Lm Vũ Kim Chính, SJ
Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan
Nhiều nhà thần học Á Châu chủ trương lấy kinh điển văn hóa, triết học
xưa làm khởi điểm cho nền bản vị hoá thần học, dù không hoàn toàn giống
như vai trò cựu ước là sửa soạn và chuẩn bị trực tiếp cho Tân ước, nhưng
đó là sự khôn ngoan mà con người đã được Thiên Chúa ban phú cho, để dưới
ánh sáng soi chiếu của Thánh kinh và trong sự linh ứng của Thánh Linh
trong lịch sử hướng dẫn con người, đi tìm một nền thần học cho giáo hội
địa phương. Khi chúng ta hiểu được sự mặc khải của Ðức Kitô trong tân
ước là khẩn định, canh cải và hoàn thành tinh thần của cựu ước, thì cũng
tương tự như thế, Chân lý Ðức Kitô mang tới sẽ dung nạp ,hòa hợp và tinh
luyện những mảng chân lý khác nhau đã mường tượng trong túi khôn con
người, để rồi trong cuộc đối thoại về chân lý, Mặc khải sẽ soi sáng và
giải phóng những nỗ lực tìm kiếm Chân Lý của con người.
Quan điểm này tương tự như những cái nhìn của các thánh giáo phụ Hy Lạp
trong thế kỷ thứ hai, tỉ dụ như Thánh Justinus đã tin tưởng Thiên Chúa
gieo những hạt giống khôn ngoan trong tâm trí con người mọi thời mọi
nơi, ai ai cũng nhận được hạt giống đó và như vậy đều được tham dự vào
sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Tất cả những khía cạnh và thành độ của sự
tham dự này đều bao gồm trong sự khôn ngoan tự thân, muôn đời đã hiện
hữu ẩn tàng và tới lúc ấn định, đã được biểu lộ trong mặc khải nơi Ðức
Kitô, Con Thiên Chúa làm người. Chân lý Mặc khải này được Ðức Kitô hứa
sẽ cho con người hiểu thông khi Thánh Thần ngự đến. Như vậy, Thánh Thần
Chúa không những là Ðại Ký Ứùc của thần học Kitô giáo mà còn là nguồn
mạch mọi ơn sủng, ơn tự nhiên cũng như ơn siêu nhiên. Nhờ đó, ơn siêu
nhiên không những không đi ngược với ơn tự nhiên, nhưng còn làm viên mãn
ơn tự nhiên; và đàng khác nhiều khi nó cũng cần được ơn tự nhiên làm nền
để chuẩn bị đón nhận nó. Chính vì thế, K. Rahner cũng như nhiều nhà thần
học khác, đã xây dựng nền thần học của ông trên ơn sủng học và coi những
người thành tâm khác như là "Kitô hữu ẩn danh". Ðó chỉ là kết luận nhất
trí của một nền thần học chân nhận Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong
lịch sử loài người, hướng dẫn để con người nhận ra Logos, gốc của trí
tuệ, để liên kết và thánh hoá mọi sự hiểu biết. Hiểu như thế, chúng ta
cũng có thể khẩn định Chúa Thánh Thần vẫn hướng dẫn con người Á đông tìm
trong vũ trụ quan của mình ý niệm hòa hợp với căn bản Kitô giáo, Người
vẫn soi chiếu Tâm-Linh dần dần nhận ra gốc của Nhân-Aùi là nền tảng của
Kitô giáo và Nho giáo.
Trong quan điểm thần học
trên, chúng ta thử nhìn lại những chiều hướng tiếp cận, từ tương khắc
tới tương hợp, để nhận ra những nét đặc thù của quan hệ Tân Nho học hiện
nay và Kitô giáo.
1.Triết tân Nho hiện nay và
những quan điểm dị đồng với Kitô giáo.
