|
|
| |
|
NGÀI ĐÃ YÊU
CHÚNG TA TRƯỚC
Nguyễn Công Đoan , SJ
Theo
http://www.donghanh.org/main/01-hd/1td_hd_029_ngai_da_yeu_truoc.htm
"Tình yêu của Chúa là như thế này: không phải chúng
ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng Ngài đã yêu
chúng ta trước và đã gởi Con của Ngai đến làm của lễ
xá tội cho chúng ta..." (1 Gio 4,10). Thế đấy bạn ạ. Tình Yêu của Ngài là Tình yêu
nguồn mạch, tình yêu làm cho đối thể được hiện hữu
và tồn tại. Ngài yêu ta nên ta mới có mặt trên đời để đón
nhận tình yêu ấy. Ngài yêu ta nên mới đeo đuổi ta đến nỗi gởi
con của Ngài đến làm lễ xá tội mà cho ta được quay
mặt lại với Ngài sau khi ta đã quay lưng. Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta là
Ðức Kitô, khi chúng ta là kẻ tội lỗi, đã chết vì
chúng ta (x.Rom 5,8). Ðiều kỳ diệu nhất là Ngài không muốn chiếm
hữu chúng ta như một đồ vật, nhưng cho chúng ta tự
do đón nhận hay từ chối. Cả bằng chứng lớn nhất Ngài
đưa ra cũng chỉ mang tính mời gọi: "Ai tin vào Người
Con ấy thì sẽ được sống..." Ngài chấp nhận chơi ú à và cút bắt với chúng
ta để chúng ta nhận ra tình yêu của Ngài và tự mở
lòng, mở tay mà đón Ngài, sà vào lòng Ngài. Và Ngài mời gọi chúng ta phải yêu như Ngài đã
yêu.
"Nếu các con yêu mến những ai yêu mến các con,
thì có đáng công trạng gì đâu... hãy hoàn thiện như
Cha các con trên trời" (Mt 5,46-48). Muốn hoàn thiện
như Cha trên trời thì "tất cả những gì các con muốn
người ta làm cho các con, các con hãy làm cho người
ta trước đi!" (Mt 7,13). Ðó là cách giải thích chính
xác và đầy đủ nhất giới răn "yêu người như chính
mình". Nếu lấy mình làm thước đo, thì phải đo cho
người trước, mình muốn người ta làm cho mình cái gì
thì hãy làm cho người ta trước đi, không phải để rồi
người ta làm lại cho mình đâu, nhưng để nên giống
Cha, nên hoàn thiện như Cha trên trời thôi. "Cha đã
yêu thương Thầy thế nào, Thầy đã thương các con như
vậy. Thầy đã yêu thương các con thế nào, các con
cũng hãy yêu thương nhau như vậy". Bắt chước Ngài ở điểm này thật khó, bởi vì nó
ngược với tính tự nhiên, tính tự kỷ trung tâm của
ta: muốn mình là cái rốn của trái đất, mọi người,
mọi sự phải vừa ý mình, nếu không thì không chấp
nhận. Yêu người yêu mình, người vừa ý mình, vừa mắt
mình... còn không thế thì ghét, thì chê, thì xa
lánh. Chúa Giêsu đã đến với những người, mà người
đời xa lánh, ruồng bỏ: những người phong cùi, những
người bị xếp hạng là tội lỗi, những người nghèo...
và sự hiện diện của Ngài thay đổi họ, làm cho họ
được sạch, tha tội cho họ, chia sẻ nỗi cùng khổ của
họ, an ủi họ, loan tin mừng cho họ. "Ngài đã nên
nghèo hèn để chúng ta được giàu sang". Bắt chước Ngài điều này khó ở bước đầu, vì nó
trái với tính tự nhiên của ta, khó ở bước sau, khi
ta đã nếm mùi vong ân, sự hất hủi. Chính Chúa Giêsu
đã trải qua nỗi đau ấy: Ngài cảm thấy mình là "cung
đàn lạc điệu", giống như đám trẻ không ăn cánh với
nhau khi nô đùa trên công viên, thổi sáo điệu vui
thì không chịu nhảy, xướng điệu buồn thì không chịu
khóc. Nếu chúng ta sống như Ngài đã sống và yêu như
Ngài đã yêu thì thế nào chúng ta cũng phải nếm thân
phận "cung đàn lạc điệu", vì "không giống ai". Từ ngàn xưa vẫn như thế bạn ơi. Ngưu tầm
ngưu, mã tầm mã. Người chính trực là cái gai trước
mắt kẻ gian ác (Kng 2,12-20). Thế giới hôm nay và xã hội này cần thứ tình
yêu đi trước ấy để thoát khỏi chiến tranh hủy diệt
và khỏi sự tan rã. Khi người ta cố nén cái tôi xuống
bằng cách không cho nó đất sống thì nó bùng lên để
độc chiếm tất cả. Mỗi người chỉ còn lo cho mình, cho
gia đình mình trước đã, còn xã hội, đất nước thì để
người khác lo, bởi vì họ thấy chẳng ai thiết thực lo
cho họ và gia đình họ. Báo chí hằng ngày nêu đầy
những chuyện "cha chung không ai khóc". Sự thờ ơ với
số phận người bên cạnh, với tương lai của dân tộc đã
tới mức báo động. Ðau thương, nghèo đói quá nhiều,
những con tim khối óc và những bàn tay để săn sóc,
chữa chạy thì quá ít.
Cuộc sống buồn, đau, khổ, quá nhiều Tâm hồn, thể xác biết bao nhiêu Trăm mắt, nghìn tay không chữa hết Vạn nỗi sầu thương đủ trăm chiều.
Yêu mến từng con người
Ðặc tính thứ hai của tình yêu như Ngài đã yêu, là
yêu từng con người nhỏ bé nhất, hèn kém nhất. Ngài
không yêu thương loài người một cách chung chung,
nhưng là từng con người. Thông điệp đầu tiên của Ðức
Gioan Phaolô II mang tên "Ðấng cứu chuộc con người"
nhấn mạnh điều này. Chúa Giêsu trân trọng từng con người nhỏ bé
và dạy môn đệ chớ coi thường một ai. Chúa tự đồng
hóa với mỗi con người nhỏ bé nhất: "Mỗi lần các
người làm như thế cho một trong những người nhỏ bé
nhất này là làm cho Ta vậy" - và mỗi lần các ngươi
không làm như thế cho một trong những người nhỏ bé
nhất này là các người không làm cho Ta vậy" (Mt
25,40-45). "Ai đón tiếp một người nhỏ bé như thế này
nhân danh Ta là tiếp nhận Ta đấy" (Mt 18,5-10). Trên đường Chúa đi, Chúa đã chẳng làm ngơ
trước một con người nào đang đau khổ: kẻ phong cùi
mà mọi người xa lánh, kẻ mù bị mọi người khinh chê,
người mẹ giá khóc thương con một, người cha có đứa
con động kinh, viên sĩ quan có người đầy tớ thân tín
bị bệnh... Ngài âu yếm như mẹ hiền cúi xuống từng
đứa con mà săn sóc ân cần chắt chiu. Ngày nay, người ta hay nói đến đồng bào, đến
dân tộc, nhưng người ta lại ít khi nhận thức được
rằng dân tộc, đồng bào không phải là cái gì trừu
tượng vu vơ, mà là những con người máu đỏ da vàng
đang chen chúc bên nhau trên mảnh đất quê hương hình
chữ S này. Người ta sẵn sàng hy sinh vì đất nước
nhưng lại khó nhường nhịn yêu thương người đồng bào
bằng xương bằng thịt đang sống bên mình. Người ta vỗ
ngực là người phục vụ nhân dân, nhưng nhiều khi quên
rằng nhân dân là con người đang đau khổ, đang đói,
đang khóc trước mặt mình, đang cần được mình giúp
đỡ. Mỗi lần đọc kinh Mười Ðiều Răn, ta nhắc lại hai
điều: "trước kính mến một Ðức Chúa Trời trên hết mọi
sự, sau là yêu người như mình ta vậy", nhưng ta lại
quên rằng, người mà ta phải yêu như mình ta vậy lại
chính là con người bằng xương bằng thịt đang đứng
bên ta, đang chen lấn ta ở cửa hàng, ở quầy vé, thậm
chí đang làm phiền ta, đang thù ghét ta...
