|
VỚI KHOA HỌC MỚI CẦN ĐỔI MỚI NHIỀU QUAN NIỆM
TRIẾT-THẦN
Tác giả: Hoàng Sỹ Quý, S.J.
Những phát minh ở thế kỷ XVI-XVII về thiên văn của
Copernic, Kepler, Galilei, và ở thế kỷ XIX về sinh
vật học của Lamarck, Darwin đã làm chao đảo niềm tin
thiếu sáng suốt của bao kẻ và khởi đầu cho một cuộc
ly thân kéo dài đáng buồn của Kytô-giáo với khoa
học. Cũng chỉ vì cách hiểu Kinh Thánh quá “nghĩa
đen” xưa kia, kèm với sự chai cứng trong thái độ bảo
thủ, thiếu cởi mở và mềm dẻo trong cách nhìn thế
giới và cuộc sống.
Từ mấy thập kỷ nay, khoa học lại bước vào kỷ nguyên
của những phát hiện hoàn toàn mới, chúng làm chao
đảo chính những xác tín khoa học của mới đây thôi.
Nhưng cùng lúc, Tòa thánh cũng có những cơn đau đầu
với bao vấn đề đặt ra cho luân lý, cho phẩm giá con
người. Có những vấn đề thấy rõ, như tác biến
(manipulation) con người, nhưng chìm sâu phía dưới
còn bao vấn đề khác liên quan đến những quan niệm
xưa cũ của chúng ta về không gian và thời gian, về
vật chất và bản thể, cũng như về sự liên đới của
chúng với vĩnh cửu, với các mầu nhiệm đạo, với Thiên
Chúa, v.v… Không những đức tin có thể bị thử thách,
mà còn bị thử thách chính niềm tin vào khoa học, vào
tương lai của nhân loại chúng ta.
Quan Niệm Về Con Người Và Thiên Chúa
Mất niềm tin vào khoa học ư? Chỉ mới đây thôi, người
ta tưởng như khoa học đang thế chỗ Thiên Chúa để
biến đổi tất cả và mở ra trước mắt chúng ta viễn ảnh
huy hoàng về một thiên đường tại thế. Thế nhưng rồi
vào thập niên 70, dấu hiệu về sự cạn kiệt không xa
của nguồn năng lượng lỏng khiến khoa học phải giật
mình khựng lại. Kế đó, việc phát hiện tầng ozone bị
thủng và trái đất nóng dần do sản xuất dồn dập và
bừa bãi khiến phải đặt chấm hỏi trên sự toàn năng
của chúng ta. Chiếc đũa thần khoa học hình như đang
trở thành đũa quỷ để ta tiêu diệt chính mình mà
không hay biết.
Không chỉ tiêu diệt mình ở chỗ là sinh vật, con
người có thể tiêu diệt mình ở chỗ là người nữa. Với
khoa Di truyền học mới, người ta đang hoàn thiện bản
đồ gen và xác định tính năng mỗi gen, nhờ đó cải
thiện và biến đổi các giống loại sinh vật. Biết đâu
rồi chẳng đến lượt giống người chúng ta? Thử hình
dung những ngân hàng giống (cho người), chuyên chế
biến và bảo quản các phôi thai để cung cấp theo đơn
đặt hàng những mẫu người khỏe để đánh nhau hay thông
minh để nghiên cứu. Con người không còn là mục đích
của mình nữa, nó thành công cụ và đồ vật mất rồi!
Thật ra, trước khi sản xuất con người, người ta đã
và đang biến chất nó. Không gian phủ ngập sóng thông
tin hướng về tiêu thụ và lợi lộc đang làm công tác
này. Nó muốn nhào nặn cùng một mẫu người mà với họ,
ông Trời là cái bụng và xe đưa là những bản năng hạ
đẳng. Mà một kiểu người như thế liệu có còn là người
hay không?
Khoa học chắc rồi sẽ có thể làm nên chất liệu bán
sinh học và sinh học cho các bộ điện tử, nhờ đó dễ
nối mạng máy tính với óc người, qua đó sai khiến con
người hoặc tạo ra thứ dây chuyền sản xuất mới với bộ
ba Máy-Máy tính-Óc người-Máy, v.v. . .Ô hô con
người! Khoa sinh thái học hôm nay chưa giải quyết
được gì cho môi trường sống của thân xác, thì nay
lại đến lượt môi trường sống của tinh thần bị đe
dọa.
Nếu ý thức giới hạn của mình, khoa học thấy cần phải
khép mình vào một kỷ luật luân lý nào đó, thì chính
sự nhìn nhận thất bại ấy của khoa học cũng đặt ngược
lại cho ông chủ của nó câu hỏi về giá trị của cái mà
ông ta dựa vào xưa nay để lên mặt với đời. Tôi có ý
nói đến lý trí với những khả năng nó mở ra cho chúng
ta.
Vâng, vào lúc mà Ðông phương còn yêu tự nhiên đến
nỗi coi kỹ thuật là Xảo, thì Tây phương vốn thích
phát minh và sáng tạo, đã phát triển nhanh về cả kỹ
thuật lẫn khoa học. Theo một nhà tư tưởng Tây
phương, thì bởi coi yếu tính của Thiên Chúa là sự
toàn năng, nên muốn thành Thiên Chúa, Tây phương đã
cố trở nên toàn năng như Ngài. Thế nhưng, để làm chi
cũng được, thì cái gì cũng phải biết. Toàn năng và
toàn tri đi đôi với nhau.
Từ rất xa xưa, Hy lạp đã đề cao cái biết lý tính.
Học Hy lạp, Tây phương cũng say mê cái mà thầy mình
đã mê say. Quả thế, Hy lạp thần thánh hóa ý tưởng
(idea). Với Platon, thì chỗ ở của ý tưởng là Thiên
giới cơ. Không phải ý tưởng phát sinh từ thực tại,
mà trái lại, chính ý tưởng mới cung cấp phản ảnh của
mình là hình dạng (eidos) cho vật chất, khiến nó
thành cái gì, để được biết và hiện hữu. Với Platon,
ý tưởng là đối tượng chiêm ngưỡng của Trí (Noũs) khi
Trí còn ở Thiên giới. Với Aristote, ý tưởng là đối
tượng trực tri của Trí năng (Intellect agent). Còn
với Plotin, ý tưởng (=noêton, cái khả tri) vừa là
đối tượng trực tri của Trí, vừa là một với Trí, mà
Trí này là Hupostasis thứ hai, hay sự bắt đầu hiện
thể tí ti từ Nhất thể (En) vốn là Hupostasis thứ
nhất, còn u u minh minh, chưa thành chi cả. Cái Trí
thần linh nói đó là chi vậy? Ý tưởng, cũng được gọi
là cái khả tri, là đối tượng trực tri hay chiêm
ngưỡng của nó, là một với chính nó, mà ý tưởng thực
ra là sản phẩm của lý trí, nên cái Trí, Noũs hay
Logos, chẳng qua là lý trí được thần thánh hóa đó
thôi.