Phó Bội Vinh (Fu Pei Jung) khi đứng trên quan điểm triết nho học để đối
thoại với Kitô giáo, ông đã đưa ra những vấn để hóc buá sau đây:
a) Tính bản thiện và giáo lý tội nguyên tổ
Theo ông tính bản thiện và và hướng về việc làm lành là nền của tư tưởng
Khổng Mạnh, không thể chấp nhận được giáo lý tội nguyện tổ của Kitô giáo
cho rằng con người vì đó mà hướng về chiều ác. Oâng đặt độc giả đứng
trước vấn đề lưỡng nan của hai lập trường: nếu tính bản thiện và có
chiều hướng về thiện, thì ác từ đâu tới? Ðó là câu hỏi mà Kitô giáo có
thể hỏi thuyết Khổng Mạnh và ngược lại nho sĩ Khổng Mạnh có thể hỏi
ngược lại: nếu con người hướng về ác, thì thiện từ đâu tới. Ðó là vấn đề
thiện ác mà Boethinus đã đặt ra vào thế kỷ thứ năm rồi và vẫn còn ảnh
hưởng tới ngày nay.
Thực ra đây không phải là vấn đề không lối thoát phải loại trừ nhau,
nhưng chỉ là hai quan điểm có vẽ đối nghịch, nhưng có thể hoà giải được.
Thực ra nho sĩ không phải tuyệt đối đứng về quan điểm tính bản thiện của
Mạnh Tử, nhưng cũng có thế chấp nhận bản tính ác của Tuân Tử. Ðối với
họ, quan trọng là tu luyện (để giữ thiện, hay để cải ác) để thành quân
tử. Tội nguyên tổ trong giáo lý công giáo không phải là lý chứng quyết
định bảân tính con người là thiện hay là ác, nhưng là đe å giải thích
tội ác phát sinh từ đâu và vì sao con người có thể và cần được cứu độ.
Chính theo chiều hướng này, ø giáo lý về tội nguyên tổ đã được hiểu theo
những cách thể khác nhau, nhất là ngày nay đối với thần học giải phóng,
tội nguyên tổ được hiểu theo cơ cấu tội lỗi xã hội ảnh hưởng sau xa tới
con người làm họ sống chiều theo khuynh hướng sự ác. Nếu có dịp so sánh
và luận đàm chiều hướng thần học này với quan điểm tương quan thiện ác
của Mạnh Tử và Tuân Tử, thì đó là một đề tài rất hấp dẫnû và rất bổ ích.
Rất tiếc ở đây vì giôí hạn của đề tài, chúng ta không thể phát huy
được.
b) Vấn đề đối nghịch giữa
tự luật và tha luật, chủ yếu là sự liên quan giữa nội tại và siêu việt
Phó Bội Vinh cũng như nhiều nhà tân nho sĩ cho rằng nho học và triết
Phật giáo nhấn mạnh tới tự luật và coi việc tự tu luyện là chính yếu để
đạt tới đích nhân bản hay Phật tính. Ngược lại Kitô giáo tin Thiên Chúa
là Ðấng Tạo Hoá, dựng nên con người từ hư vô và như vậy để tồn hữu con
người phải kết hợp với Thiên Chúa, và để phát triển và đạt tới viên mãn,
con người phải siêu việt hóa chính mình và thăùng hóa vạn vật.
Thật ra giữa tư tưởng Nho học và Kitô giáo không có sự đối lập như giữa
Phật giáo và Kitô giáo. Từ thời tiền cổ, triết học Trung Quốc vừa có
chiều kích nội tại và siêu việt, vừa tự luật và tha luật, như chúng ta
thấy họ hiểu quan niệm Thiên mà chúng ta đã bàn ở trên. Có chăng sau này
từ thời Tống Minh, quan niệm Thiên bị cực đoan nội tại hoá thành chủ
nghĩa duy tâm, nhất là trong trường phái Tân Nho hiện nay càng đào sâu
quan điểm này, như của Mâu Tông Tam, nên mới nẩy sinh ra ù vấn đề đối
chọi giữa tự luật với tha luật, từ đó mới đặt vấn đề chủ nghĩa bất tri
đối với Thiên. Trong thần học Kitô giáo, chúng ta thấy đừơng hiểu biết
Thiên Chúa vừa khẳng định, vừa phủ định và vừa nội tại vừa ngoại tại
nữa. Vì thế, tu đức không thể không có chủ thể được; nhưng đồng thời tu
đức không phải là kết quả của khổ tu, nhưng là quá trình con người hợp
tác với ân sủng của Thiên Chúa.