Yêu mến thiết thực
Yêu mến từng con người chỉ thành sự thực khi yêu mến
một cách thiết thực. Chúa Giêsu đã yêu mến tất cả và
mỗi người Ngài gặp một cách thiết thực. Ngài chẳng
để họ về không mỗi khi họ tiếp nhận Ngài. Người mù
được sáng, kẻ què đi được, người điếc nghe được,
người câm nói được, người mẹ mất con được lại con,
người chị mất em đuợc lại em, thậm chí đám cưới đang
lúng túng vì thiếu rượu cũng được Ngài cho rượu tràn
trề. Ngài quan tâm cả tới nỗi mệt nhọc của môn đệ và
đưa họ đi nghỉ dưỡng sức, Ngài quan tâm cả tới những
yếu đuối của họ để sửa dạy và nâng đỡ. Tình yêu của
Ngài thiết thực như một người mẹ hiền săn sóc con
cái. Trong chuyện kể về ngày phán xét, Ngài kể ra
những điều thiết thực: cho ăn, cho uống, cho mặc,
thăm viếng...
Các tông đồ cũng nhắc người ta những điều thiết thực
ấy và bác bỏ thứ yêu thương bằng lời nói đầu môi
chóp lưỡi (1 Gio 3,16-18). Ðể có thể đi tới chỗ hiến
mạng sống mình vì anh em, trước tiên phải tập từ
những cái nho nhỏ: quan tâm tới và chia sẻ những cái
nhỏ bé hằng ngày với lòng mong muốn anh em mình được
hạnh phúc, vui, sướng, "được sống và sống dồi dào
hơn". Vui vì niềm vui của người khác, buồn nỗi buồn
của người khác: "Vui với người vui, khóc với người
khóc". Hiến mạng sống là biến cố cuối cùng, hành
động cuối cùng, nó chỉ có thể xảy ra khi người ta đã
biết cho đi từng giây phút, từng miếng cơm, từng tấm
áo, từng lời an ủi... Thánh Maximilien Kolbe đã trải
qua tất cả quá trình ấy cho tới hành động cuối cùng,
nên hành động cuối cùng của ngài cũng tự phát và nhẹ
nhàng, giản dị như là nhường một miếng ăn, một ngụm
nước vậy thôi, không cần lý luận, đấu tranh nội
tâm... bởi vì ngài đã sẵn sàng như thế từ lâu, giống
như một kiếm sĩ tài ba xuất chiêu cuối cùng của mình
cũng nhẹ nhàng như chiêu mở đầu. Chỉ khi ta đã biết yêu quí người khác một
cách đích thân và thiết thực, biết quí và trân trọng
mạng sống và hạnh phúc của người khác, mong cho họ
được sống dồi dào hơn, được hạnh phúc hơn, và thực
hiện lời Chúa dạy: "Ðiều mình muốn người ta làm cho
mình thì hãy làm cho người ta trước đi!", lúc đó ta
mới có thể đặt mạng sống và hạnh phúc của người khác
trên mạng sống và hạnh phúc của mình, và sẵn sàng
theo Chúa Giêsu đến bằng chứng lớn nhất của tình
yêu. Khi ta biết yêu như thế, thì ta cũng sẽ biết
quí trọng vạn vật, sẽ có thể gọi là anh mặt trời,
chị hằng nga, và muôn loài sinh vật đều là "anh em",
đều chung hưởng sự tốt đẹp và đáng yêu của chính
Thiên Chúa. Ta sẽ gặp thấy Thiên Chúa trong mọi sự.
Yêu thương và Thánh Thần
Khi ta yêu mến từng con người một cách thiết thực
như thế, ta sẽ hiểu được những đặc tính hoặc thái độ
của bác ái mà thánh Phaolô kể trong 1 Cor 13,4-7.
Tất cả là tiếp nhận và trân trọng một con người và
tự coi mình là kẻ phải phục vụ con người ấy như Chúa
Giêsu, Ðấng "đã đến để phục vụ chứ không phải để
được phục vụ". "Người lớn nhất trong các con phải
làm đầy tớ mọi người" (Mc 10,41-45). Khi ta cư xử như thế ta là kẻ phục vụ, tất
nhiên ta phải rộng lượng, mau mắn giúp đỡ, khiêm tốn
lịch thiệp, không nổi giận, không chấp nhất điều gì:
tin tất cả, hy vọng tất cả và chịu đựng tất cả. Ðó
là những tính cách của một tiếp viên mà bất cứ cơ sở
giao dịch nào cũng muốn có được. Nếu có lần nào bạn
đã gặp một tiếp viên hàng không, du lịch, phòng giao
dịch của các công ty lớn ở các nước văn minh, bạn sẽ
hiểu được người môn đệ của Chúa bao giờ cũng phải
như thế và ví ai cũng phải như thế, bởi vì bạn là
tiếp viên của Chúa, bạn phải đón nhận mọi người thế
nào để họ hài lòng về Chúa của bạn, có cảm tình với
Chúa của bạn, và như cảm thấy được chính Chúa tiếp
vậy, cũng như người tiếp viên giỏi làm cho khách
hàng có cảm tình với công ty của mình... Nhưng nếu bạn tò mò đối chiếu đoạn 1 Cor 13
trên đây với Gal 5,19-24 thì bạn lại khám phá được
một điều thú vị nữa, đó là những tính cách của Ðức
Ái lại chính là hoa trái của Thánh Thần. Vậy thì
lòng yêu thương, đức ái trong ta là một tác động,
một ơn của Thánh Thần. Thánh Thần giúp ta giết chết
những tính cách của con người xác thịt luôn trái
ngược với đức ái, và giúp ta sống theo tình yêu xuất
phát từ trái tim Thiên Chúa. Thánh Thần chính là
tình yêu nối kết Cha với Con, và cũng là Tình Yêu
nối kết ta với Cha và Con, làm cho ta gọi Thiên Chúa
là Cha và sống làm con Thiên Chúa (Rm 8), đồng thời
làm cho ta nhận ra người khác là anh em và sống như
người anh em của mọi người, như Chúa Giêsu đã đến
trần gian để làm người anh em của mọi người (coi Heb
2,10-18). Ðiều này dẫn ta đến một đặc tính khác trong
tình bác ái: chia sẻ chứ không ban phát. "Tất cả
chúng con là anh em với nhau". Chỉ có Cha trên trời
là Ðấng ban phát cho mọi loài và mọi người, bởi vì
Ngài là nguồn mạch mọi sự tốt lành, còn chúng ta là
con cái, tất cả những gì ta có đều là nhận được:
"Anh có gì mà không phải là do nhận được không?"
Tính chất riêng của Cha là cho, của con là nhận. Nếu
tất cả cùng nhận của Cha thì chỉ có thể chia sẻ lại
cho nhau chứ không phải là phân phát. Chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã muốn nên
anh em với chúng ta và chia sẻ cho chúng ta những gì
Ngài đã nhận của Cha: Mọi sự của Cha là của Con, mọi
sự của Con là của Cha". Ngài đến chung với chúng ta
thân phận con người để chia sẻ cho chúng ta phận Con
Thiên Chúa của Ngài: "Phàm là con cái thì cùng chung
huyết nhục, nên Ngài cũng chung phần huyết nhục với
chúng ta". Thậm chí Ngài đã thông phần chịu thử
thách như chúng ta để có thể cứu giúp những kẻ bị
thử thách (Dt 2,10-18). Thái độ chia sẻ tự nó bao hàm sự tôn trọng:
tôn trọng anh em vì cùng nhau đứng trước mặt Cha như
con cái; tôn trọng những gì mình có, vì là của Cha
ban cho; đồng thời cũng bao hàm sự quảng đại nữa,
bởi vì không phải là của riêng mình mà là của Cha
trao, cũng không phải cho người xa lạ, mà là chia
cho anh em chung một Cha.
|
|
NHỮNG KỲ DIỆU CỦA
LỜI
Nguyễn Công Đoan , SJ
Theo donghanh.org
Trong những khả năng liên lạc của con người, Lời là
khả năng lớn nhất và mạnh nhất, sâu nhất và rộng
nhất, sắc bén nhất và bao la nhất, kỳ diệu nhất và
cũng ghê gớm nhất, đáng yêu nhất và cũng đáng sợ
nhất...
Tất cả những tính chất ấy xoay quanh hai chức năng
của Lời là diễn tả và truyền đạt hay "nói về" và
"nói với".
