem. Tuy nhiên, ước nguyện hành hương
Giêrusalem hình như vẫn nung nấu các ngài. 18 năm
sau, khi dự tính đến Trung Hoa truyền giáo, thánh
Phanxicô Xavier viết cho thánh I-nhã: "Mọi người đều
nói với con là từ Trung Hoa có thể đi Giêrusalem
được." [23] Mặc dầu 'phụ khoản Giáo Hoàng' của lời
khấn đã đưa đến việc thành lập Dòng Tên, hai ước
nguyện song song là được sống gần với Chúa Giêsu và
truyền giáo cho dân ngoại lúc nào cũng thôi thúc các
Giêsu hữu.
2a
Bài đọc thêm
Danh Hiệu
ĐOÀN GIÊSU
Trong số những câu hỏi được nêu lên liên
hệ đến những điều được bao gồm trong Thị kiến La
Storta, có câu hỏi về danh hiệu Đoàn Giêsu của Dòng
Tên. Cũng như những biến cố khác trong kinh nghiệm
La Storta, vấn đề này đòi phải có một cơ sở lịch sử
và một giải thích thần học. Chúng tôi sẽ cố gắng làm
công việc đó.
Chúng ta cần nhắc lại là trong bài huấn
dụ ngày 2.7.1559 của cha Lainez, trong đó ngài giải
thích nguồn gốc phát sinh Dòng Tên, ngài liên kết
danh hiệu Đoàn Giêsu với những gì xảy ra tại La
Storta:
Nền tảng đầu tiên của danh hiệu này [24]
là Cha I-nhã, như tôi sắp giải thích.
Và sau khi đã thuật lại các điều xảy ra
cho thánh I-nhã ở La Storta, cha Lainez kết luận:
Vì thế, Cha rất sùng kính thánh danh cực
trọng, và ước mong đặt tên cho nhóm là Đoàn Giêsu.
Điều này đặt chúng ta đối diện với việc
trình bày các sự kiện mà, có thể vì các lý do sư
phạm, ngài đã tóm tắt trong vài ba hàng những biến
cố có lẽ đã diễn ra trong một thời gian lâu dài hơn
ngài gợi ý. Riêng về danh hiệu Đoàn Giêsu, một số
tác giả đã cho biết nguồn gốc và lý do nhóm các cha
đầu tiên đã chọn. Các tác giả này cũng chính là
những người đã nhiều lần khác nhau và nhằm những mục
đích khác nhau đề cập Thị kiến La Storta: Nadal,
Polanco và Ribadeneira.
Một chứng từ của cha Polanco, được viết
năm 1547- 1548, và được gọi là Summarium Hispanicum,
kể lại những điều các bạn đồng hành của thánh I-nhã
nói hay viết về nguồn gốc và sự lớn mạnh của Dòng.
Về vấn đề danh hiệu, cha Polanco cho biết tên của
Đoàn được chọn trước khi các cha đầu tiên đến Rôma.
Bản văn qui chiếu trực tiếp về La Storta.
Danh hiệu là Đoàn Giêsu. Danh hiệu này
do các bạn đầu tiên chọn trước khi đến Rôma. Họ trao
đổi với nhau về việc người ta hỏi họ thuộc về hội
nào hay nhóm nào (họ có 9 hay 10 người), thì phải
trả lời thế nào. Họ bắt đầu cầu nguyện và suy nghĩ
xem danh hiệu nào thích hợp nhất. Vì thấy ngoài Đức
Giêsu Kitô, giữa họ không có đầu hay trưởng nào
khác, và họ chỉ phục vụ một mình Người thôi, nên họ
thấy nhận tên của Đấng là đầu của nhóm là đúng, và
họ tự xưng là Đoàn Giêsu. Về điều này, Cha I-nhã đã
được Đấng mà các bạn đầu tiên đã nhận tên đến thăm
viếng thiêng liêng rất nhiều lần, và ra nhiều tín
hiệu cho biết Người phê chuẩn và chuẩn y danh hiệu
ấy, đến nỗi tôi đã nghe chính Cha I-nhã nói nếu nghĩ
là danh hiệu ấy không phù hợp, cha tin rằng cha
chống lại Thiên Chúa. Và vì người ta nói cha và viết
thư cho cha để yêu cầu đổi tên Đoàn Giêsu - có người
cho rằng chúng ta đang tự tôn mình lên ngang hàng
với Chúa Giêsu, và người khác đưa ra những lý lẽ
khác - cha nói với tôi , tôi nhớ, nếu mọi người
trong Dòng Tên cùng với mọi người khác, những người
không bị buộc phải tin, mà nếu không tin thì có tội,
nghĩ là phải đổi tên, thì một mình cha vẫn không bao
giờ đồng ý. Ngoài ra, vì Hiến Chương [25] định rằng
không được quyết định gì nếu chỉ một trong các bạn
đầu tiên không động ý, nên bao lâu ngài còn sống,
danh hiệu này sẽ không bao giờ thay đổi. Cha I-nhã
thường có lập trường sắt đá như vậy trong những điều
mà ngài biết được do những cách thức vượt trên sự
hiểu biết của loài người. Và trong những vấn đề như
vậy, ngài không chịu khuất phục bất kỳ lý lẽ nào.
Thực ra danh hiệu Đoàn Giêsu đã được
chọn trong cuộc bàn luận tập thể ở Vicenza vào tháng
9 năm 1537. Có thể gọi đó là một một cuộc lựa chọn,
điều được đề cập trong Linh Thao, nhưng được thực
hiện trong một nhóm. Điều này bao gồm cầu nguyện
riêng và chung, cân nhắc các ý kiến khác nhau, phân
tích và lượng giá các chuyển biến nội tâm, như sau
này các cha đầu tiên sẽ làm một cách hệ thống hơn ở
Rôma vào Mùa Chay năm 1539. Danh hiệu đó các cha đầu
tiên chọn, nhưng cha Ribadeneira ghi nhận là thánh
I-nhã đã đề nghị dành cho ngài việc chọn tên cho
nhóm theo lòng sùng mộ của ngài:
Do đó [26], khi Cha I-nhã và các bạn sau
này quyết định thành lập một dòng tu, và tìm một tên
cho dòng..., Cha I-nhã đề nghị các bạn đ |