c) Từ hai vấn đề trên dẫn
tới những vấn đề đối nghịch khác
Từ hai vấn đề trên dẫn tới những vấn đề đối nghịch khác như: tôn giáo
thuộc vào luân lý đạo đức hay luân lý lệ thuộc vào tôn giáo. Ðối với một
quan niệm tôn giáo nội tại trong thế giới, thì giá trị tôn giáo đó được
đồng hoá với luân lý. Nhưng đối với một tôn giáo nhấn mạnh về siêu việt,
thì luân lý cần động lực và sức mạnh (ân sủng) của tôn giáo. Lấy luân lý
làm gốc cho tôn giáo thì họ nhấn mạnh tới tri hành hợp nhất ; còn quan
điểm lấy tín ngưỡng làm gốc cho hành động, thì tri đồng nghĩa với tin
tưởng và theo đó, niềm tin hướng dẫn hành động của con người.
Thật ra khi chủ trương con người tính bản thiện và hướng về thiện, thì
nho sĩ Khổng Mạnh đã tin tưởng đó là mệnh trời phú bẩm. Từ đó họ mới
nhận con người tự lập và phát huy. Như vậy những hành động luân lý sau
này cũng đã lệ thuộc vào căn nguồn Thiên mệnh này rồi. Nơi Kitô giáo sự
lệ thuộc này không những từ nới phát xuất, nhưng còn tiếp tục xuất cuộc
hành trình làm người. Như vậy, những đối lập trên chỉ là những điểm nhấn
mạnh chứ không phải là mâu thuẫn, vìù thực chất của chúng đều như
nhau.
2. Ðối thoại giữa Kitô giáo
và Ðạo Nho
Ðịnh nghĩa tôn giáo biến hoávà canh cải khôn lường vì khó có ai thấu
triệt được bản tính tôn giáo, cả những phạm trù cổ điển như hữu thần hay
vô thần không còn dể gì đáp ứng được tất cả những nhu cầu đòi hỏi để
thỏa mãn tôn giáo tính, như nói tới Phật giáo chẳng hạn. Dầu vậy, nói
cách chung chung, khuynh hướng coi tôn giáo là một "quan hoài tối cực
hằng tồn" (ultimately concern) bao gồm đạo lý, cuộc sống thực tiển hay
cách diễn đạt nghi lễ tượng trưng, được công nhận là hướng đi căn bản
hiện nay trong tôn giáo học. Theo chiều hướng này, H. Kung phân loại tôn
giáo thành ba trào lưu chính: trào lưu tôn giáo tiên tri bắt nguồn từ
cận đông, phất huy từ gốc Semitic, bao gồm những tôn giáo chính như Do
Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Trào lưu thứ hai là tôn giáo huyền bí
bắt nguồn từ Aán Ðộ, bao gồm Ấn Ðộ giáo và Phật giáo. Trào lưu thứ ba là
tôn giáo Khôn Ngoan, lấy Ðạo hiền nhân (thánh nhân) làm mẫu mực, bắt
ngồn từ Trung Hoa, bao gồm Nho giáo, Lão giáo. Dù cách phân loại này chỉ
là mốc chung, chứ không loại trừ nhau, vì không ai phủ nhận tôn giáo
tiên tri cũng bao gồm tính cách huyền nhiệm và khôn ngoan, v.v?, nhưng
ít nhất nó nói lên một đặc tính của tôn giáo bất nguồn từ Trung Hoa, một
đặc tính thường bị lãng quên hay không được coi trọng. Trong quan điểm
này, H Kung đối thoại với J. Ching, một nữ nho sĩ, về tôn giáo nhân gian
ở Trung Hoa, về đạo Nho và đạo Lão. Ở đây chúng ta đặc biệt chú ý tới
cuộc đối thoại giữa đạo Nho và Kitô giáo, nhất là giữa Khổng tử và Ðức
Kitô, như J. Ching và H. Kung đã diển đạt.