Không ai chối cãi rằng, do đề cao Lý trí, ý tưởng
phổ biến, tri thức khách quan, mà Tây phương đã đưa
chúng ta vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa
học và kỹ thuật nó đổi mới tất cả. Thế giới đã thành
thế giới thực sự của loài người, mang đầy dấu ấn của
bàn tay con người. Con người đã “đặt tên” cho hết
thảy (St. 2:20), nghĩa là làm chủ, là đổi thay và
quyết định về cái thế giới đã thành nhà của nó. Có
điều khoa học (cùng với lý trí) phải nhìn ra giới
hạn của mình. Khoa học không giải quyết được mọi vấn
đề của cuộc sống, cũng như cái biết lý tính không
phải là đỉnh cao nhất của tri thức đâu. Vâng, lý trí
không phải là tất cả tinh thần, do đó cũng không
phải là một với tinh thần, như Descartes, Kant và
Hegel tưởng.
Trung quốc xưa không đặt tinh thần ở cái biết khách
quan, nhưng ở một thứ trực giác nội tâm nó làm nên
không phải những triết gia cho bằng những hiền triết
(sage). Ấn độ không phủ nhận giá trị của lý trí,
nhưng họ cho lý trí chỉ là hạ trí, mà họ gọi là
manas. Trí ở chỗ cao nhất của họ là buddhi, hay tuệ
trí. Chính buddhi mới vượt nổi chiều sâu nội tâm để
đạt tới một thứ tri thức huyền bí không khách quan
vì không đối tượng, nó giải thoát chúng ta. Vâng,
trí giả phương đông không thích cái biết nó hướng ta
ra ngoài cho bằng cái biết nó làm phong phú bên
trong.
Sự cần thiết nhưng thiếu sót của khoa học và tri
thức lý tính đòi chúng phải được bổ túc và dung hòa
với những gì sâu xa hơn. Ðây không chỉ là vấn đề đặt
ra cho cuộc sống, mà còn là vấn đề đặt ra cho suy tư
triết-thần. Sự toàn tri (biết mọi điều, dễ được hiểu
như một thứ biết khách quan) hướng Thiên Chúa ra
ngoài, và toàn năng (làm được mọi cái) hướng Ngài về
mặt phức đa của thế giới, đều không phải là đặc tính
cốt yếu của Thiên Chúa Kytô-giáo. Vâng, Thiên Chúa
đúng Kytô-giáo không phải là Thiên Chúa toàn tri
toàn năng và hướng ngoại, cho bằng Thiên Chúa của
đức Ái và bề sâu Cha-Con-Thần khí! Và con đường Ðức
Kytô mở ra không phải là sự ngược dòng ý tưởng để
đạt tới ý tưởng cao nhất: Agathon (Hảo thiện), mà là
vét rỗng những ý tưởng đó để thành bé thơ như chẳng
biết gì, nhờ đó Chúa thông đạt cho ta một thứ biết
hoàn toàn khác, thứ biết thiên phú của đức tin, mà
sự phát triển tối đa sẽ thành huyền kiến (vision) ở
đời này và trực tri Thiên Chúa ở yếu tính Ngài trong
Cõi thọ. Con đường ấy cũng không phải là lớn lên với
sự toàn năng, nhưng là thấp xuống, và Chúa sẽ đợi ta
ở đáy sâu thung lũng. Lại nữa, ta chẳng cần ngước
mắt lên để tìm Chúa, khi mà ta chỉ tiếp cận bề sâu
của Chúa bằng chính bề sâu của lòng mình.
Nói thế không có nghĩa là chúng ta phủ nhận sáng tạo
theo Ấn, do đó không nhìn nhận công lớn của khoa
học-kỹ thuật, không nhìn nhận những giá trị thế trần
chúng là phản ảnh mặt ngoài của Mỹ-Hảo viết hoa. Có
điều những giá trị nói trên không thể khép lại trên
mình mà không mất luôn ý nghĩa. Do đó, vừa thừa nhận
chúng, ta vừa phải có thái độ bất cần đối với chúng.
Ðồng thời, trong khi khai triển cái biết lý tính của
mình, ta cũng hướng căng về một thứ biết trầm sâu
hơn.
Ðây cũng là lúc nên đặt lại vấn đề, xem đâu mới là
biểu hiện lớn nhứt của tinh thần, biểu hiện ấy có
phải là khả năng tri thức của chúng ta hay không?
Quả là người Tây trước kia và thế giới hôm nay
thường nghĩ như thế đấy. Lấy tri thức làm niềm tự
hào của con người, nay chính con người lại phải
nhường ngôi cho máy vi tính cũng vì thứ tri thức xem
ra giống thế. Vâng, trí thông minh cực đại của kiện
tướng cờ vua Kasparov đã thua máy Deep Blue!
Hẳn là anh có thể bảo: Sự thông minh của cái máy, dù
là của siêu máy vi tính trong tương lai, không thể
cùng loại cấp với trí thông minh của con người được.
Thế nhưng đồng ý với nhau được về một tiêu chuẩn để
phân biệt như thế không phải là chuyện dễ đâu. Theo
tôi, sự phân biệt rõ nhất giữa con người với cái máy
và con khỉ phải tìm ở chỗ khác. Vả nữa, đâu phải chỉ
có trí năng mới làm nên tinh thần, nhất là thứ trí
năng rất khiếm khuyết là lý trí của chúng ta.
Như chúng ta thấy, hễ là vật chất thì không thể
không bị điều khiển từ ngoài bởi quy luật, dù đó là
quy luật lý hóa hay sinh lý, tâm sinh lý. Do đó cơn
bão, con cọp hay robot không hề có trách nhiệm về
những phá hoại của mình. Cả cảnh sát và Tòa án đều
thấy rõ như vậy. Vâng tác giả thực của công việc khi
ấy là quy luật, là bản năng, là kẻ lập trình cho máy
vi tính cơ. Cũng vì thế, nắm được quy luật, con
người có thể điều khiển tất cả dù nó không mạnh bằng
con voi và “suy nghĩ” nhanh như máy tính.
Sở dĩ chỉ con người mới làm chủ được sự vật, là vì
nó làm chủ được chính mình và hành động của mình. Ở
chỗ là thân xác, con người bị vây bọc bởi cả một mớ
bòng bong những quy luật, nhưng không ai dám chắc,
trước một biến cố nào đó, anh nhất định sẽ phản ứng
ra sao. Bởi lý do rất đơn giản, là anh có khả năng
cưỡng lại sức ép của cả quy luật lẫn bản năng bên
trong. Hơn thế, anh còn có thể nương theo sức đẩy
của bản năng và quy luật để lái con thuyền buồm cuộc
sống theo hướng đi đã chọn.
