Hans Joachim Hohn
Chuyển dịch: Lm Vũ Kim Chính, SJ
Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan
Trong những năm gần đây, trên báo chí thường xuất hiện những tranh luận
về "Hậu Hiện Ðại". Quan niệm này khiến chúng ta chú ý tới những hiện
tượng quan trọng của xã hội biến đổi và đánh dấu cuộc thảo luận về mối
nguy cơ cũng như tương lai xã hội và văn hóa. Mục đích của bài này trước
tiên là minh định những phạm vi của luận thuyết "Hậu Hiện Ðại", kế đến
là phác họa một số những khởi điểm thần học tìm cách đối thoại với những
khởi điểm thần học tìm cách đối thoại với những quan niệm "Hiện Ðại"
trái ngược nhau và cuối cùng là phản tỉnh mối liên quan giữa thần học và
ý thức (hậu-) Hiện Ðại.
Trong những năm gần đây khi
tranh luận về văn hóa biến chuyển đã xuất hiện một danh từ mới "Hậu-Hiện
Ðại". Danh từ này bao lâu đã trở thành một "mốt" mới và nhiều khi bị lạm
dụng, nên cần phải được tái xác định. Khi nhằm mục đích nói lên những gì
sẽ tới "sau" thời Hiện Ðại (moderne) quan niệm này đã biểu lộ một ý thức
"Hiện-Thời-Mới" gánh những trọng trách mà những hệ luận cũng như những
ấn tượng điển hình của thời đại sắp qua đi để lại. Vậy, "Hiện Ðại"
(moderne) là gì? Câu hỏi này tới nay chưa bao giờ được giải quyết ổn
thỏa cả. Dẫu vậy, câu hỏi này lại được tân thời hóa, vì nó là mục tiêu
của những người lãnh đạo trong Giáo hội là những người phản kháng kịch
liệt nhất. Thực sự Giáo hội là những người phản kháng kịch liệt nhất.
Thực sự Giáo hội công giáo trong một thời gian lâu dài đã kiến tạo một
phòng tuyến vững chắc chống lại gần như tất cả những lập trường tinh
thần lẫn chính trị của trào lưu "Ánh Sáng" (Aufklarung) cũng như những
hình thức phong trào này thực hiện, qua đó đã phản ảnh rõ ràng thái độ
đối lập phản kháng lại những yếu tố căn bản của ý thức "Hiện Ðại". Thái
độ phản kháng này tuy trên thực tế thoát thai từ những biến cố và kinh
nghiệm của cách mạng Pháp, của phong trào tục hóa và từ chủ trương đạp
đổ và thay thế những chế độ cũ; nhưng thực ra nguyên nhân thâm sâu của
nó là: Chống lại quan niệm tự do Hiện Ðại, hiểu theo nghĩa lấy tự do cá
nhân làm trọng tâm, muốn loại bỏ bất cứ một trật tự khách quan nào có
liên quan tới chân lý. Chỉ cần nhắc tới việc cấm người công giáo không
được phép đọc sách của những vị đại biểu phát động phong trào Hiện Ðại ở
Âu Châu mà phần lớn đã bị liệt vào Index Romanus là đủ. Tuy nhiên truyền
thống cấm đoán đó không liên quan nhiều tới việc phong trào "hậu hiện
đại" phê bình, chỉ trích "Hiện Ðại", vì phong trào này không coi quá khứ
là cái gì phải bảo vệ hay gìn giữ. Hơn thế nữa hình như lập trường Hiện
Ðại tự nó đã trở thành già nua, cứng nhắc và vì thế đã rơi ngay vào tình
trạng bảo thủ mà trước kia nó muốn phê phán và vượt khỏi. Thái độ bất
mãn đó với Hiện Ðại bắt nguồn từ những phản ứng quyết liệt đối với niềm
tin biện chứng về tiến bộ, vì họ đã phát giác những minh chứng cho thấy
chính những lực lượng khiến con người tiến bộ làm bá chủ thế giới lại
cũng là những lực lượng ngược lại làm cho tự lập trở thành lệ thuộc,
khai phóng trở thành bị áp bức, hợp lý trở thành phi lý. Từ những dữ
kiện nhỏ đó cô đọng hợp thành Hậu Hiện Ðại phê bình văn minh Hiện Ðại:
Chính sự hạn hẹp hóa, đơn phương hóa đã biến lý trí thành tri thức dụng
cụ. Thực vậy, lý trí theo hướng phát triển này dù phá bỏ được nền văn
hóa đen tối của thời Trung Cổ, nhưng thay vào đó đã phải trả gía: Sự
điên cuồng của chủ nghĩa lý tính Tây phương.
I. Hậu Hiện Ðại
Giã biệt hay tiếp tục Hiện Ðại?