Khi bàn tới quan niệm thiên, lễ và nhân, Khổng Tử tiếp tục tinh thần cổ
điển lấy thiên làm căn nguyên mọi vật và là đấng thưởng phạt, nhưng
trong thời chiến tranh, lễ nghĩa, luân lý suy đồi, ông đã lấy Nhân để
dần dần thay lễ. Ðó là chiều hướng chủ nghĩa nhân đạo hay nhân bản. Niềm
tin nhân bản (gốc thiện và hướng thiện) này đã thấm nhập vào mọi lãnh
vực cuộc sống thành tam cương, ngũ thường, thành tu thân, tề gia, trị
quốc và bình thiên hạ. Nhân và Thành là hai hướng phát huy của khôn
ngoan, đó là mẫu các vua thánh nhân, (Nghiêm, Thuấn), người lý tưởng của
nho sĩ: "Nội Thánh, Ngoại Vương": đó là sự hòa hợp giữa thiên đạo và
nhân đạo. Khi so sánh Khổng Tử và Ðức Kitô, H. Kung đã nêu ra những điểm
tương đồng của hai bậc vĩ nhân này.
1) Cả hai sống trong thời
xã hội loạn lạc, văn hoá nguy cơ và đã nhận sứ mạng rao giảng sứ điệp
cải tổ xã hội, con người.
2) Cả hai đều thu hút môn
đệ từ những tầng lớp khác nhau để tiếp tục sứ mạng mình.
3) Cả hai đều coi trọng
truyền thống tu sửa, hoàn chỉnh tinh thần truyền thống.
4) Cả hai đều phê phán
những hoàn cảnh tệ đoan.
Nhà thần học cựu ước
Phương Chí Vinh đặc biệt so sánh và phát huy tinh thần Nhân của Khổng Tử
và Aùi của Ðức Kitô thành Nhân-Aùi: Nhân giống Cựu ước tuy nhấn mạnh tới
tinh thần tương quan giữa người nhưng dưới khiá cạnh tiêu cực hơn là
tích cực: "Ðừng?" Trong khi đó đức Aùi không những tích cực như người
Samarita, nhưng còn hơn nữa: yêu cả kẻ thù và trở nên hoàn thiện như Cha
chúng con ở Trên trời là đấng Hoàn Thiện. Cả hai tư tưởng nồng cốt nhân
và ái đều lấy người làm khởi điểm và chỉ hướng cho cách tu thân, lối
sống liên đới với tha nhân trong hoà hợp đểø xây dựng một thế giới đại
đồng, tứ hải giai huynh đệ, một "trời mới đất mới". Như vậy tư tưởng
Khổng Tử tuy trọng nhân bản nhưng không phải làduy nhân bản, vì gốc nhân
bản là trời (thiên mệnh) và Ðức Kitô đặt trọng tâm nơi Thiên Chúa (Aùi)
nhưng trong cuộc sống chứng nhân qua lời rao giảng và việc thực thi Nước
Trời, thì đức Aùi đã nhập thể và nhập thế : đức Aùi hình thành nơi con
người và vì việc cứu độ của con người (ý Cha thể hiện dưới đất cũng như
trên trời).
3. Tái kiến tạo một quan hệ giữa Triết Nho và Kitô giáo
Triết học không chỉ chú tâm tới triết lý, nhưng còn mở rộng cái nhìn lấy
sự khôn ngoan làm mực thước. Ði tìm "khôn ngoan" bao gồm nhiều tầng lớp,
từ cái nhìn thường thức bình dân trong cuộc sống thường ngày, tới những
quan điểm chuyên môn (khoa học) tới cái nhìn tổng hợp nhất thống và thâm
sâu. Nó bao gồm nhân sinh quan, vũ trụ quan và thần quan.
Trong những triết gia Trung quốc thời nay, chúng ta nhận thấy Phương
Ðông Mỹ là một triết gia đã tổng hợp tư tưởng nho gia và nhất thống hóa
thành một hệ tư tưởng tương đối vững chắc, ông không những chỉ dạy cho
các học sinh ông như Thẩm Thanh Thông, Phụ Phối Vinh? tiếp tục phản
tỉnh, mà còn là ø một triết gia đã ảnh hưởng không ít tới việc phản tỉnh
và xây dựng một nền thần học Trung Hoa, như thần học nhất thể tính.
Trong quá trình này, các nhà thần học Trung Hoa này đã học hỏi truyền
thống Tây phương "fides quoerens intellectum" và chuyển hoá thành "fides
quoerens sapientiam" cho hợp với lối suy tư văn hoá Á Châu.