Sở dĩ con người là Chủ, vì nó bắt đầu từ chính mình
(tức từ quyết định của mình), chứ không bắt đầu từ
ngoài mình (tức bị quyết định bởi cái không phải là
mình). Nghĩa là con người nắm được mình bằng tự thức
(auto-conscience), bằng cân nhắc suy tư, và bằng tự
định (auto-détermination). Sở dĩ được như thế, là
vì con người có riêng một không gian nội tâm, và nó
— vâng, một mình nó — làm chủ trong ngôi nhà của
mình. Người khác có thể tác động vô đó từ ngoài, chứ
không thể thay thế tôi trong đó. Trong đó, do rối
loạn tâm thần, tôi có thể lầm tôi với một người khác
(lầm về bản tính, quen gọi nhân cách), nhưng tôi vẫn
còn đó, ở thế đối diện với tất cả những gì không
phải tôi.
Chính vì nắm được mình từ trong bằng tự thức, nên
tôi mới bẻ gập được mình (re-flectere) để nhìn mình
đang tri, hành, cảm. Thấy được mình đang tri thức,
tôi cũng tách riêng được ý tưởng (nhờ nó tôi tri
thức) để làm việc với nó, và đây là tư duy, suy luận
(ré-flexion). Tư duy hay suy luận chính là bẻ gập
mình để làm việc trong nội tâm mình với những ý
tưởng (hoàn toàn trừu tượng) của mình. Chính nhờ khả
năng suy luận này, mà từ (ý tưởng về) một thực tại
khả giác, tôi có thể vượt tới những gì siêu giác,
như thực tại siêu hình, những quy luật và nguyên tắc
vốn tổng quát, thậm chí những thể thiêng liêng. Và
đó là giải thích cho khả năng khoa học, kỹ thuật,
giải thích cho văn hóa và văn minh, giải thích cho
đặc tính rất dễ nhận thấy của con người: đặc tính
tiến bộ và tiến bộ không ngơi nghỉ. Mà nguồn gốc và
nền tảng là đặc tính Làm chủ nói trên!
Vâng, chỉ có con người là Chủ, là Chủ thể hay Chủ vị
(le sujet, âtman, tức chính mình). Một mình nó xưng
Tôi và đứng thẳng lên, đối diện với tất cả. Chứ máy
vi tính, dù nhớ nhanh, tính chuẩn và lô dích đến
đâu, cũng vẫn là công cụ, chỉ vận hành theo lập
trình của con người. Tất cả chỉ vì, dù xem như “suy
tính,” nó không thể gập mình nhìn vô trong mình
được: nó không có không gian nội tâm! Bởi không có
bề sâu như thế, nên nó chỉ hướng ra ngoài về phía
“đối tượng” là công việc và đường đi là lô dích
thôi. Dẫu sau này nó có thể trở nên vạn năng, thành
con thú xổng chuồng mà ông chủ là con người không
khống chế nổi nữa, thì nó vẫn là máy, một cái máy
hay nhưng bất kham, như con ngựa hay và bất kham.
Máy điện toán là cái “vị tha” (pro-alio, cái hiện
hữu vì cái khác), chỉ con người do bề sâu và tư cách
Chủ mới là cái vị thân (pro-se, le pour-soi) thôi.
Chẳng những vượt trên máy vi tính, con người cũng
vượt hẳn những sinh vật khác. Sự vượt loại này phải
chăng chỉ là do tiến hóa bằng những bước nhảy vọt?
Nghiên cứu sự phát triển giải phẫu học từ chủng thấp
lên chủng cao, đặc biệt nơi hệ thống gen và khối óc,
nghiên cứu bước tiến rút gọn ấy từ nòng nọc sang
cóc, và ở một vài dấu vết còn sót nơi bào thai con
người, khoa học có tạm đủ lý do để nói tổ tiên chúng
ta là khỉ vượn. Vâng, ít là về thân xác, chúng ta
không ngồi lên trên thế giới, bởi chúng ta cũng
thuộc về thế giới ấy. Và nếu nhìn nhận tôi cũng là
thân xác (chứ xác không chỉ là chiếc áo khoác của
tôi), thì tôi không thể coi vạn vật là công cụ
suông, nhưng bạn đồng hành nữa. Vâng, đồng hành trên
cùng một chuyến tàu. Ðồng hành cả trong cuộc sống
tại thế lẫn trong hành trình hướng về Trời đất mới
(x. Rom 8:21; 2P 3:13...). Một vũ trụ quan đầy tính
sinh thái, phải không?
Cả con đường tiến hóa, đang được hầu hết công nhận,
từ Quantum sơ thủy tới con người hôm nay, cũng phải
làm thay đổi cách chúng ta quan niệm xưa nay về sáng
tạo, về phương thức sáng tạo của Thiên Chúa.
Theo Kinh Thánh, thì Thiên Chúa đã sáng tạo bằng
Lời. Phải chăng Lời đóng vai trò nguyên nhân tác
thành của thế giới? Phải chăng Thiên Chúa là Ðộng cơ
đầu (primum movens) như Aristote nghĩ và thánh Tôma
nghĩ theo?
Thật ra, nếu lấy cái Quantum thô sơ thời ấy mà đặt
bên thế giới muôn mầu hôm nay, ắt là ta phải ngỡ
ngàng không sao hiểu nổi, không thể tin rằng cái quả
lớn kia lại do cái cây tí teo này. Thứ nhất vì xem
ra “không ai cho cái mình không có” (Nemo dat quod
non habet). Chính khoa học cũng được xây trên nguyên
tắc: Mỗi hiện tượng (quả) phải có nguyên nhân tương
xứng cơ mà. Thứ hai, vì đây là một Tiến hóa về
phía..., mà chỉ tinh thần mới thực sự nhắm trước,
nghĩa là hành động vì một mục đích đặt ra. Thứ ba
vì, như giáo sư Trịnh xuân Thuận quả quyết, ngoại
trừ Thiên Chúa (vốn là Tinh thần tuyệt đối), không
một thiện xạ nào có khả năng bắn trúng hồng tâm 1cm
của cái đích đặt xa 15 tỷ năm ánh sáng. Vì chỉ cần
lập trình hay tính sai tí ti ở bất cứ điểm nào trên
đường dài vô tận ấy — vâng, chỉ cần chút xíu đổi
thay như ở một trong những hằng số (thí dụ hằng số
tốc độ ánh sáng) — thì đã chẳng có gì chuyển tiếp,
chẳng có thế giới tuyệt vời này cùng với sự sống ở
giữa, với con người là cái hồng tâm.
Và như thế, sự kỳ diệu của nguyên nhân (tác thành)
đã chuyển sang cho cái đích: từ sự hướng đích trong
thiên nhiên đến sự nhắm đích thần kỳ của một Tinh
thần. Sự vật có làm gì cũng bị đẩy (từ sau lưng) mà
làm, đẩy bởi nguyên nhân và đẩy bằng quy luật mà nó
không thể cưỡng. Ðộng vật xem như tự do hơn, nhưng
thực ra có làm gì nó cũng làm do sức ép của bản năng
cả. Chỉ con người mới đứng thẳng để nhìn về phía
trước, nghĩa là làm gì cũng làm vì một mục đích nhắm
trước. Vâng, chính vì mục đích có nhà để ở, tôi mới
tìm người vẽ mẫu, tìm thợ xây nên, nghĩa là tìm
những trung gian, đặt những nguyên nhân (tác thành).