I. LỜI NGƯỜI
1. Lời "nói về"
Lời đầu tiên em bé học được là những lời ngọt ngào
nhất, êm đềm nhất, diễn tả những người nâng niu em
bằng tình yêu: ba, má, bà, và những âm điệu dịu dàng
của tình yêu: âu, ạ ... Những lời đơn sơ ấy diễn tả
những con người, những thực tại mà suốt đời sẽ là to
lớn nhất, dịu dàng nhất, cần thiết nhất, gần gũi
nhất. Và cứ như thế qua lời mẹ ru, mẹ dạy, em bé mở
rộng khả năng tiếp nhận và diễn tả bằng lời. Những
con người, những sự vật, những thực tại bên ngoài
dần dà được biết thành lời để em bé sử dụng. Và quá
trình ấy cứ tiếp tục suốt cuộc đời. Nhà bác học thì
thâu gồm cả vũ trụ bao la thành lời, phóng những vật
cực kỳ nhỏ bé thành lời để cho mọi người có thể bắt
nắm được những gì mắt mình không thể thấy, tay mình
không thể đo.
Em bé không chỉ học diễn tả và tiếp nhận những thực
tại bên ngoài bằng lời, mà còn học diễn tả chính nội
tâm mình bằng lời. Bắt đầu từ những cảm giác và
những nhu cầu: bú, đau, gãi, nóng, ngon... cho tới
những tình cảm: thương ba, thương má, thương nội...
Ðến mức cao nhất là những văn hào, thi sĩ diễn tả
được những tình cảm sâu xa, phức tạp của con người
như nỗi lòng của người cung nữ trong Cung Oán Ngâm
Khúc, nỗi lòng của Người Chinh Phụ, của những nhân
vật trong Truyện Kiều... và suốt lịch sử, con người
luôn say mê phát triển khả năng diễn đạt bằng lời:
dân tộc nào, thời đại nào cũng yêu thích văn chương,
thi ca là những trình độ diễn tả cao nhất bằng lời.
Từ khi chưa biết dùng chữ viết thì con người đã có
văn chương và thi ca, và ngày nay với những kỹ thuật
điện tử tân tiến nhất, con người vẫn cần và càng quí
văn chương và thi ca, vì không gì thay thế được lời
người trong lãnh vực diễn tả. Các phương tiện điện
ảnh, ghi âm chỉ là những công cụ và những trợ lực
cho lời người.
2. Lời "nói với"
Nếu chiều sâu chiều rộng của chức năng "nói về" là
kỳ diệu, thì chức năng "nói với" của lời còn mãnh
liệt hơn vạn lần. Từ lời ru của mẹ làm trẻ thơ đi
vào giấc ngủ êm đềm tới những lời ru ngủ cả một dân
tộc, cả một thế hệ. Từ lời mẹ gọi làm trẻ thơ thức
tỉnh cho tới những lời làm thức tỉnh cả một dân tộc,
và những lời xô đẩy cả một thế giới đi vào chém giết
tương tàn, có vô số cấp độ khác nhau trong sức
truyền đạt của lời "nói với": lời Kim Trọng mà Kiều
"lặng nghe lời nói như ru" (câu 347), lời Kiều mà
Kim Trọng "được lời như cởi tấm lòng"; lời đường mật
của Sở Khanh mà "nghe lời nàng đã sinh nghi" đến lời
"đầu hàng" của Kiều làm cho Tú Bà đắc thắng "được
lời mụ mới tùy cơ" và những lời "dạy nghề" của Tú Bà
làm cho Kiều "những nghe nói, đã thẹn thùng"; những
lời của Hoạn Thư "bề ngoài thơn thớt nói cười, mà
trong nham hiểm giết người không dao" làm cho Thúc
Sinh "hồn lạc phách xiêu", "gan héo ruột đầy" và
Thúy Kiều "một mình âm ỉ đêm chày, - đĩa dầu vơi,
nước mắt đầy năm canh". Rồi lời của Kiều lúc đền ân
báo oán làm cho Thúc Sinh "mồ hôi chàng đã như mưa
ướt dầm" và "Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu" và lời của
Hoạn Thư làm cho Kiều "khen cho thật đã nên rằng -
Khôn ngoan rất mực, nói năng phải lời"... và "truyền
quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay". Lời của Từ
Hải "vội truyền sửa tiệc quân trung - muôn binh
nghìn tướng hội đồng tẩy oan - Thừa cơ trúc chẻ ngói
tan - Binh uy từ đấy sấm ran trong ngoài"; rồi lời
của Hồ Tôn Hiến làm cho Kiều "lễ nhiều nói ngọt,
nghe lời dễ xiêu", và lời của Kiều "bàn ra nói vào"
làm cho Từ Hải "nghe lời nàng nói mặn mà, - thế
công, Từ mới trở ra thế hàng" để rồi cuối cùng Kiều
phải ân hận đập đầu tự vận bên xác Từ Hải "bởi nghe
lời thiếp nên cơ hội này"... Tất cả những tình tiết
từ lâm ly bi đát đến cao cả hùng tráng của một câu
chuyện đều liên kết với nhau bằng lời, và cuối cùng
đều là lời mà tác giả khiêm tốn tự phê: "Lời quê góp
nhặt dông dài, mua vui cũng được một vài trống
canh". Thật sự thì nó chẳng phải chỉ để mua vui một
vài trống canh mà đã làm cho bao thế hệ vừa não lòng
vì câu chuyện vừa kính phục tài năng của Nguyễn Du,
và làm cho tên tuổi nhà thơ trở thành bất diệt trong
lịch sử văn học của dân tộc.
|
|
|
|
... đón nhận lời là đón nhận người. Lời trở
thành một hình thức hiện diện và thâm nhập
của người nói trong người đón nhận ... |
|
|
|
|
Trên đây là một thí dụ tập hợp rất nhiều mẫu tác
động của lời "nói với". Thực ra lời nào cũng mang cả
hai chức năng "nói về" và "nói với". Chức năng "nói
về" cho ta một nội dung, còn chức năng "nói với" gây
cho ta một "phản ứng" đối với nội dung hoặc đối với
người nói, hoặc đối với cả hai. Ở mức độ cao nhất
của sự phối hiệp giữa hai chức năng này là lời của
tình yêu; vì ở đây "nội dung" và "người nói" là một.
Lời tỏ tình bộc lộ ý hướng và toàn thể con người của
người nói đang nghiêng về phía người được nói với,
và mời gọi đón nhận người nói. Và ở đây thì đón nhận
lời là đón nhận người. Lời trở thành một hình thức
hiện diện và thâm nhập của người nói trong người đón
nhận. Con người bằng xương bằng thịt không thể nhập
vào nhau, nhưng con người "biến thành lời" thì thâm
nhập được và ở lại mãi trong trong người đã tiếp
nhận. Lời tỏ tình được tiếp nhận sẽ lớn lên và trở
thành lời thề thốt, lời thề thốt chân thật thâu tóm
và điều khiển cả cuộc đời hai người "một lời đã trót
thâm giao, - dưới dày có đất, trên cao có trời, -
dẫu rằng vật đổi sao dời, - tử sinh cũng giữ lấy lời
tử sinh".
Lời thề của tình yêu không chỉ ứng dụng cho hai
người nam nữ, mà cũng còn có những đối tượng cao cả
hơn nữa, như lời thề với Tổ Quốc của Trần Hưng Ðạo:
"không dẹp xong giặc Nguyên, thì không về đến khúc
sông này nữa". Lời thề ấy không chỉ tác động đến một
người, mà đến cả một đoàn quân, cả một dân tộc.
Chính vì lời là một hình thức hiện diện của người
nói trong người tiếp nhận, nên ta thường thấy lòng
tưởng nhớ một người được thâu gọn trong một lời nào
đó của người ấy: cha mẹ xa con thường nhớ lời cuối
cùng của con, và ngược lại cũng thế. Và khi lời ấy
bày tỏ một ước nguyện, thì nó tác động vô cùng mãnh
liệt. Ước nguyện của Kiều trước khi ra đi được cha
ghi nhận: "Lời con dặn lại một hai, - dẫu mòn bia đá
dám sai tấc vàng". Còn lời của Nguyễn Phi Khanh dặn
Nguyễn Trãi thì đã thay đổi cả cuộc đời Nguyễn Trãi,
mở cho ông cả một chân trời, và còn bao người khác
đã vươn tới những tầm kích cao cả nhờ một lời của
người yêu, người bạn, người đồng chí.
Ngay trong cuộc sống hằng ngày ta đều có kinh nghiệm
về sức tác động của lời. Lời có thể gây dựng tình
yêu hay hận thù, có thể hàn gắn một tình yêu đang
rạn nứt hay phá vỡ một tình yêu đang tốt đẹp, lời có
thể gây được những tình cảm tốt đẹp nhất, mà cũng có
thể gây nên những tình cảm xấu xa nhất. Vì thế mà
chúng ta có câu tục ngữ: "Lưỡi không xương nhiều
đường lắt léo", còn nhà thơ ngụ ngôn nỗi tiếng của
Hylạp là Êdốp đã diễn câu chuyện món ngon nhất và
món tồi nhất: Êdốp là một người trí thức bị bắt làm
nô lệ, chủ bảo ông ra chợ mua miếng thịt ngon nhất.