Trước tiên chúng ta thử
tìm hiểu cái nhìn "Nhất Thể" của Phương tiên sinh, sau đó xét coi thần
học giaTrương Xuân Thân đã luận đàm và tìm cách xây dựng thần học bản vị
hóa trên căn bản triết học Nhất Thểù ra sao.
Phương Ðông Mỹ trong một
bài diễn giảng: "Trung quốc triết học ảnh hưởng tới thế giới tương lai"
có thể nói đã gồm tóm những kết tinh của cả cuộc đời suy tư triết học
của ông thành một hệ thống. Ông đã minh giải ï triết lý sống đo như sau:
Ông chũ trương sinh mệnh
là một hữu thể trong vũ trụ, được thu nhỏ và gói ghém trong tiểu vũ trụ,
con người. Phản tỉnh về con người sống, chúng ta sẽ nhận ra tính nhất
thể của vũ trụ. Ông phân tích con người sống theo sáu lãnh vực sau: vật
chất, sinh vật, tâm lý, thẩm mỹ, đạo đức và tôn giáo. Ông cho rằng, lấy
động lực sống khai phá phạm vi sinh mệnh vật chất, tức là người công
nhân (homo faber). Lấy lực tồn sinh phát triển từ phạm vi vật chất tới
thế giới sinh vật, tức là người hành động (homo dionysiacus). Phạm vi kế
tiếp là lấy tâm lực phát huy tâm lý, tức là người sáng tạo (homo
sapiens). Khi lấy tâm năng hình thành những phạm vi siêu việt của cuộc
sống, con người đã bỏ lãnh vực tự nhiên để từng cấp một, từng quan điểm
một trở thành con người tượng trưng (homo symbolicus), lấy ký hiệu ngôn
ngữ làm cách diễn đạt siêu việt tính, hay trở thành người đạo đức (homo
honestatis) lấy tinh thần đánh giá phẩm cách để thực thi trật tự luân
lý, và người tôn giáo (homo religiosus) lấy thế giới hoà hợp chân thiện
mỹ làm căn bản cho cuộc sống. Khi con người thực sự viên mãn cuộc sống
tôn giáo, họ là những "thánh nhân", "hiền nhân" hay triết nhân, những
người như Khổng Tử nói "tri thiên mệnh", hay tham dự vào cuộc giáo hoá
của trời đất. Cội gốc phát xuất sinh mệnh và nơi hồi qui những tinh anh
của vạn vật, Phương tiên sinh gọi là "thần tính" là "thực hữu tối cực"
(the really real reality), là bí mật huyền nhiệm thâm sâu (the
mysteriously mysterious Mystery). Cội gốc này có lẽ sẽ dễ hiểu hơn khi
so sánh với tư tưởng của Meister Eckhart. Quan Vĩnh Trung đã tóm lược tư
tưởng của Meister Eckhart trong lược đồ như sau:
Lưu Xuất
1. Nguyên thuỷ của thần lưu xuất
Lưu Xuất
2. Chúa Ba Ngôi
Tạo Thành
3. Vũ trụ
Qui Hồi
6. Cội Gốc
Ðột Nhập
5. Thánh Tử (Thần - Nhân)
Cứu Ðộ
4. Nhân loại
Nếu so sánh hai lược đồ của Phương Ðông Mỹ và Meister Eckhart, chúng ta
thấy hai hệ tư tưởng tuy rất gần nhau nhưng không phải là không có sự
khác biệt: cả hai đều chân nhận sự biến hóa của Nhất Thể bao gồm cả hai
chiều, thượng và hạ, nhưng tư tưởng Phương tiên sinh thượng-hạ hoà hợp,
thẩm thấu để lôi kéo tất cả hướng thượng, còn Eckhart từ lưu xuất tới
qui hồi trở thành chu kỳ sáng tạo và cứu độ để trở về cội gốc. Ở tư
tưởng Eckhart liên hệ giữa thần nguyên thủy và vũ trụ khác nhau là "tạo
thành", giữa nhân loại và trở về cội gốc qua cuộc "cứu độ" của Thánh Tử.