Như thế, mục đích đúng là nguyên nhân và nguyên nhân
lớn nhất, bởi chính nó tác động trước và mạnh vào
các nguyên nhân trên vốn chỉ được coi như phương thế
thôi. Có điều con người là tinh thần khiếm khuyết,
nên với mục đích suông, nó không thể thực hiện ước
mơ của mình. Nó không thật sự sáng tạo. Chỉ Thiên
Chúa mới từ không làm ra có, mà chẳng cần phương
tiện, trung gian. Muốn có vũ trụ, Ngài có liền nếu
muốn. Nghĩa là chỉ cần đích nhắm (mục đích) thôi. Có
điều Ngài đã muốn dùng trung gian, chứ không trực
tiếp làm nên từng loại một, như tác giả Sáng thế thư
nghĩ.
Tuy dùng trung gian, tạo nên những nguyên nhân tác
thành, nhưng: “không phải do quân nhiều mà trận
thắng, chiến thắng là do sức mạnh từ Trời,” Thiên
Chúa đã dùng cái chẳng đáng gì để làm nên điều vĩ
đại. Vâng, Thiên Chúa đã tạo nên vũ trụ vô cùng lớn
và muôn màu này chỉ từ một Quantum sơ thủy chưa nên
dạng nên hình. Thiên Chúa chỉ đặt vô đó một ý muốn,
cũng là một đích nhắm và một tiếng gọi. Tôi nói
tiếng gọi, vì với cái đích mà Ngài làm chủ, Ngài chỉ
cần gọi ra từ hư vô. Và cũng vì cái đích cuối là con
người có ý thức và tự do, nên Thiên Chúa chờ ở đó
một lời đáp (nhân danh tất cả) để hoàn thành tác
phẩm và hoàn tất công việc. Nghĩa là đến con người
rồi, thì chưa phải là bức họa đã vẽ xong. Con người
có sứ mệnh hoàn thiện nó bằng việc làm và đời sống
của mình. Làm và sống theo cái thiên mệnh đã chiếu
in thành Tính nơi lương tri ấy.
Chính do tiếng gọi và sự nhắm đích toàn năng nói
trên, mà có những bước nhảy vọt, để cái cực bé đẻ ra
cái cực lớn. Vì cùng đẻ, không phải chỉ có nguyên
nhân tác thành, mà trước hết và trên hết còn có
nguyên nhân mục đích của đấng mà ý muốn là nguồn gốc
duy nhất của thực tại. Ý muốn ấy không chỉ có mặt ở
lúc khởi động, mà trong suốt tiến trình. Và như thế
phép lạ diễn ra trong suốt tiến trình, khi mà ở mỗi
bước của tiến trình, không chỉ có nguyên nhân gọi là
tự nhiên. Vâng, nơi nguyên nhân, đã có cái vượt trên
nguyên nhân là ý Chúa, cũng là cái đích mà Chúa
nhắm.
Cách giải thích sáng tạo bằng mục đích hơn là bằng
nguyên nhân này tránh được cái nhìn về con người như
một liên minh giữa hồn và xác. Kytô-giáo xưa nay
miệng thì nói: Con người là một bản tính dù với xác
chất và hồn linh, nhưng trong thực tế, họ mặc nhiên
nghĩ khác khi chủ trương: Linh hồn là do Thiên Chúa
sáng tạo trực tiếp mỗi lần. Như thế có khác chi bảo
rằng: Thiên Chúa chờ cho cơ thể phát triển đến một
mức nào đó, rồi mới tạo từ ngoài một linh hồn để đút
vô. Ðể rồi khi chết, lại nghĩ “hồn lìa khỏi xác,”
chờ sau “phán xét” mới có xum vầy. Thánh Tôma chỉ
chỉnh tí ti khi cho rằng, tuy lìa đấy, mà hồn vẫn
giữ một “liên hệ siêu việt (relation
transcendantale)” nào đó với xác thân.
Vậy muốn giữ cho con người đúng một thể, một tính,
thì phải giải thích tạo, sinh và tử sao đây? Nếu
Chúa trực tiếp can thiệp lần đầu (với nguyên tổ),
Chúa sẽ phải tiếp tục làm thế, cả triệu lần mỗi
ngày, mỗi khi có ai sinh ra. Nhưng nếu Chúa không
tạo sinh linh hồn để đút vô, chả hóa con người là
con của chú khỉ? Quả thật, nếu nhìn sáng tạo như sự
đun đẩy (từ phía sau) của những “động cơ” hay nguyên
nhân (tác thành), thì có lẽ ta phải cam phận với tư
cách thấp hèn ấy đấy. Chứ nếu nhìn sáng tạo dưới ánh
sáng của nguyên nhân mục đích, do sức hút và tiếng
gọi từ phía trước bởi một Tinh thần, thì ta sẽ là
“con” của Tinh thần ấy hơn là của nguyên nhân (con
khỉ) kia. Mà nhìn như thế là đi vào đúng hướng nhìn
của khoa học hôm nay. Với khoa học hôm nay, sự tiến
hóa từ bình diện sinh vật đã mở bung đến tất cả,
vâng, từ cái Quantum duy nhất ấy. Nơi cái Quantum
này, Thiên Chúa đã đặt vô một ý định, cái ý định hay
Thiên mệnh nó biến thành đích nhắm của Quantum, hay,
nói cho đúng hơn, đích nhắm của nhà Thiện xạ nơi
Quantum. Mà cái đích nhắm ấy là con người. Và con
người ấy là xác-thần (tinh thần) hai mặt. Kinh thánh
đã nói đúng khi nói Thiên Chúa sáng tạo con người
vừa bằng bùn đất vừa bằng thần khí hay hơi sống
(ruah) của mình.
Nếu con người là một dưới hai mặt xác-thần, thì thần
không thể hiện hữu mà không còn xác. Nhưng nếu vậy,
giải thích sao đây cái chết như một “hồn lìa khỏi
xác?” Thật ra, không có “hồn lìa khỏi xác,” như Karl
Rahner nghĩ.1 Nghĩa là khi con người còn ở dương
gian, xác nó bị giới hạn trong một khối nhỏ vật
chất, trong vật chất dưới mặt số lượng và phức đa
của nó. Nhưng vật chất không chỉ có mặt phức đa, mà
còn mặt nhất tính nữa. Khi xác chết, hồn chỉ lìa xác
dưới mặt phức đa, do đó biến dịch đó thôi. Hồn vẫn
là sự hiển định (entéléchie, entelekheia) của xác,
nhưng bây giờ thì sự hiển định hướng về vật chất
dưới mặt nhất tính của nó. Có nghĩa là hồn mô thức
hóa (informer) (toàn) vật chất thành xác riêng của
mình, để rồi xác vinh phúc sẽ là “biểu hiện tinh
thuần của tương quan với toàn vũ trụ mà bản vị được
vinh phúc hóa có. 2
Ðể chứng minh vật chất có diện Nhất nói trên, Rahner
phải nại đến hiện tượng Thần giao cách cảm: hai kẻ
cách cảm được với nhau thì dù ở kế bên hay xa ngàn
dặm vẫn hiểu được ý nghĩ của nhau. Thế mà ở thế giới
phức đa này thì cường độ sóng (dù sóng đàn hồi hay
sóng điện từ) luôn tỷ lệ nghịch với khoảng cách.