Một số đáng kể các học giả bắt đầu dùng quan niệm "Hậu Hiện Ðại" theo
nghĩa căn cứ vào những hiện tượng đang manh nha vượt qua những điển hình
văn hóa đã hình thành "Thời Mới" (Neuzeit). Ðiểm tương đồng của họ là
phạm trù của đa dạng và kinh nghiệm quyền bất khả vượt qua của những
hình thức hiểu biết, lối sống, mô thức hành động có những mức độ khác
biệt nhau. Ðiểm đáng chú ý nữa là sự đa dạng này không bưng bít trong
một khuôn khổ văn hóa nào, nhưng mở rộng thành đa tính của những phạm vi
liên hệ và có thể dẫn chứng.
Trong văn chương khi nhắc
tới "Hậu Hiện Ðại" là nhắc tới sự gặp gỡ trên căn bản đa dạng giữa những
hình thức ngôn ngữ và diễn đạt, giữa các văn loại và những tầng lớp phản
tỉnh: biểu lộ thực sự không phải chỉ trong những tác phẩm khác nhau được
phối hợp lại, mà trong cùng một tác phẩm như Tên Ðóa Hoa Hồng của
Umberto Eco.
Trong kiến trúc của Hậu
Hiện Ðại người ta phá bỏ qui luật của Cuối Thời Mới là không được phép
trang sức rườm rà cơ sở kiến trúc cả trong lẫn ngoài, cũng như nguyên
tắc kết cấu phải hợp với công dụng của nó. Kiến trúc Hiện Ðại đã đơn
giản hóa tới độ làm cằn cỗi khoa kiến trúc. Phong trào chống đối lại
kiểu kiến trúc này không muốn giữ những nguyên tắc đo lường cứng nhắc,
và muốn giải tỏa "Mặt Tiền" (Fassade) khỏi những tiền kiến lừa dối. Mặt
tiền giờ đây nhận lấy trách nhiệm là đánh dấu ý nghĩa thực sự của một cơ
sở kiến trúc: nó giúp người ta nhận ra mục đích và lịch sử của cơ sở.
Hơn thế nữa, những lối kiến trúc các thời khác nhau được hòa hợp lại
thành một toàn thể mới.
Trong triết học, Hậu Hiện
Ðại chịu ảnh hưởng của hậu cơ cấu luận (Structuralisme) ở Pháp, người ta
chú trọng tới việc giải tỏa và phát huy khả năng của vai trò ngôn ngữ
(Spachspiel) trong sự khác biệt tính, tự lập tính và bất khả giảm hóa
tính của nó. Vai trò ngôn ngữ trong khả tính đa dạng và công kích lẫn
nhau không còn tìm lại được bộ mặt thống nhất của lý trí, chủ thể, lịch
sử và ý nghĩa theo khuôn mẫu của phong trào Ánh Sáng chủ trương, vì
những khuôn khổ này bị coi là nòng cốt của chủ nghĩa phản đa dạng, muốn
gò bó toàn diện con người theo một lối suy tư nhất thống.
Theo quan điểm xã hội học
Hậu Hiện Ðại, xã hội là một hệ thống "đa trung tâm" (polyzentrische),
nghĩa là những phạm vi và tầng lớp đời sống xã hội như kỹ thuật, kinh
tế, khoa học, hành chánh và văn hóa không còn phải căn cứ trên một trục
điểm (archimedischer Punkt) để được phân phối và xếp theo thứ tự đã qui
ước. Cũng thế, luật pháp, luân lý và chính trị không còn kết thành một
hợp thể nữa. Vì họ cho rằng không thể có bất cứ một tư tưởng cố định, vũ
trụ hình thái đặc biệt nào hay lối sống đặc thù nào có giá trị tổng quát
nữa. Cả về vũ trụ quan chỉ có giá trị cho một tiểu số nào nó, và không
còn hy vọng biến thành một lực lượng có khả năng thu hút đại đa số quần
chúng như xưa. Kết cục, sự phân phối trong xã hội đa tạp như thế chỉ cần
cậy nhờ vào những nhóm đông người, có số lượng vượt qua qui định, phát
biểu ý kiến công khai là có số lượng vượt qua qui định, phát biểu ý kiến
công khai là có thể vận động sự đòi hỏi của họ thành những "Cộng Thức"
(consensus) hình luật, cũng như dùng phương pháp bất bạo động giải quyết
những vấn đề họ tranh chấp với nhau.
Trong cuộc thảo luận dẫn
tới việc ly khai thời Hiện Ðại này, các nhà thần học đứng trước cám dỗ
rất lớn là dễ gắn bó với những "mẫu tư tưởng" thời Tiền Ánh Sáng, mà coi
đó là những mô thức thời Hậu Hiện Ðại. Thực ra đó là giải thích và diễn
dịch sai dấu hiệu thời đại: khi các nhà thần học khủng hoảng, nên tự
mình đã rơi vào cơn khủng hoảng để kết luận rằng tôn giáo vì vậy có thể
phục hưng ý thức thời Tiền Thời Mới. Phần sau của bài này không có ý
minh chứng chiều hướng hoài cổ mập mờ này, cũng không muốn thúc đẩy thần
học tham dự cuộc "phân hủy cơ cấu" (Dekonstrucktion) Hiện Ðại của phong
trào Hậu Cơ Cấu luận. Trái lại muốn bày tỏ một vài khởi điểm (chứ không
diễn đạt toàn diện) mà các nhà thần học hiện đại đang nổ lực khai phá.