Tư tưởng Phương Ðông Mỹ phức tạp hơn, khi hỏi "thần tính" là gì? và liên
quan gì với những phạm vi khác? Phương tiên sinh tự nhận "thần tính" mà
ông hiểu, không phải là thần tính tự nhiên (Deism), cũng không phải là
thần có ngôi vị: (Theism), nhưng là "phiếm thần luận" (pan-theism). Ðây
là điểm then chốt mà thần học Trương xuân Thân muốn thảo luận với Phương
Ðông Mỹ.
Linh mục Trương cho rằng, lý do chính mà Phương tiên sinh coi hệ tư
tưởng của mình là "phiếm thần", vì ông cho rằng sinh lực "Thần" thẩm
thấu qua mọi lãnh vực sức sống và làm cho mọi lãnh vực hoà hợp với nhau,
như ông viết trong cuốn sách "triết lý sống". Dùng hình ảnh tượng trưng
lãng mạn, ông nói: tình yêu của hai người yêu nhau trong như mắt nước để
họ soi và nhận ra nhau. Trong hình ảnh của anh tôi tồn tại và trong tôi
anh tồn tại. Ðó là cách nói tượng trưng của Thiên-Nhân hợùp nhất và vũ
trụ như mặt nước để nhận ra nhau. Như vậy Thiên-Ðịa-Nhân là lối kết,
tiếp tục để hợp nhất (hợp, bất gián, nhất thể) là "Nhân", như giám mục
La Quang giải thích.
Trương tiên sinh thắc mắc,
phải chăng sinh mệnh là lối kết và tiếp tục nguồn sống để thành tinh hoa
của hoà hợp, hợp nhất với "thần tính", nhất thiết phải là phiếm thần
(pantheism)? hay sự thực có thể hiểu là "pan-en-theism"; như Thánh
Phaolô đã viết trong 1Cor 15:28: "Thiên Chúa thành vạn hữu của vạn vật"
(God-becomes-all-in all)? Giữa hai quan điểm đó là: "Thiên Chúa là tất
cả" hay "Tất cả là Thiên Chúa" ("All-is-God") và "Thiên Chúa ở trong
tatá cả" hay tất cả ở tại Thiên Chúa" ("All-is-in-God") có một sự khác
biệt rõ ràng Ðó là quan điểm "phiếm thần" và "phiếm tại Thần". "Ở-Tại"
có thể được quảng diễn bằng cách nói trong thánh lễ: nhờ Ðức Kitô, trong
Ðức Kitô và qua Ðức Kitô-một sự hiệp nhất bất gián nhưng không phải là
phiếm thần. Trương Xuân Thân nhận định, nếu thần học Á đông nói chung và
thần học Trung Hoa nói riêng có thể đặt nền tảng trên "phạm trù"
Thiên-Ðịa-Nhân hợp nhất thì hợp với truyền thống triết học lấy sức sống
của thần thấm vào mọi lãnh vực và bao hàm, hoà hợp mọi tầng lớp vạn vật
để tiếp tục hoá sinh muôn loài muôn vật và hướng về chân-thiện-mỹ viên
mãn, như Phương Ðông Mỹ đã phát biểu một cách chí lý rằng: "sinh mệnh
phổ biến của vũ trụ biến hoá không ngừng, lưu xuất vô cùng, mang thiện
tính của nó đổ đầy nhân loại, đưa dẫn nhân tính tới cảm ứng tích cực
thông hoà hơn. Tâm linh loài người không có gì là bất mãn, tồn dưỡng mà
vô hại, tu tâm tích đức để tương hợp đức thiện của Trời, làm cho nhân
tâm phát huy mạnh mẽ hơn, viên mãn hơn, thuần tính hơn. Trời với người
hợp điệu, người với người tương ứng, người với vật hoà nhịp. Nơi nơi đều
thể nghiệm thấy Nhân, đều tiếp tục thiện tính, đều lấy tích nghĩa, sinh
thiện làm then chốt".