Ông mua cái lưỡi đem về làm món ăn. Hôm sau chủ bảo
đi mua miếng thịt dở nhất, ông cũng mua cái lưỡi...
Chủ hỏi tại sao miếng ngon nhất cũng là cái lưỡi,
miếng tồi nhất cũng là cái lưỡi, thì ông trả lời:
"Vì từ cái lưỡi xuất phát những điều tốt nhất và
cũng từ cái lưỡi xuất phát những điều xấu nhất".
Thánh tông đồ Giacôbê thì dành một đoạn dài trong
bức thư của ngài để nói về cái lưỡi, vì nó như cái
bánh lái của con tàu, tuy nhỏ mà điều khiển cả con
tàu theo ý người lái tàu, như tia lửa có thể làm bốc
cháy cả một khu rừng... Loài vật nào con người cũng
thuần hóa được, nhưng cái lưỡi thì không người nào
thuần hóa được (x.thư Gia-cô-bê 3,3-12).
Trước khi kết thúc phần này ta có thể ghi nhận một
điều về sức sáng tạo của lời. Với chức năng "nói về"
lời có thể tạo nên những phong cảnh, những nhân vật,
những câu chuyện trong trí người đọc. Còn với chức
năng "nói với" thì sức sáng tạo của lời thật kinh
khủng, cả tích cực lẫn tiêu cực: lời có thể tạo nên
những tâm tình tốt đẹp, những cuộc đời, những con
người, cả một xã hội, cả một thế giới: ngược lại lời
cũng có thể phá hủy tất cả, những tình cảm, những
cuộc đời, những con người, cả một xã hội, cả một thế
giới. Ðiều này ngày nay chúng ta thấy được rõ hơn
với nguy cơ chiến tranh hạt nhân: một lời của người
có quyền ra lệnh dùng vũ khí hạt nhân là cả hành
tinh này thành tro bụi!
Chính cái sức mạnh vô hình kỳ diệu của lời người là
một sự tham dự vào quyền năng tạo dựng siêu vượt của
Thiên Chúa, nên Thiên Chúa cũng đã dùng lời người để
nói với con người và cho con người được dùng lời
diễn tả Thiên Chúa và nói với Thiên Chúa. Lời Thiên
Chúa cũng có hai chức năng "nói về" và "nói với".
Lời Thiên Chúa "nói về" Thiên Chúa là mặc khải, "nói
về" vạn vật là tạo dựng; cả hai lời mặc khải và lời
tạo dựng đều là "nói với" loài người. Chức năng "nói
với" của Lời Thiên Chúa là Lời Tình Yêu mời gọi và
dẫn đưa con người vào tận cõi sâu thẳm nhất của
Thiên Chúa, tức là thông dự chính cuộc sống mật
thiết của Ba Ngôi Thiên Chúa.
II. LỜI CHÚA
1. Lời "nói về"
Lời người là khả năng trí tuệ con người thâu bắt
ngoại vật và nội tâm vào một hình thức riêng để giữ
lấy và có thể diễn đạt, truyền thông cho người khác
mà vẫn giữ được tính "vô hình" của trí tuệ. Chính vì
thế mà ý niệm lời đã được dùng để diễn tả cách hành
động của Thiên Chúa đối với ngoại vật: lời tạo dựng.
Ngoài Thiên Chúa không có gì hết, cái gì có đều là
do quyền năng tạo dựng của Thiên Chúa. Thiên Chúa
hành động bằng lời tạo dựng, nghĩa là Thiên Chúa
phát biểu ý tưởng và ý muốn của Ngài khiến cho những
gì Ngài muốn trở thành thực tại. Chúng ta nhìn sự
vật đang có mà gọi tên nó, còn Thiên Chúa gọi tên mà
làm cho có nó: "Chúa gọi tên các vì sao, chúng liền
thưa 'có mặt'". Chương đầu sách Khởi Nguyên đã vận
dụng ý niệm lời tạo dựng này để nói về hành động
quyền năng của Thiên Chúa làm cho muôn loài xuất
hiện, theo công thức: Chúa phán: hãy có... tức
thì... xuất hiện.
Trong Phúc Âm, lời tạo dựng cũng được dùng để diễn
tả quyền năng của Chúa Giêsu trong câu chuyện đại
đội trưởng đến xin Chúa chữa bệnh cho người đầy tớ.
Ông đi từ quyền năng giới hạn của ông khi ra lệnh
cho tôi tớ, lính tráng dưới quyền: "Tôi bảo người
này đi, thì nó đi, bảo người kia lại, thì nó lại".
Và ông thưa với Chúa Giêsu: "Ngài chỉ cần phán một
lời thì đầy tớ của tôi lành bệnh ngay". Ðó cũng là
một hình thức của Lời Tạo Dựng: tái tạo sức khỏe.
Nhưng Thiên Chúa cũng nói về chính mình nữa. Lời Tạo
Dựng làm cho vạn vật xuất hiện ngoài Thiên Chúa, còn
Lời Thiên Chúa nói về chính mình là "hình ảnh hoàn
hảo của Thiên Chúa". Thánh Gioan đã vận dụng ý niệm
Lời để nói về Con Thiên Chúa như thế. Lời tự diễn tả
của Thiên Chúa chính là Con Thiên Chúa. "Từ nguyên
thủy đã có Lời. Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa và Lời là
Thiên Chúa". Vì thế ta quen gọi là Ngôi Lời, tức là
Ngôi thứ hai, Ngôi Con trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba
Ngôi: Cha, Con, và Thánh Thần. Lời chúng ta nói về
mình không bao giờ diễn tả hết chính mình. Còn Lời
Thiên Chúa nói với mình thì diễn tả trọn vẹn Thiên
Chúa, nên thánh Phaolô nói Con Thiên Chúa là "hình
ảnh hoàn hảo của Thiên Chúa". Lời chúng ta nói về
mình chỉ tồn tại trong trí nhớ chúng ta, còn Lời
Thiên Chúa nói về chính mình thì tồn tại như một
Ngôi Vị, một chủ thể đối thoại với Cha. Câu "Lời vẫn
ở nơi Thiên Chúa" trong lời mở đầu Phúc Âm theo
thánh Gioan cũng có nghĩa là "Lời vẫn hướng về Thiên
Chúa". Ðồng thời Lời này cũng "đồng bản tính với
Cha": "Lời là Thiên Chúa". Khi Chúa Giêsu tuyên bố:
"Ta và Cha là một" chính là nói về tư cách của Ngài
là Thiên Chúa, đồng bản tính với Ðức Chúa Cha; còn
với tư cách là Con, hằng ở trong lòng Cha và hướng
về Cha thì Ngài nói: "Cha lớn hơn Ta". Vì thế, Ngài
là Ðấng thừa kế mọi sự của Thiên Chúa: "Mọi sự của
Cha là của Con".
Lời Thiên Chúa nói về chính mình diễn tả hết Thiên
Chúa và mọi tư tưởng của Thiên Chúa, nên tất cả mọi
vật được tạo thành thì trước hết đã được chất chứa
trong lời Thiên Chúa nói về mình. Vì thế thánh Gioan
viết: "Nhờ Người muôn vật đã được tạo thành, và
không có Người thì chẳng có gì được tạo thành" (Ga
1,3). Thư Hípri cũng nói tương tự: "Vào những ngày
này là những ngày sau hết, Thiên Chúa đã nói với
chúng ta nơi một người Con mà Ngài đã đặt làm Ðấng
thừa kế mọi sự và nhờ người Con ấy, Ngài đã tạo
thành vũ trụ. Người là phản ánh vinh quang Thiên
Chúa và là hình ảnh chân thật của Thiên Chúa, Người
nâng đỡ vũ hoàn bằng Lời quyền năng của Người"
(1,2-3). Như thế thì Con Thiên Chúa vừa là Lời Thiên
Chúa nói về mình, vừa là Lời tạo dựng và cũng là Lời
Thiên Chúa nói với chúng ta. Ðiều này cũng cho ta
hiểu tại sao kế hoạch của Thiên Chúa là "thâu gồm
mọi sự về một đầu mối là Ðức Giêsu Kitô" (Ep 1,10),
và sứ mạng của Ðức Kitô là đem mọi sự đặt dưới chân
Cha "để Thiên Chúa nên tất cả trong vạn sự" (1 Cr
15,28): cũng như Con do Cha sinh ra hằng hướng về
Cha; thì mọi sự đã được trao cho Con cũng phải hướng
về Cha; cũng như "Con ở trong Cha và Cha ở trong
Con" thì mọi sự đã được trao cho Con cũng phải ở
trong Cha và Cha ở trong tất cả. Cái làm cho thọ tạo
xa Thiên Chúa là tội lỗi và sự chết, nên Chúa Giêsu
Con Thiên Chúa đến tiêu diệt tội lỗi và sự chết. "Kẻ
thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là cái chết" (x. 1 Cr
15,26).