Ngày nay, với khoa vật lý mới, chúng ta thừa hiểu
rằng vật chất có một gốc nguồn và nền tảng vô cùng
đơn, cái mà biểu hiện của nó vừa là sóng vừa là hạt,
khi năng lượng khi khối lượng (masse) bất phân. Vậy
nếu con người chết chỉ là xác chết về mặt phức đa,
thì tận thế cũng chỉ diễn ra với mặt phức đa của vật
chất đó thôi. Còn Trời mới đất mới, theo tôi nghĩ,
sẽ là sự ăn theo của vật chất đã được thiêng liêng
hóa cách nào đó, để thành cái Chất “một” vĩnh cửu và
sáng láng mà mỗi hồn hiển định thành xác riêng, tùy
độ lành thánh và bản sắc của mình. Vật chất khi ấy
không còn là nguồn gốc của sự phân cách giữa chúng
ta nữa, nhưng nền tảng của sự hiệp thông giữa chúng
ta.
Quan Niệm Về Bản Thể
Với khoa vật lý mới, quan niệm xưa về Bản thể (Ousia
của Aristote theo ý nghĩa Căn bản, hay Substantia
của kinh viện) cũng bị lung lay.
Hãy nhìn một đống cát, nó vừa là cát vừa đống cát.
Thử hỏi cái gì là gốc (bản) của cái gì đây: gốc là
cát hay đống cát? Ai cũng biết cát chỉ thành đống do
con người vun lại, và do trái đất hút lấy (thật ra
trái đất và cát cùng hút lẫn nhau) khiến cát có
trọng lực và đè lên nhau. Nên nếu đưa cát ra khỏi
hấp lực (trái đất), thì cũng hết đống luôn. Hấp lực
chỉ đặt cát bên nhau, chứ chúng không nên một với
nhau từ bên trong. Do đó, gốc của đống là ở các hạt
cát: đống không có gốc ở nơi mình.
Chính hạt cát cũng không có gốc ở nơi nó. Cát chỉ
thành hạt do nhiều phân tử khoáng dính kết, nén lại
với nhau: sức mạnh thống nhất nằm ở ngoài hạt, và
mỗi phân tử khoáng độc lập hoàn toàn nơi mình. Vậy
xem như chỉ có bản thể và cá thể ở phân tử thôi
Thế nhưng, xin mời bạn hãy nhìn vào bên trong phân
tử. Phân tử là do một số nguyên tử họp thành. Họp
như thế nào? Họp qua trung gian của những electron,
mà cách làm trung gian của electron lại có hai cách;
do đó sinh ra hai loại phân tử: loại giả và loại
thực. Trong phân tử giả, các nguyên tử trao chuyển
với nhau một số electron, nghĩa là có bên mất
electron và bên thêm electron. Do đó thiếu quân
bình, sinh phân cực (polar, polarisé) và kém ổn
định. Phân tử thật thì ổn định hơn, bởi các nguyên
tử trong đó có chung với nhau một số electron.
Electron này tác động như một sợi xích nó thắt buộc
các nguyên tử lại với nhau. Như thế, phải chăng đây
là một xâu tù nhân trong đó chỉ từng tù nhân mới là
cá thể và bản thể? Thực ra, chính phân tử mới làm
nên các thực thể trong điều kiện vật lý của trái đất
chúng ta. Nên chúng không thể không là bản thể một
cách nào đó, dầu các thành phần của chúng vẫn độc
lập, vẫn còn tư cách cá thể. Vâng, nguyên tử và phân
tử là những bản thể chồng chéo nhau. Mỗi cái là bản
thể về một mặt nào đó và trong tương quan với một
cái gì đó. Như phân tử hữu cơ tinh bột, chúng là bột
bánh hay thức ăn đối với loài người chúng ta. Và đấy
là trên bình diện trung mô, chứ trên bình diện siêu
vi mô hay siêu vĩ mô, thì vấn đề lại khác. Y như
người trên trái đất sống một trăm tuổi, trong khi
người trên phi thuyền bay nhanh (với tốc độ gần bằng
của ánh sáng) có thể chưa đọc xong một bản tin. Vũ
trụ này tương đối mà! Mà đã tương đối, thì mỗi cái
chỉ là gì đó trong tương đối (hay tương quan) với
một cái gì khác.
Và cũng thế nếu từ nguyên tử ta đi xuống những
nguyên tố cấu thành. Và đây là hạt nhân với những
electron xoay quanh. Electron thì điện âm, nên nhân
điện dương hút nó và đặt nó trong quỹ đạo. Thật ra
điện dương của nhân là do proton, mà bên cạnh proton
thường có cả neutron nữa. Proton là gì và neutron là
gì? Gần như chúng chẳng đáng là gì, khi mà ta có thể
biến một neutron thành proton hay nguợc lại chỉ bằng
cách thêm vào nó hay bớt đi từ nó chỉ một electron.
Lại để cho hai thứ hạt trung tính và dương tính ấy
dính lại với nhau thành nhân, chúng chỉ việc “chi
ra” ít nhiều năng lượng để làm công tác đó. Những sự
nối kết từ ngoài và những ràng buộc quả là rất hời
hợt. Và đấy là bản thể hay cá thể của nguyên tử, của
hạt nhân, của những nguyên tố làm nên hạt nhân!
Xem như thế, cái bản thể hay cá thể trong khoáng
chất, cái mà triết học định nghĩa là “vô phân nơi
mình và phân với mọi cái khác” chỉ là những cái MỘT
rất mờ nhạt, tương đối. Phân tử và những hạt trong
đó không hiện hữu nơi mình (in-se) bằng nơi cái khác
(in-alio). Hơn thế, cái gốc (bản, sub-strat,
substantia) cuối cùng của chúng lại là cái chẳng
ra...gì, lấp lửng giữa hạt và sóng, giữa khối
(masse) và năng lượng.
Với thứ bản thể như vậy, chúng ta phải hiểu thế nào
về những khái niệm như Biến thể
(trans-substantiatio) của thần học (kinh viện) đây?
Trước đây, khái niệm ấy chỉ gặp khó khăn với triết
học, nay lại thêm khó khăn về phía triết-khoa học
nữa.3 Nếu bản thể bánh rượu khó xác định, thì sao nó
mất chỗ được khi mà gần như nó chẳng là gì cả. Một
thần học gia kia đã đề ra một cách giải quyết: Nếu
bánh rượu không là bản thể xét về phía chúng (quoad
se), thì chúng vẫn là bánh rượu bản thể đối với con
người (quoad me, hominem).