Thực sự thần học Trương
Xuân Thân đã phát huy "Thần học bí tích" trên quan điểm triết học Phương
Ðông Mỹ mà ông đổi thành "phạm trù Nhất Thể tính". Qua đó ông đã nhấn
mạnh cộng đoàn tính của giáo hội, bao gồm cả thừa tác viên, lẫn người
nhận phép bí tích, mà còn hơn thế nữa cả cộng đoàn dân chúa với đầy tính
năng động và hỗ tương. Cộng đoàn dân Chúa như vậy đã nhận ra ân sủng bí
tích liên hệ mật thiết với cuộc sống, kết hợp họ thành một, hơn là đóng
khung trong một nơi chốn hay thời gian nhất định. Nói tóm lại, phạm trù
Nhất Thể tính này đã đi từ gốc của sức sống và từ đó lưu xuất và liên
hợp thành một: Ðức Kitô là bí tích của Thiên chúa, Giáo hội là bí tích
của Ðức Kitô và cả người ban lẫn người nhận bí tích không phải là "đối
nhân" nữa, nhưng là một "biến cố hiệp nhất" nên cần cả hai bên. Sự hoà
điệu và hợp nhất này qua giáo hội tới thế nhân. Quan điểm này đã được đồ
đệ ông phát huy trong những lãnh vực thần học khác như tu đức học, nghi
lễ học? v.v?
Rất tiếc, mặc dù ông bắt
đầu nghiên cứu đưa triết học "khí" vào thần học để tìm ra sự liên quan
giữa "Thần Khí" và Thánh Thần, nhưng chưa quán thông được, nên "Nhất Thể
tính" của ông vẫn còn dẫm chân trên "phạm trù", hơn là "sinh lực". Có lẽ
đây là phần mà Hoàng Sĩ quí có thể bổ túc thêm để kiến tạo một hệ tư
tưởng hợp hơn và sinh động hơn cho thần học bản vị hoá Việt Nam chăng?
4. Một Viễn ảnh thần học
bản vị hóa Việt Nam
Trương Xuân Thân khẩn định hệ triết Phương Ðông Mỹ và thông dịch nó như
"phạm trù" nhất thể. Sự phân chia những phạm vi minh bạch và tiếp nối
nhau nhằm giao hoà, hợp điệu với nhau thành nhất thể. Cội gốc của nhất
thể đó là "Thần". Chúng ta thấy đường hướng thượng và hướng hạ tuy giao
liên, nhưng chỉ theo chiều dọc và cội gốc cũng nằm trên đỉnh chiều dọc,
lối kết hình nhi thượng và hình nhi hạ thành một. Ðó vốn là điểm mạnh
của bất cứ một hệ thống siêu hình học nào. Dầu vậy, sự nối kết, tiếp tục
và hợp nhất của tư tưởng và hành động con người không chỉ nằm trên căn
bản bất di bất dịch của triết lý siêu hình học, nhưng nó là "sức sống",
nghĩa là đã, đang và sẽ phát triển để hình thành, để tiến về viên mãn.
Ðó là chiều kích của lịch sử tính của sức sống và của con người.
Khách quan mà nói, cho đến nay chiều kích lịch sử tính vẫn còn tương
đối xa lạ với triết học đông phương, vẫn chưa hoà nhập vào hệ tư tưởng
của triết Trung Hoa nói riêng. Ðó là điểm mà Hoàng Sĩ Quí tuy không gọi
tên lịch sử tính ra, nhưng đã ý thức và khai quật nó như một "đại ký ức"
của văn hoá Việt Nam, mà ông gọi là "tầng nền tâm hệ Việt", một tầng lớp
tiền ý thức không những bắt rễ từ lịch sử xa xôi, nhưng luôn cộng tồn,
và tiếp tục trong mỗi hành vi ý thức. Lớp tiềm thức này rất dầy và rất
phức tạp vì nó bao gồm và hợp kết những mảng tri thức khác nhau, từ văn
hoá bình dân tới văn hoá trí thức. Tiềm thức này càng phong phú, khi nó
có một cội rể đa nguyên và được lịch sử thăng trầm tôi luyện.