2. Lời Thiên Chúa nói với chúng ta
Lời tạo dựng cũng là Lời Thiên Chúa nói với chúng
ta, vì vạn vật phơi bày trước mắt chúng ta là thành
quả của Lời Tạo Dựng, là phản ánh sự phong phú vô
cùng của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa muốn gần chúng
ta hơn nữa, Ngài nói với chúng ta bằng Lời Người:
"Xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta
nhiều lần nhiều cách qua các ngôn sứ, nhưng vào
những ngày này là những ngày sau hết, Thiên Chúa đã
nói với chúng ta nơi một Người Con..." (Hipri
1,1-2). Sự kỳ diệu của Thiên Chúa là ở chỗ đó: Ngài
dùng những con người để nói với con người và lời
những con người trung gian ấy là Lời của Thiên Chúa.
Và cuối cùng, Ngài cho Con Một Yêu Dấu của Ngài, Lời
Tuyệt Hảo Ngài tự phát biểu chính mình, đến làm
người ở giữa chúng ta để nói với chúng ta: "Lời các
anh em nghe không phải là lời của Ta, nhưng là của
Cha, Ðấng đã sai Ta" (Ga 14,24). Lời Thiên Chúa nói
qua các ngôn sứ là công trình của Thánh Thần: "Người
đã dùng các tiên tri mà phán dạy", và Lời Thiên Chúa
nói trong Người Con của Ngài cũng là công trình của
Thánh Thần, do đó chỉ có Thánh Thần mới làm cho các
môn đệ nhớ lại và hiểu thấu những lời ấy.
|
|
|
|
... đón nhận và tuân giữ Lời Chúa là đi vào
cuộc đối thoại của tình yêu ... |
|
|
|
|
Lời Thiên Chúa nói với chúng ta qua các ngôn sứ và
trong Người Con là lời bộc lộ kế hoạch và tâm tình
của Thiên Chúa đối với chúng ta, là Lời Thiên Chúa
giãi bày Tình Thương của Ngài đối vói chúng ta và
mời gọi chúng ta đón nhận Ngài. Lời Chúa bộc lộ cho
ta cõi sâu thẳm nhất của Thiên Chúa và đưa chúng ta
vào tận đáy lòng Thiên Chúa, cho ta được thông phần
vào chính cuộc sống mật thiết giữa Cha, Con và Thánh
Thần (x 1 Ga 1,1-3). Chính Thánh Thần xuất phát từ
Cha và Con đưa ta vào trong lòng Cha cùng với Con để
chúng ta cũng được làm con Thiên Chúa. Lời cuối cùng
Thiên Chúa nói với chúng ta là chính Lời Thiên Chúa
tự phát biểu, là phản ánh vinh quang và là hình ảnh
chân thật của Ngài! Vì thế mà Chúa Giêsu tuyên bố:
"Ta là Ðường Ði, là Sự Thật và là Sự Sống" và "Ai
thấy Ta là thấy Chúa Cha rồi" (Ga 14, 5-10). Ngài
vừa là Ðường Ði vừa là Sự Thật, nên không phải đi
hết con đường mới gặp được Cha, mà đến với Ngài là
đến với Cha, gặp Ngài là gặp được Cha rồi, vì "Ta ở
trong Cha Ta và Cha Ta ở trong Ta", và như thế là đã
được sự sống đời đời rồi, vì "sự sống đời đời là
biết Cha là Thiên Chúa thật, duy nhất và Ðức Giêsu
Kitô mà Cha đã sai đến" (17,3).
Trong Ga 14-17, ta thấy vai trò của Lời Chúa là đưa
ta vào sự thông hiệp cuối cùng với Cha và Con. Ta
hãy đọc lại 4 chương này và để ý tới hai từ "Lời" và
"lệnh truyền", nếu ta dịch lệnh truyền là "Lời Cha
truyền" hoặc "Lời Thầy truyền" thì dễ theo hơn: vì
lệnh truyền cũng là lời vậy.
Sau khi khẳng định "Lời Thầy trao cho các con, Thầy
không tự mình mà nói, nhưng Cha ở trong Thầy thực
hiện các việc của Ngài" (14,10). Chúa Giêsu nói:
"Nếu các con yêu mến Thầy thì hãy tuân giữ Lời Thầy
truyền", và "Thầy sẽ xin Cha và Ngài sẽ ban cho các
con Ðấng phù trợ khác để ở với các con mãi mãi, là
Thánh Thần của Sự Thật... Ngài ở với các con và ở
trong các con" (14,15-17). Kết quả đầu tiên của việc
đón nhận Lời Chúa Giêsu là được Thánh Thần. "Thánh
Thần sẽ dạy chúng con tất cả" (14,26), "sẽ đưa chúng
con vào tất cả sự thật" (16,13). Chính vì thế mà
"ngày ấy các con sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy
và các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Ai
có Lời Thầy truyền và tuân giữ Lời ấy là người yêu
mến Thầy, và ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha Thầy
yêu mến. Cả Thầy cũng yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình
cho người ấy" (14, 20-21). Ðón nhận và tuân giữ Lời
Chúa là đi vào cuộc đối thoại của tình yêu, và trong
cuộc đối thoại tình yêu thì ngày càng được vào sâu
hơn trong lòng Thiên Chúa. Bởi vậy Chúa Giêsu nói
thêm: "Bất cứ ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy
và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đến
thăm và ở lại trong người ấy" (14,23). Thế là Lời
Chúa không chỉ cho ta biết về Thiên Chúa, mà cho ta
biết Thiên Chúa, nghĩa là đưa ta vào sự hiệp thông
mật thiết với Thiên Chúa, nhờ tác động của Thánh
Thần. Chính Chúa Giêsu đã chứng thực tình yêu của
Ngài đối với Cha bằng cách làm theo Lời Cha truyền:
"Thầy hành động như thế để cho thế gian nhận biết
rằng Thầy yêu mến Cha và làm theo đúng Lời Cha
truyền" (14,31). Chúa Giêsu vẫn lấy quan hệ giữa
Ngài với Cha làm kiểu mẫu cho chúng ta về quan hệ
giữa ta với Ngài và với Cha, vì chúng ta chỉ được ở
trong Cha theo mức độ chúng ta ở trong Chúa Giêsu.
Ðiểm này sẽ được triển khai nhiều hơn ở chương 15.
Chương 15 nói nhiều hơn về vai trò của Lời Chúa
Giêsu trong quá trình đưa chúng ta vào trong Chúa
Giêsu và làm cho chúng ta được thông hiệp trọn vẹn
với Ngài, tiếp nhận sức sống của Ngài. Chúa Giêsu
lấy ví dụ cây nho và cành nho để nói về quan hệ giữa
Ngài với môn đệ. Cành nho sinh trái thì được tỉa
sạch để sinh trái nhiều hơn. Các môn đệ là những
cành đã được tỉa sạch nhờ Lời Chúa Giêsu đã nói với
họ (15,2-3). Vấn đề quan trọng là cành phải ở liền
với cây thì mới sinh trái được. Làm sao môn đệ ở
liền với Chúa Giêsu như cành liền cây? Chúa Giêsu
cho biết bí quyết: "Nếu các con ở lại trong Thầy và
Lời Thầy ở lại trong các con..." (15,7). "Các con sẽ
ở lại trong tình yêu của Thầy nếu các con tuân giữ
Lời Thầy truyền cũng như Thầy đã giữ Lời Cha Thầy
truyền và ở lại trong Tình yêu của Ngài" (15,10).
Tuân giữ Lời Chúa thì được hiệp thông với Chúa và
được ở lại trong Chúa, được trở nên bạn hữu của
Chúa: "Các con là bạn hữu của Thầy nếu các con làm
theo Lời Thầy truyền... Thầy gọi các con là bạn hữu
vì Thầy đã cho các con biết mọi điều Thầy đã nghe
được ở Cha Thầy" (15,10-15).