Theo tôi nghĩ, vấn đề không phải là từ ngữ, mà nội
dung của niềm tin Thánh Thể, cũng là cái mà Giáo hội
muốn chỉ qua những từ ngữ nói trên. Nội dung ấy là
mầu nhiệm, khiến những giải thích lý tính chỉ tiếp
cận thôi, chứ đạt tới thì không thể bao giờ. Tuy
tiếp cận, mà vẫn tiến tới mãi, nghĩa là điều được
xác định hôm nay, mai ngày có thể được chỉnh lại
bằng một lối diễn tả khác, ít là bằng một cách hiểu
sâu xa hơn từ những từ ngữ cũ xưa.
Tất cả đã diễn ra như vậy với phép Thánh Thể.
Ngay thời các tông đồ, ai nấy đều hiểu rằng bánh và
rượu, đó là chính mình và máu Chúa (1Cor 10:16). Sự
thật ấy rồi sẽ được triết lý hóa một tí trong tiếng
Praesentia realis, mà lm. Hiến Minh dịch là Thực
diện. Thực ra, Praesentia realis có nghĩa
Praesentia rei, sự có mặt của chính thực thểû, tức
Hiện diện hữu tính (présence ontique). Hiện diện
thực thể rồi sẽ được giải thích thêm bằng khái niệm
Conversio và Transformatio, tức Biến đổi.
Vào thời trung cổ, niềm tin bị chao đảo giũa hai
luồng học thuyết cực đoan: một đằng giải thích thực
diện một cách thô thiển, vật chất; đằng kia lại quá
thiêng liêng, kiểu như nghĩa bóng vậy. Tiêu biểu về
loại này có Bérenger vào thế kỷ XI. Thần học kinh
viện (théologie scholastique, thần học nhà trường)
với việc khám phá Aristote và Mười phạm trù của ông,
đã đưa ra một khái niệm mới: Trans-substantiatio,
Biến thể hay chuyển đổi bản thể, để đưa vấn đề sang
lãnh vực thuần túy siêu hình, và giải thích tại sao
vẫn còn bề ngoài (tùy thể) của bánh rượu, mà bên
trong và nền tảng đã là Mình Máu Chúa Yêsu
Tiếng Substantia này, người ta dùng để dịch tiếng
Ousia của Aristote theo ý nghĩa thứ nhất: cái chủ
thể hay nền tảng (hupokeimenon) nó đón nhận cái
Ousia theo ý nghĩa thứ hai là yếu tính, cũng như đón
nhận các thuộc thể tùy phụ. Khái niệm Chuyển đổi bản
thể, một sáng tạo thời đó để giải quyết nhiều khó
khăn và đưa thực diện thoát ra khỏi cách hiểu thuần
hình lý (physique); nhưng theo Peter Eicher trong
Dictionnaire de Théologie, nó cũng “tạo ra nhiều vấn
đề; những vấn đề này phát sinh không từ thực tại
tính của mầu nhiệm đức tin, nhưng từ một hệ thống
triết học nào đó” (tr. 215a).
Sau thánh Tôma, sự phân ly hình lý với siêu hình lý
không được giữ vững nữa, và sự chống đối khái niệm
Biến thể của khối Tin lành khiến công đồng Trentô
càng kiên giữ khái niệm đó của thánh Tôma. Gần đây,
giáo phái Luther đã chính thức xích lại với Công
giáo khi họ nhìn nhận rằng, trong lễ Tạ Ơn, Chúa
Yêsu quả có mặt “vere et substantialiter” (thật sự
và bằng bản thể) bên dưới hình thức bánh và rượu (CA
10; Ap 10). Như thế hẳn đã đủ. Vì hẳn đây là điều mà
Kytô-hữu từ muôn xưa vẫn tin, mà huấn quyền có ý
nhắm dù trong khái niệm Biến thể.
Ngày nay, khoa vật lý mới cho ta thấy tính mờ nhạt
và chồng chéo nhau của các bản thể khoáng chất. Biết
đâu vì thế mà Chúa Yêsu đã chọn bánh rượu thay vì
sinh vật, nơi mà bản thể tính hay cá thể tính đã rõ
và vững rồi. Vả lại, con người vinh phúc của Chúa có
còn là bản thể như mọi bản thể tự nhiên khác hay
không, hay phải được quan niệm như một siêu bản thể?
Theo K. Rahner, những phạm trù của một triết lý chỉ
giúp hiểu phần nào các mầu nhiệm của đạo thôi. Và
chính công đồng Trentô cũng nhìn nhận: “từ ngữ của
chúng ta chỉ diễn đạt được phần nào” về “hiện diện
huyền tích của Chúa trong lễ Tạ Ơn” (DS 1636).
Ngoài ra, quá nhấn vào Hiện diện và quá khách quan
hóa Hiện diện đó, chúng ta dễ rơi vào một quan niệm
tĩnh (static) về lễ Tạ Ơn,4 cũng tĩnh như khi trong
cầu nguyện, lắm người thờ kính Thánh Thể ngoài thánh
lễ mà không quy hướng về thánh lễ. Thánh lễ ấy là
một hành vi về phía chúng ta: tưởng niệm (anamnêsis)
và hiệp thông (koinônia). Và một hành động về phía
Chúa: tự hiến tế mình và tự hiến thân làm thức ăn
nuôi dưỡng. Tự hóa bánh thành mình như thế, Ngài
đang biến đổi ta trong Ngài, đồng thời biến đổi cả
thế giới, về hướng cánh chung. 5
Thêm vào đấy, tiếp theo thần học gia Tin lành F.
Leenhardt, Schoonenberg đưa vô Thực diện một cái
nhìn sinh động hơn nữa: Chính tương quan và ý nghĩa
làm phát sinh sự Thực diện này. Tương quan và ý
nghĩa mà làm nên hiện hữu ư? Thì những khám phá vật
lý mới cũng cho thấy như thế đó. Thực tại thiên hình
vạn trạng của thế giới mà ta thấy hôm nay chỉ là do
hơn trăm nguyên tử giao đan với nhau (bằng những
cách giao đan khác nhau) mà làm nên tất cả. Và nền
tảng hơn nữa, do sự giao đan của vài chục hạt cơ
bản, nặng hadron và nhẹ lepton. Và điều này, các
triết gia cổ đại như trong Sâmïkhya đã thoáng thấy:
mọi thực tại vật chất chỉ từ ba phẩm chất
(tri-gunïa): âm (tamas), dương (sattva), lực
(rajas) chúng liên kết trong những tỷ lệ khác nhau
mà thành. Hay như trong Kinh Dịch với học thuyết âm
dương và tám quẻ .