Hoàng Sĩ Quí minh chứng
tâm thức người Việt là sự giao hoà của hai nền văn minh lớn và cổ điển Á
Châu: Văn hoá Trung Hoa và văn hoá Ấn. "Văn hoá cây cung" (với những đặc
trưng như dùng quốc, xâm mình, ăn trầu, nhuộm răng đen, búi tóc củ hành,
chế độ mẫu hệ?) đã hoà đồng với tư tưởng gốc tôn giáo Bí Mật (Ấn Ðộ) và
gốc tôn giáo Khôn Ngoan (Trung Hoa) thành nền tâm linh người Việt. Ở
đây, ông đã kéo chúng ta chú ý tới khía cạnh Aán tính quan trọng của văn
hóa Việt Nam, một khía cạnh huyền bí bổ túc cho sự khôn ngoan siêu hình.
Là một chuyên gia triết Aán Ðộ, ông đã phân tích tỉ mỉ sự tương đồng
giữa những di tích được khoa khảo cổ khám phá và những phong tục tôn
giáo, những kiểu kiến trúc có liên quan tới Aán Ðộ giáo và Phật giáo. Và
sau một loạt chứng cớ, ông đã kết luận: "Xem như thế, rõ ràng Ấn giáo
dưới hình thái của thời Mahâbbârata (đầu công nguyên trở về trước) đã
được truyền bá sâu rộng khắp vùng Ðông Nam Á, khiến cho những sóng người
Ấn Ðộ đến sau (nhất là vào thê kỷ IV-V) đã không thay đổi nỗi tình trạng
ấy".
Trong phần thảo luận văn
hoá Trung Quốc, ông cũng đã nhắc qua tới những điểm quan trọng của triết
học vũ trụ quan hài hoà và đặc tính nhân sinh như chính tâm và thành ý,
cũng như nhân, trí dũng và trung dung?v.v.. Có lẽ nhìn thấy nhu cầu của
xã hội Việt Nam hiện tại, nên ông đặc biệt luận chữ "Thành" như căn bản
để kiến tạo sự liên quan với Trời, liên đới với người và hòa hợp với vạn
vật. Ông đưa chữ "Thành" vào chiều sâu của tâm thức và coi như một thành
tố quan trọng và tiêu chuẩn của "nhận đồng tính" nơi cá nhân hay tập
thể. Và ông kết luận: "Cho nên, đức thành không những là nền tảng của
đời sống luân lý, nó còn là căn bản cho mọi quân bình tâm lý nữa. Thành
cho đến cùng - - tôi có ý nói sự thuần phác, tinh thần xích tử - sẽ mang
ý thức đến gần vô thức, tạo nên sự thông suốt giữa hai bên. "Ông cũng
không quên khía cạnh cộng đoàn tính của thành là "Nhân", quan điểm thuần
phác tính của thành là "Ðạo". Theo ông, chữ thành cũng trở thành tâm
điểm quan trọng để xây dựng một gia đình Việt công giáo, để phát huy
tinh thần hiếu (đối với bậc cha mẹ) và để (đối với vai anh chị em), một
căn bản để cứu vãn tình trạng xã hội đang bị những cơn lốc lừa đảo, tham
u làm suy sụp, thoái hóa.
Nói tóm lại, bên cạnh
"phạm trù nhất thể tính" của thần học gia Trương Xuân Thân, như là mặt
minh bạch của lý tính, một hệ tư tưởng kết tinh tính nhất thể của tư
tưởng Trung Hoa, chúng ta cần một tâm hệ Việt ăn rể sâu trong tiềm thức
tập thể hay cá nhân. Như vậy căn gốc của Thiên-Ðịa-Nhân hợp nhất không
những chỉ ăn rễ nơi hình ảnh tượng trương của các "thánh nhân", mà còn
qua sự linh ứng từ vô thức, từ ngoại lý, từ siêu lý. Ở đây, trong đường
hướng đi tìm một viễn tượng cho thần học bản vị hóa Việt Nam, chúng ta
không thể không chú trọng tới khía cạnh văn hóa bình dân Việt Nam, một
phạm vi đặc thù và rất phong phú, mà giáo hội địa phương chưa nhận ra
gía trị quan trọng, vàchưa cổ võ đúng mức, để khám phá và đưa những kho
tàng khôn ngoan mà tiền nhân để lại vào trong suy tư thần học và nền
giáo dục nhân bản. Với cái nhìn tổng hợp như vậy, chúng ta có thể dễ
phát hiện vai trò của Thánh Linh trong cuộc sống con người và trong mọi
hoạt động của hợp nhất.