Ở chương 17, Chúa Giêsu xác nhận các môn đệ là những
người đã đón nhận Lời của Cha do Ngài nói lại
(17,6-8). Và chính vì thế mà thế gian ghét môn đệ
của Chúa (17,14). Ngay ở chương 14, Chúa Giêsu đã
nói: "Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ Lời Thầy"
(14,23-24). Thế là Lời Chúa trở thành mốc phân chia
loài người và là tiêu chuẩn xác định ai thuộc về
Chúa. Ðiều này đưa ta trở lại điều Chúa Giêsu phán:
"Không phải cứ gọi Ta "lạy Chúa, lạy Chúa", là được
vào Nước Trời, mà chỉ có ai làm theo ý Cha Ta, Ðấng
ngự trên trời mới được vào", và "sao các người gọi
Ta "lạy Chúa, lạy Chúa" mà không làm theo Lời Ta"
(Lc 6,46). Cũng vì thế mà Chúa Giêsu phán: "Mẹ Ta,
anh em Ta là những ai nghe và tuân giữ Lời Thiên
Chúa", và khi có người phụ nữ ca ngợi hạnh phúc của
người được cưu mang và nuôi dưỡng Chúa Giêsu, thì
Ngài bảo: "Ai nghe và giữ Lời Thiên Chúa thì có
phước hơn" (Lc 11,27-28). Bởi vì nghe và giữ Lời
Thiên Chúa thì được cả Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trong
lòng mình và được sống đời đời.
|
|
Ý nghĩa
và vai trò của cầu nguyện trong đời sống tín hữu
Nguyễn Công
Đoan , SJ
(theo
donghanh.org)
- Sáng nay mẹ làm gì? - Cầu nguyện. - Bắt đầu từ mấy giờ? - 4 giờ rưỡi. - Và sau khi cầu nguyện? - Chúng tôi tôi tiếp tục cố gắng cầu nguyện qua công
việc bằng cách làm những công việc đó với Chúa
Giêsu, vì Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu. Ðiều này
giúp chúng tôi đặt cả trái tim và tâm hồn mình vào
công việc đang làm. Những người đang hấp hối, những
người đang co quắp, những người bệnh tâm thần, những
người bị bỏ rơi, những người không được yêu thương.
Họ là Chúa Giêsu cải trang...
Ðó là những
câu Mẹ Teresa trả lời cho một cuộc phỏng vấn đăng
trên báo Time, đầu tháng 12/1989. Những câu trả lời
vắn tắt, đơn sơ này, nói lên tất cả cuộc sống cầu
nguyện của Mẹ Teresa và cũng có thể giúp chúng ta
hiểu biết ý nghĩa và vai trò của đời sống cầu nguyện
trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Ở đây trước
hết, chúng ta sẽ đề cập tới cầu nguyện trong cuộc
sống của tất cả mọi người tín hữu, để rồi từng bước,
chúng ta sẽ đi sâu hơn về cầu nguyện, đặc biệt trong
ơn gọi của chúng ta.
Ðể suy nghĩ về ý nghĩa và vai trò của cầu nguyện
trong cuộc sống, tôi xin bắt đầu từ những hình thức,
những cử chỉ, những lời kinh đơn sơ nhất mà chúng ta
đã được mẹ dạy cho từ khi chúng ta mới bập bẹ biết
nói. Có lẽ hầu hết chúng ta đều đã được mẹ dạy cầu
nguyện ngay từ khi bập bẹ biết nói. Khi chúng ta 4,
5 tuổi, mỗi tối thường là mẹ giục chúng ta hay là
giúp chúng ta quỳ gối làm dấu thánh giá, đọc kinh
hoặc là nói những lời vắn tắt mà mẹ dạy cho trước
khi đi ngủ. Và khi chúng ta bắt đầu có trí khôn hơn,
chúng ta bắt đầu biết đọc kinh, biết cầu nguyện
chung trong gia đình, thì chúng ta thấy buổi đọc
kinh cầu nguyện trong gia đình bao giờ cũng bắt đầu
với cử chỉ quỳ gối. Rồi làm dấu thánh giá và sau đó,
đọc kinh xin ơn Chúa Thánh Thần, rồi kinh Tin, Cậy,
Mến. Ðiều này chúng ta đã làm từ nhỏ cho đến bây
giờ, có lẽ mỗi ngày chúng ta vẫn quen làm như thế.
Nhưng không biết có lần nào, chúng ta thật sự đi sâu
vào những cử chỉ, những lời kinh đơn sơ này, đã cảm
mến tất cả nội dung và những tâm tình sâu xa mà
những cử chỉ, những lời kinh sơ đẳng này đem đến cho
chúng ta hay chưa?
Hôm nay, ít nhất là một lần, chúng ta thử làm lại
những cử chỉ đầu tiên ấy, đọc những lời kinh cơ bản
nhất ấy với tất cả tâm tình, chậm rãi và hãy đi vào
trong những tâm tình mà những cử chỉ, những lời kinh
ấy gợi lên cho chúng ta, và như thế, chúng ta sẽ
hiểu được ý nghĩa của cầu nguyện là gì? Bởi vì,
chính những cử chỉ, những lời kinh ấy, đưa chúng ta
vào đời sống cầu nguyện và diễn tả chính ý nghĩa và
nội dung của cầu nguyện trong đời sống người tín
hữu. Ðọc lại trong những hạnh các thánh tử đạo, tổ
tiên của chúng ta, chúng ta hay gặp thấy những lời
thách đố chúa Giêsu: bay thử cầu nguyện xin Chúa xem
Chúa có cứu được bay khỏi tay tao không? Và có lẽ
người ngoại đạo, những người đã bắt đạo, chỉ hiểu
cầu nguyện như là một sự van xin thần thánh làm theo
ý mình, thậm chí những hình thức bùa ngải là những
cách người ta muốn sai khiến thần thánh làm theo ý
mình. Nhưng cầu nguyện đối với chúng ta lại mang một
ý nghĩa, một nội dung khác hẳn. Bản thân tôi đã có
lần được nghe cùng một lời thách đố: "Anh cầu nguyện
nhiều lắm phải không? Nhưng cầu nguyện mấy cũng đâu
có thóat được tay chúng tôi! ". Tôi nhớ tới Chúa
Giêsu trên thánh giá cũng đã nghe lời thách đố tương
tự. Chúa không trực tiếp trả lời những kẻ thách đố
Chúa, nhưng ngước lên Cha trên trời: "Cha ơi, con
xin phó linh hồn con trong tay Cha". Tôi đã dựa theo
lời này để trả lời cho người đang thách đố tôi:
"Ðúng, tôi đã cầu nguyện và còn cầu nguyện nhiều hơn
nữa, nhưng không phải để thóat tay các anh, mà để
tôi được ở trong tay Chúa và cho cả các anh cũng
được ở trong tay Chúa nữa"
Cử chỉ đầu tiên mà cha mẹ dạy chúng ta hoặc khi vào
nhà thờ chúng ta làm, đó là quỳ gối. Quỳ gối là một
cử chỉ tôn kính, thờ lạy. Chúng ta quỳ gối trước mặt
Thiên Chúa là một cử chỉ để tuyên xưng lòng tin, để
tôn vinh uy quyền của Thiên Chúa. Quỳ gối, tức là
chúng ta đã đặt mình trước Ðấng Tối Cao, tự nhận
mình là nhỏ bé, quỳ gối tôn thờ. Vậy thì chỉ một cử
chỉ quỳ gối, chúng ta làm với tất cả ý thức của
chúng ta, thì nó đã đưa chúng ta vào trong ý nghĩa
của cầu nguyện rồi. Vì cầu nguyện trước tiên là đến
với Chúa, mà đến với Chúa như một con người nhỏ bé
đến trước Ðấng Toàn Năng. Cử chỉ quỳ gối là một cách
biểu lộ lòng tin, biểu lộ sự nhìn nhận Thiên Chúa là
Ðấng Toàn Năng. Chúng ta quỳ gối tôn thờ Thiên Chúa,
nhìn nhận Ngài là Chúa của chúng ta. Ðó là bước đầu
tiên của cầu nguyện. Cầu nguyện là gặp gỡ với Thiên
Chúa, bằng cả tâm hồn và thể xác chúng ta, bằng cả
con người chúng ta. Nhưng có lẽ nhiều khi chúng ta
quỳ gối một cách máy móc, chúng ta quỳ gối vì đã
quen thế thôi, vào nhà thờ thì quỳ gối, đọc kinh thì
quỳ gối. Bạn hãy thử một lần quỳ gối trước mặt Thiên
Chúa với tất cả tâm tình, với tất cả ý thức nhìn
nhận mình là ai trước mặt Thiên Chúa. Nhìn nhận
Thiên Chúa là Ðấng cao cả, vượt trên mọi thọ sinh,
là Chúa của chúng ta.