Vậy theo Schoonenberg, bởi lẽ tương quan quyết định
hiện hữu, nên dù bản thể cũng không phải là cái vững
mãi nơi mình. Mỗi biến cố hay sự vật đều ngỏ cửa sẵn
cho những tương quan định ý (de signification) mới,
mà qua đó chúng được biệt định lại, và thế là có
Biến thể. Vâng, không phải chỉ có Biến ý
(trans-signification) suông trong thánh lễ, mà cùng
với Biến ý cũng diễn ra một Biến thể nữa,6 khi mà
bữa ăn Chúa mời dự đã nên “dấu hiệu hữu hiệu” của
hiệp thông với Chúa và hiệp thông với nhau. Sự trao
ban bánh rượu trong một tương quan hoàn toàn mới như
thế, đã chuyển sang một ý nghĩa mới cùng với chức
năng mới của ký hiệu, nhờ đó diễn ra trong pháp lực
Thánh Thần một chuyển biến tận gốc
(substantialiter). 7
Quan Niệm Về Thời Gian Và Vĩnh cửu
Không một ý tưởng nào xuất hiện mà không có một ảnh
tượng tâm lý nâng đỡ. Và không một cái gì được hình
dung mà không cùng với vị trí của nó trong không
gian và thời gian. Không gian và thời gian, đó là
hai mô thức (form), khuôn thước cần thiết thuộc cảm
năng (sensibility). Chúng có tên trong danh sách
Mười phạm trù (kategorias) của Aristoteles. Chúng
được E. Kant gọi là hai ý niệm (concept) của cảm
năng.
Không gian và thời gian được con người hình dung thế
nào? Không gian được hình dung như một thứ hộp rỗng,
tĩnh, mà thành hộp lùi xa đến vô tận. Trong cái
khoảng không rỗng, tĩnh và cố định ấy, mỗi sự vật
đến chiếm một vị trí và trương độ (étendue,
extension) nhất định. Còn thời gian là đường thẳng
một chiều, kéo dài đến vô tận cả về quá khứ lẫn
tương lai. Ðể rồi mỗi hiện tượng sẽ ghi dấu của nó ở
điểm không bề dày là hiện tại, và xuôi dòng bó buộc
về phía sau. Vâng, con đường một chiều ấy là không
thể lật ngược đối với đầu óc chúng ta. Nghĩa là
không ai quan niệm nổi một thời gian chạy ngược.
Không gian và thời gian kiểu ấy được gọi là Không
gian tuyệt đối (absolute, absolu) và Thời gian tuyệt
dối. Tuyệt đối, nghĩa là không tùy thuộc (tương đối
với) bất cứ gì.
Thế nhưng khoa vật lý lượng tử, hạt cơ bản và thiên
văn đã đánh bật cái nhãn Tuyệt đối ấy để thay bằng
nhãn Tương đối. Tương đối, nghĩa là Tùy: tùy quan
sát viên và tùy vận tốc.
Chúng ta hãy bắt đầu với thời gian. Thời gian ấy
được tính lại theo công thức của Einstein.
Như thế, khi vận tốc v của anh và tôi quá nhỏ so với
vận tốc c của ánh sáng, thì thời gian t của anh và
tôi coi như thời gian chung, bởi lẽ chúng bằng nhau.
Chứ nếu tôi di chuyển quá nhanh (trên một phi thuyền
siêu tốc chẳng hạn), thì khi trở về tôi chưa đọc
xong tờ báo đã thấy anh già đi cả mấy năm. Vâng,
thời gian không phải bên ngoài những biến đổi của
mỗi thực tại. Nó không có hiện hữu riêng, bên ngoài
những biến đổi ấy.
Tuy khám phá được tính tương đối của thời gian, các
nhà khoa học vẫn tưởng như thời gian là một thực
thể, giống con sông, để người ta ngược dòng bằng
cách vượt qua tốc độ ánh sáng. Các phim như Star
trek đã “viễn tưởng” điều ấy. Ðạt tốc độ siêu ánh
sáng ư? Ðó là điều có thể, trước hết nhờ “Hiệu ứng
đường hầm,” theo đó thì khi một nắm hạt cơ bản được
phóng xuyên một vật thể, một số (rất ít) hạt thực sự
xuyên như qua một đường hầm, và khi ấy vận tốc của
chúng vượt ngưỡng (cửa) ánh sáng. Có điều đây là hạt
cơ bản, và chỉ một số hạt thôi, chứ không phải con
người anh để anh ngược dòng (thời gian). Và cũng thế
đối với trường hợp các “lỗ đen,” mà khi đến gần, dù
ánh sáng cũng bị hút vô vớt tốc độ siêu ánh sáng
(khiến lỗ thành đen vì không có ánh sáng từ đó tới
được chúng ta). Vâng, nếu muốn chui qua lỗ đen bằng
phi thuyền, thì dù cho phân tử, nguyên tử cũng tan
rã, nói chi phi thuyền với những ai đi trên đó.
Giả như mai ngày anh đủ kỹ thuật để vượt an toàn
ngưỡng ánh sáng, hỏi dòng thời (gian) có để anh bơi
ngược hay không? Bơi ngược, có nghĩa là đang già hóa
trẻ, sắp chết thành mới sinh ra. Ừ thế cũng được đi,
chứ con mà sinh trước bố, cháu đẻ trước ông bà, thì
ôi thôi! Nói gì thì nói, liệu có hợp lý khi hiệu quả
đi trước nguyên nhân hay không, nghĩa là cứ ăn trái
đi, rồi sau mới trồng cây ăn trái?
Phản chứng minh rõ nhất có thể tìm thấy ở giây phút
liền sau tiếng nổ Bigbang, lúc mà sóng và hạt bung
ra với tốc độ siêu siêu quang, khiến ánh sáng hôm
nay chỉ còn là hóa thạch (fossile), không tăng vận
tốc nghĩa là không còn sức. Vâng, với tốc độ siêu
siêu quang ấy, sóng và hạt hẳn phải siêu siêu giật
lùi, về phía bắt đầu, nghĩa là về phía... không có
gì cả, chứ tiếp tục tiến hóa về phía các con người
muốn ngược dòng hôm nay sao được. Phản chứng minh
tiếp theo là ở chính ánh sáng. Theo đúng công thức
Einstein, thì chính ánh sáng, bởi di chuyển bằng tốc
độ ánh sáng, sẽ khiến thời gian di chuyển bị triệt
tiêu. Thế có nghĩa là ánh sáng không mất một giây
nào để đi bất cứ đoạn đường nào, điều ấy mâu thuẫn
với hằng số: 300.000 km/giây tốc độ của nó. Và cũng
thế khi anh di chuyển với tốc độ ánh sáng, anh sẽ
đồng thời có mặt ở cả điểm tới lẫn điểm ra đi, do đó
có mặt ở mọi nơi nếu anh muốn. Mà như thế, thì từ
trái đất xuất phát, anh vẫn ở nguyên trên trái đất
bên cạnh những người thân không đi: anh thì yên đấy,
còn người thân lại cứ đổi thay và di chuyển, kết
cuộc thì chính họ đi, chứ anh không đi.