Sau cử chỉ quỳ gối, đó là dấu thánh giá. Chúng ta
làm dấu thánh giá trên mình: Nhân danh Cha và Con và
Thánh Thần, thì trước tiên là chúng ta tuyên xưng Ba
Ngôi Thiên Chúa, không phải chỉ một cách trừu tượng,
nhưng là tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa trong quan hệ
Cứu Chuộc chúng ta. Chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa
Cứu Ðộ bằng Mầu Nhiệm thập giá: Cha đã sai Con Một
xuống làm của lễ đền tội cho chúng ta, trên thập
giá. Làm dấu thánh giá, tuyên xưng Ba Ngôi Thiên
Chúa, tuyên xưng ơn cứu độ, tức là chúng ta khẳng
định mình thuộc về Ba Ngôi nhờ ơn cứu độ mà Thiên
Chúa đã thực hiện bằng thập giá của Ðức Kitô. Toàn
thể con người: trí khôn , con tim và toàn thân. Khi
chúng ta làm dấu trên trán, trên ngực và trên hai
vai thì hai vai là tượng trưng cho cả con người,
vầng trán tượng trưng cho trí tuệ, lòng ngực là con
tim. Chúng ta thấy ý nghĩa tượng trưng này khi chúng
ta nói "gánh nặng đè trên hai vai". Không phải chỉ
trên hai vai mà trên cả con người. Và khi chúng ta
gặp lại người bạn thân, chúng ta vỗ vai, chúng ta
nắm hai vai của bạn mà mừng rỡ, hay khi chúng ta
giận dữ, chúng ta cũng có thể có khi nắm hai vai
người bạn mà lay. Vậy thì hai vai cũng là tượng
trưng cho cả con người. Làm dấu thánh giá trên trán,
trên ngực và trên hai vai, đó là ghi dấu thánh giá
của ơn cứu độ trên con người của mình, tuyên xưng
rằng mình thuộc về Ba Ngôi Thiên Chúa, mình được cứu
độ nhờ Mầu Nhiệm thập giá, và đồng thời cũng nhìn
nhận là mình sống dưới cờ thập giá; mình nhận lấy
thập giá của mình để đi đằng sau Chúa Giêsu, cùng
vác thập giá với Chúa Giêsu, đón nhận cuộc sống của
mình như một cuộc tham dự vào Mầu Nhiệm thập giá của
Chúa Giêsu.
Như vậy các bạn thấy cử chỉ đầu tiên của buổi đọc
kinh, cầu nguyện của chúng ta gói ghém tất cả ý
nghĩa của cầu nguyện. Cầu nguyện là thời gian chúng
ta dành riêng để sống mối quan hệ của mình với Thiên
Chúa. Tuy rằng chúng ta vẫn tin có Chúa, nhưng phải
có thời gian dành riêng để sống mối quan hệ ấy. Ðó
là thân phận con người. Chúng ta không thể nào sống
tất cả mọi mối quan hệ một lúc, dù khi sống một cách
ý thức đầy đủ, thì không nhất thiết chúng ta phủ
nhận quan hệ khác, nhưng mà nhất thiết phải có thời
gian dành riêng, phải có thì mạnh cho mỗi mối quan
hệ. Ngay cả khi những quan hệ ấy bổ sung lẫn cho
nhau. Chẳng hạn cha mẹ cùng yêu thương nâng niu một
đứa con, đứa con làm cho hai vợ chồng gần nhau hơn,
nhưng mà vẫn có lúc dỗ cho con ngủ để vợ chồng có
thời giờ sống riêng với nhau. Vợ chồng có thể cùng
ẳm con đi thăm một người bạn, nhưng trong lúc gặp
bạn cũng phải bắt con ngồi yên để bố mẹ nói chuyện,
hay để cho con ra ngoài chạy chơi, dù cho lúc ấy
không phải từ chối con, lúc ấy là thời gian dành
riêng để nói chuyện với người bạn, là cái thì mạnh
để sống mối quan hệ với người bạn.
Giờ cầu nguyện là thời gian dành riêng để sống ý
thức mối quan hệ với Chúa. Ðiều này cần thiết trong
đời sống chúng ta, cũng giống như khi chúng ta còn
bé mới bập bẹ biết nói, mẹ dạy chúng ta nhận ra ông,
bà, chú, bác, bằng cách dạy ta khoanh tay lại: Ạ ông
đi con, ạ bà đi con, ạ bác đi con. Những cử chỉ ngây
thơ ấy là bước đầu để dạy cho chúng ta quan hệ gia
đình, quan hệ xã hội, quan hệ với người khác. Ngày
tết, chúng ta đi mừng tuổi ông bà, chú bác, cô dì;
con dâu mới, con rể mới đi nhận họ. Rồi ngày giỗ,
con cháu tụ họp đọc kinh, ăn giỗ. Ðám cưới thì người
ta mời bà con họ hàng nội ngoại. Tất cả những sinh
hoạt gia đình, xã hội đó, nhằm duy trì nuôi dưỡng
mối quan hệ gia đình, mặc dù quan hệ huyết nhục nằm
ở trong huyết quản của chúng ta vẫn còn đó. Nhưng mà
con người vẫn bị chi phối bởi quy luật: xa mặt cách
lòng. Không có những sự gặp gỡ thì cũng sớm quên
nhau. Giữa con người với con người: thấy được nhau,
nghe được nhau, sờ được nhau, mà còn cần có những
thời giờ dành riêng cho từng mối quan hệ, thì đối
với Thiên Chúa, Ðấng mà ta không thấy được, không
nghe được, không sờ được, ta lại càng cần phải có
thời giờ mỗi ngày dành riêng để nuôi sống mối quan
hệ này, mà ta đón nhận bằng lòng Tin, Cậy, Mến mà
thôi, mặc dù có Thánh Thần ở trong ta, khác nào dòng
máu của Thiên Chúa để cho ta làm con Thiên Chúa,
mang sự sống của Thiên Chúa trong mình ta. Cũng vì
vậy mà ta thấy rằng những cử chỉ mở đầu đã đặt ta
vào chính ý nghĩa sâu xa nhất của cầu nguyện, đó là
nhìn nhận và thờ lạy Thiên Chúa, nhìn nhận mối quan
hệ này với Ba Ngôi Thiên Chúa và tham dự vào cuộc
sống của Ba Ngôi. Nhìn nhận mình được cứu chuộc nhờ
Thập Giá và sẵn sàng sống dưới cờ thập giá, tham dự
vào Mầu Nhiệm thập giá của Ðức Kitô để cùng với Ngài
làm con Thiên Chúa, để cùng với Ngài sống Mầu Nhiệm
Phục Sinh, sống đời sống mới.
Tất cả quan hệ của ta với Chúa thâu tóm trong dấu
Thánh Giá. Ta là con của Chúa Cha, ta tham dự vào
Mầu Nhiệm chết và sống lại của Chúa Giêsu và ta sống
nhờ Thánh Thần. Khi còn bé và có khi cả lúc đã lớn,
chúng ta sướng biết bao được ngồi trong lòng cha,
trong lòng mẹ. Có khi chúng ta chẳng cần nói gì cả
mà ngồi yên nép vào lòng mẹ, để cảm thấy cái êm đềm
của lòng mẹ, cái hạnh phúc có cha, có mẹ. Có lần tôi
đã thấy một bé gái chừng 10 tuổi theo mẹ lên thăm
cha ở trại cải tạo. Cha mẹ ngồi đối diện nhau, hai
bên bàn, còn cô bé thì được tự do hơn, cứ đứng sau
lưng cha, hai tay ôm ngang cổ cha, nép vào cha, cô
bé cứ hưởng cái hạnh phúc được ôm lấy cha thế thôi.
Giờ cầu nguyện là để ta đích thân sống trước mặt Cha
cùng với Chúa Giêsu và nhờ sự dạy dỗ của Thánh Thần.
Ta hãy hưởng cái hạnh phúc đó. Chính hạnh phúc này
sẽ là sức mạnh cho ta trong những giờ khác, trong
cuộc sống mỗi ngày. Cũng như đứa bé được mẹ dẫn đến
cổng trường, mẹ hôn âu yếm trước khi để con vào lớp,
thì đứa bé ấy sẽ luôn sống xứng đáng để khi mẹ tới
đón, lại được mẹ ôm vào lòng, hoặc nó có té đau, nó
có làm dơ quần áo, thì nó vẫn tin tưởng rằng lát nữa
mẹ sẽ đón về, mẹ sẽ làm dịu nỗi đau, mẹ sẽ giặt sạch
áo quần. Chính vì thế mà ta thường thấy những trẻ em
được cha mẹ yêu thương, tỏ ra hồn nhiên, bạo dạn
hơn.