Những nghịch lý nêu trên khiến phải nhận ra rằng,
nếu vũ trụ vĩ mô của Einstein đẩy các công thức vật
lý cũ xuống thành trường hợp đặc biệt cho mấy công
thức của ông, 8 thì công thức của ông vốn dựa vào
những định đề, như tốc độ ánh sáng là tuyệt đối và
giới hạn, cũng không còn đứng vững khi tốc độ đạt
tới ngưỡng (seuil) hay vượt ngưỡng đó, để trở thành
trường hợp đặc biệt của những công thức bao quát
hơn.
Việc tìm hiểu và phân tích thời gian tương đối của
Einstein rất hữu ích để giúp ta thoát ra khỏi cái
quan niệm thâm căn cố đế về thời gian. Thật ra, thì
thời gian dù tương đối cũng chẳng có, khi mà chẳng
có thời gian như một thực thể riêng biệt, thậm chí
như một bản thể. Cái có thực chỉ là từng con người
và từng sự vật cùng với những biến đổi liên tục của
chúng. Biến đổi, đó là có gì đó đang mất đi, và có
gì đó đang hiển định. Nghĩa là chỉ có Ðang được kêu
là Hiện tại, Không còn bị xếp vô ngăn quá khứ, Chưa
có đặt vô nhóm Tương lai. Với quá khứ tồn tại đây
bằng hậu quả và kỷ niệm, với tương lai đã có đây
trong ý định, sắp đặt hay nguyên nhân. Tất cả chỉ có
thế, nghĩa là có nền tảng cho ý niệm thời gian ở
thực tại, chứ chính thời gian thì không, không cho
thời gian tuyệt đối của vật lý cũ, không cho cả thời
gian tương đối của Einstein. Còn ý niệm tiên nghiệm
(a priori, transcendantal) Thời gian của Kant? Không
có ý niệm hay khuôn khổ sẵn có của cảm năng tự nhiên
đâu, chắc thế. Nghĩa là do bản tính xác-thần quy
nhất, mà con người có sẵn trong cảm năng một khả
năng, để với kinh nghiệm ngàn vạn đời tích góp, nó
hình thành cho mình một ý niệm, ý niệm về một thời
gian tuyệt đối như ta có hôm nay. Và như thế, Thời
gian là vấn đề thuộc văn hóa hơn bản tính.
Nắm được Thời gian như thế rồi, ta sẽ hiểu dễ hơn
Vĩnh cửu. Vĩnh cửu không phải Thời gian, cũng chẳng
Không-thời gian, bởi lẽ với định nghĩa như thế, ta
đã dựa vào thời gian để hiểu và đo lường Vĩnh cửu.
Ngay những từ Vĩnh và Cửu cũng nói lên điều ấy. Nếu
thời gian chẳng qua là Biến đổi, thì Vĩnh cửu thực
ra chỉ là bên trên những biến đổi, thế thôi. Bên
trên nbững biến đổi cũng không thể hiểu là Tĩnh hay
một Hiện tại kéo dài được. Vâng, tích cực đó là gì,
thì sao ta hiểu nổi, huống nữa hình dung.
Nằm giữa vĩnh cửu và thời gian, còn ý niệm Huyền
nhiệm (mystique). Là huyền nhiệm, cái vừa ở trong
thời gian vừa vượt trên thời gian. Như Thập giá vừa
là biến cố lịch sử, vừa không chấm hết với quá khứ,
để thành hiện tại trong thời gian bất cứ đâu và lúc
nào có người “làm cái này mà tưởng nhớ Thầy” thích
hợp. Nhờ khoa học mà thoát ra khỏi thời gian ở chỗ
nó là thực thể và thực thể chung, ta dễ hiểu hơn cái
đang có đó cũng là cái đã có rồi.
Quan Niệm Về Không Gian Với Toàn Tại
Cũng như thời gian, không gian Euclide và Newton là
tuyệt đối, một ý niệm trừu tượng nhưng với nền tảng
nào đó ở thực tại. Không gian Einstein trái lại, là
không gian hình cầu và đóng kín, không phải ba chiều
nhưng bốn, và đó là liên khối không-thời gian
(space-time continuum). Do đó không có đường thẳng
thật, và mọi chiều kích đều biến đổi với vận tốc,
chứ chẳng gì cố định và xác định cả.
Như thế, cũng như thời gian, không gian không phải
là một thực thể riêng. Nó là một với trương độ và vị
trí của mỗi vật, mà cả hai đều tương đối hết. Và nếu
thời gian nói lên đổi thay, thì không gian lại làm
nên bởi nhiều đơn vị; do đó cả hai đều diễn tả cái
mặt phức đa và số lượng của vật chất, ít là vật chất
dưới bộ mặt phức đa và số lượng của nó. Cho nên,
dưới bộ mặt đơn nhất của nó nếu có như K. Rahner
nghĩ, thì không gian và thời gian cũng tiêu luôn.
Ðây hẳn là trường hợp của Trời mới đất mới. Và ở đây
không còn thay đổi, cũng chẳng có bên dưới bên trên
tuy rằng người ta vẫn nói lên Trời và xuống Ðịa
ngục. Thật thế, ngay cả một số trí giả vô tín cũng
rêu rao: Hỏa tiễn lên trời rồi, mà Thiên chúa chẳng
thấy đâu. Thật ra, Trời của tôi đâu phải một không
gian, Trời của tôi là Thiên Chúa Ba Ngôi đó.
Còn tính Toàn tại của Thiên Chúa? Thiên Chúa toàn
tại không phải Ngài ở khắp mọi nơi, cũng như Thiên
Chúa hằng cửu không hề thuộc mọi thời. Ngài có mặt
với mỗi cái và tất cả từ điểm quy nhất của thế giới.
Ngài có mặt như nguồn và đích của mọi hiện hữu, như
Chúa của mọi thụ tạo. Với tạo thế, Ngài cho tất cả
“hiện hữu và sống động trong (Ngài),” nhưng vẫn
ngoài nội tâm của Ngài. Nội tâm ấy, với mầu nhiệm Ba
Ngôi, chỉ những con người được tái tạo siêu nhiên
mới được gọi vô để chia sẻ.
Chú thích
(1) Ecrits theologiques 3 tt.113-121.
(2) Ibidem, tr.121.
(3) Phải chăng vì những khó khăn đó mà Vatican II đã
tránh tiếng Biến thể?
(4) Sacramentum Mundi II, tr.260a: “… the bodily
person of Jesus is present in the supper, not
however in a static manner of being a thing…”
(Johanned Betz).
(5) Xem thêm Dict. de théologie, tt.216a, 214a,
213a.
(6) Rõ ràng Schonenberg không cùng phe với những
người chủ trương chỉ có Biến ý hay Biến dịch, nghĩa
là chỉ có Hiện diện theo nghĩa bóng thôi.
(7) Xem thêm Dict. de théologie, tt.216b
(8) Như thời gian của chúng ta trên mặt đất, với di
chuyển tương đối chậm, thì ta nào cũng b |