Những bài kinh tiếp theo dấu Thánh Giá giúp chúng ta
phát triển nội dung của quan hệ với Chúa Ba Ngôi và
những tâm tình mà ta phải sống với Chúa, những tâm
tình cơ bản nhất. Kinh đầu tiên ta đọc là Cầu xin
Chúa Thánh Thần. Tại sao lại phải xin ơn Thánh Thần
khi bước vào cầu nguyện? Chúng ta đã biết rằng, chỉ
có nhờ Thánh Thần, ta mới có thể gọi Thiên Chúa là
Cha - Ápba: nếu mà dám dịch cho sát có thể gọi Thiên
Chúa là "Ba" - Ápba là tiếng mà trẻ con Do thái ngày
nay gọi cha, cũng như chúng ta gọi ba, và cũng chỉ
nhờ Thánh Thần chúng ta mới có thể tuyên xưng Ðức
Giêsu là Chúa. Cũng chỉ nhờ Thánh Thần chúng ta mới
biết cầu nguyện thế nào cho phải. Thánh Phaolô đã
dạy chúng ta những điều ấy trong thư gửi tín hữu
Rôma ở chương 8, câu 14-15 nói về Thánh Thần dạy
chúng ta kêu Thiên Chúa là Cha và câu 26-27 nói về
Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Thánh
Thần dạy cho chúng ta cầu nguyện. Và cũng ở chương 8
này, thánh Phaolô nói rằng Thánh Thần dẫn dắt chúng
ta sống làm con Thiên Chúa. Vậy thì trong mọi việc,
chúng ta phải biết xin ơn Thánh Thần đề biết sống
đúng tư cách làm con cái Thiên Chúa. Ðặc biệt trong
cầu nguyện chúng ta sống triệt để cái ý thức làm con
của mình đối với Chúa, đặc biệt là quan hệ của con
đối với Cha. Nhờ Thánh Thần, ta mới có thể gọi Thiên
Chúa là Cha như Chúa Giêsu, và với Chúa Giêsu. Vì ta
là con Thiên Chúa trong mức độ ta được ở trong Chúa
Giêsu, là con trong người Con, như thánh Phaolô nói.
Trong Phúc Âm theo thánh Luca, ở chương 10,21 chúng
ta thấy chính Chúa Giêsu cũng đã thân thưa với Cha
theo tác động của Chúa Thánh Thần. Chúng ta biết
Chúa Thánh Thần trong Chúa Giêsu. Và trong tất cả
những tác động đó có chính việc cầu nguyện của Chúa
Giêsu. Chính khi Chúa Giêsu cảm thấy vui mừng được
Thánh Thần thúc đẩy, Chúa Giêsu thân thưa với Chúa
Cha những lời êm đềm nhất: "Lạy Cha, Con ngợi khen
Cha..." Truyền thống của Giáo Hội đã dạy chúng ta
đọc kinh xin ơn Chúa Thánh Thần trước giờ cầu nguyện
và trước các công việc làm hằng ngày, bởi vì Thánh
Thần dạy chúng ta cầu nguyện, Thánh Thần cầu nguyện
trong chúng ta và Thánh Thần dẫn dắt chúng ta sống
làm con Thiên Chúa.
Tiếp theo là kinh Tin Cậy Mến. Khi chúng ta gặp một
người, thì người đó ở trước mặt chúng ta, khi chúng
ta nhớ đến một người, thì người đó hiện ra trong tâm
trí chúng ta cùng với tình cảm của chúng ta đối với
người ấy. Nhưng khi chúng ta đến trước mặt Thiên
Chúa, thì con mắt chúng ta không thấy Chúa, tâm trí
chúng ta cũng rất mơ hồ. Do đó, cần phải đem cả tâm
trí mà đón nhận sự hiện diện của Thiên Chúa bằng một
lòng tin, một lời tuyên xưng lòng tin với tất cả tâm
tình, để có thể hoàn toàn ý thức rằng ta đang ở với
Chúa, ở trước mặt Chúa, ở trong lòng Chúa. Ta được
Chúa yêu thương đến nỗi ban Con một của Ngài để ta
được gọi Ngài là Cha và thân thưa với Ngài như con
với Cha, ta gieo mình vào lòng Cha, thấy mình được
ngồi trong lòng Cha với Chúa Giêsu thì những tâm
tình tiếp theo sẽ trào dâng. Ta khao khát được ở
trong lòng Cha và ta tin tưởng hoàn toàn Tình yêu
của Cha. Chính Tình Yêu ấy sẽ giữ ta, để ta được ở
trong lòng Cha bây giờ và mãi mãi. Ở trong lòng Cha,
cảm nhận Tình Yêu của Cha, ta sẽ thấy lòng mình tràn
đầy một tâm tình yêu mến Cha, đồng thời ta sẽ nhìn
mọi người như con của Cha và muốn chia với mọi người
Tình Yêu như Cha yêu thương ta. Có bao giờ bạn để ý
hình ảnh một em nhỏ, khi mẹ đi xa về, ôm đứa em nhỏ
hơn của nó vào lòng. Thế là, lát sau, trong cái êm
đềm của lòng mẹ, nó lại quay sang cùng với mẹ mà
nựng em nó. Lúc ấy, nó thương em nó hơn bao giờ bởi
vì lúc ấy nó cảm thấy được mẹ thương, mẹ thương nó,
mẹ thương em nó, và nó càng thương em nó hơn. Tình
Yêu thật bao giờ cũng tỏa ra như hơi nóng sưởi ấm
chung quanh. Chính vì thế mà cầu nguyện, khi đưa
chúng ta vào trong lòng Thiên Chúa, khi cho chúng ta
một thời gian để sống tuyệt đối lòng Tin Cậy Mến,
như đứa bé được ngồi trong lòng cha, trong lòng mẹ,
để cảm mến tất cả cái êm ái ngọt ngào của một đưa
con có cha có mẹ, được cha được mẹ yêu thương, thì
chính cái tình thương ấy khi tràn ngập lòng chúng ta
sẽ cuốn chúng ta theo mà tràn tới anh em. Nước mắt
chảy xuôi là như thế. Tình yêu từ Thiên Chúa mà đến,
tình yêu tràn qua cha mẹ đến trong chúng ta, sẽ làm
cho chúng ta tràn sang tới anh em. Tình Yêu Thiên
Chúa tràn ngập lòng chúng ta cũng sẽ cuốn theo, mở
rộng tâm hồn, cuốn chúng ta đi theo chiều Tình Yêu
Thiên Chúa mà đến với mọi người, mà yêu thương mọi
người. Cùng một trái tim, cùng một Tình Yêu Chúa ban
cho ta để yêu mến Chúa và yêu mến anh em, nên không
thể tách rời hai tình yêu này được, và cũng không
thể yêu anh em nếu không yêu Chúa.
Vậy bây giờ bạn hãy thử sống những động tác và những
lời kinh cơ bản ấy, thật chậm rãi êm đềm, đừng vội
vã, cứ cảm nếm hết những gì Cha ban cho trước khi
chuyển sang động tác tôn thờ làm cho bạn cảm thấy
hạnh phúc êm đềm, làm cho bạn cảm nhận được sự hiện
diện yêu thương của Thiên Chúa, thì bạn cứ ngừng ở
đó, đừng vội chuyển sang động tác khác, hãy nếm hết
sự ngọt ngào của cử chỉ thờ lạy đã. Hoặc nếu chỉ một
ý nghĩa của Dấu Thánh Giá làm cho bạn sung sướng êm
đềm, thì bạn hãy cứ hưởng nỗi vui sướng êm đềm, ánh
sáng mà lời tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa, tuyên
xưng ơn Cứu Ðộ và đón nhận trên con người của mình
bằng Dấu Thánh Giá: NHÂN DANH CHA - VÀ CON - VÀ
THÁNH THẦN, đặt mình dưới cờ Thánh Giá của Chúa
Giêsu, nhận mình được cứu chuộc nhờ Thập Giá, nhận
mình sống dưới bóng Thập Giá, cùng vác Thập Giá với
Chúa Giêsu để cùng được vinh quang với Chúa Giêsu vì
mình đã được Thiên Chúa yêu thương. Bạn hãy thử một
lần, chậm rãi, cảm nghiệm tất cả ý nghĩa sự an ủi,
hạnh phúc, ánh sáng, do những cử chỉ, những lời kinh
đơn sơ chúng ta đã học từ thuở nhỏ, đã đọc mỗi ngày.
Bạn hãy thử một lần, rồi bạn cũng sẽ thấy được, bạn
sẽ hiểu được thế nào là cầu nguyện, và bạn cũng sẽ
nhận ra cầu nguyện cần thiết trong cuộc sống của bạn
như thế nào.
|
|
|
|