Ðó là câu hỏi: phải chăng phong trào giữa Hiện Ðại và Hậu Hiện Ðại là
một "nhịp nghỉ" (zazur) giúp thần học suy tư và khám phá ra khởi điểm
mới cho thời Hậu Hiện Ðại?
II. Khủng Hoảng Hiện Ðại
Phê bình Hiện Ðại: Thần học và tương lai của Thời Mới
Những rạn nứt của Thời Mới, sự đào thải và luẩn quẩn của nền văn minh
khoa học kỹ thuật là những mục tiêu của giới phê bình. Nhưng những phê
bình đó khó vạch cho chúng ta biết nội dung của thời Hậu Hiện Ðại sẽ ra
sao. Lý do là vì hình như ngay cả thời Hiện Ðại này cũng còn là một
phong trào tìm kiếm, tự nó chưa biết rõ sẽ đi về đâu, mục đích đang nỗ
lực đạt tới là gì. trong trạng huống này, Hậu Hiện Ðại thoạt tiên được
coi như là một nhịp ngắt để lấy hơi trong tấu khúc của lịch sử. Cho tới
nay chúng ta biết được giai đoạn này bắt đầu bằng ba quan điểm sau: (1)
Nhận thức rằng trước kia loài người cố gắng giải phóng mình khỏi nô lệ
thuộc thiên nhiên, nay đã lật ngược thành thống trị thiên nhiên: thiên
nhiên hầu như được hoàn toàn giao phó cho con người sử dụng. (2) Chắc
chắn rằng kỹ thuật nhằm khuất phục thế giới đã đưa con người tha hóa
thực tại. Vì sự biến tính, dùng số đo để trừu tượng hóa, biến thế giới
vất chất thành những hình tượng, ký hiệu, mật mã hay "nhu thể điện toán"
(computer software), đã đưa con người lìa khỏi thế giới hữu hình trước
mắt. (3) Tin tưởng rằng thời Hiện Ðại sẽ sớm mai một, con người rồi đây
phải đương đầu với những tai ương do sức hạch tâm gây ra, hay bù đầu bảo
vệ môi sinh (ekologie) chống lại mệnh lệnh cải tiến mỗi ngày: "cao hơn,
nhanh hơn, xa hơn" mà khó ai ngăn chận được đà tiến vũ bão của chúng.
Người ta có thể hỏi: Tại
sao những thẩm định trên lại phải nhờ tới thần học hoạch định chương
trình, làm như xã hội Hiện Ðại không thể tự giải quyết được những cơn
khủng hoảng trên? Ðể trả lời câu hỏi này, trước tiên chúng ta cần lưu ý
là thực hiện chương trình do lý trí tự do phác họa, tối thiểu phải do
con người và lịch sử mà ra. Kế đến là những câu hỏi cần quan tâm: phải
chăng giải quyết trạng huống lý trí tự chia rẽ nhau làm Thời Mới cáo
chung bằng một sự phân tán khác? Khi chân lý hướng dẫn tư tưởng đánh mất
sự liên kết phổ quát, thì phải chăng tư tưởng tự do, mục tiêu mọi kiến
thức khoa học, cũng mất tính hợp lý của nó? Thần học tin tưởng rằng quan
điểm thiết yếu của những câu hỏi nầy nằm ngay trong trung tâm Tin Mừng
giải thoát và làm viên mãn con người cũng như cứu cánh của lịch sử là
Thiên Chúa. Ðiều khó là làm sao cho con người nghiệm thấy Thời Mới cáo
chung trên cần Tin mừng này để điều chỉnh những vấn đề khách quan.
1. Ði tìm một khuôn mẫu mới
cho nền thần học
Phải chăng khoa thần học trên đường tiến tới Hậu Hiện Ðại cần một khuôn
mẫu thần học mới để góp phần vào việc minh định trạng huống và hơn thế
nữa tìm ra căn bệnh "Thời Ðại". Ðó là câu hỏi mở màn cuộc hội thảo quốc
tế ở Tubingen năm 1983. Mặc dù các tham dự viên thuộc nhiều trường phái
thần học và nhiều quan điểm bất đồng, nhưng theo tài liệu thảo luận để
lại, họ cũng có một khuynh hướng chung là thấy cần có một khuôn mẫu căn
bản mới cho thần học để nhận thức và giải quyết cơn khủng hoảng cùng
những đối nghịch của thời Hiện Ðại, cũng như dự phóng một nền luân lý
hậu chủ nghĩa vật chất, hậu chủ nghĩa lý tính theo hướng đại đồng và
liên hợp văn hóa. Cũng theo chiều hướng đầy hứa hẹn đó, Hans Kung, vị
chủ xướng cuộc hội thảo nói trên, đã phát biểu một loạt bài chủ trương
"Thần học Bộc phát" (Theologie im Aufbruch) nhằm phản tỉnh Hậu Hiện Ðại.
Như Jaspers và R. Guardini đã bắt mạch cơn khủng hoảng thời đại chúng ta
bắt đầu từ Thế Chiến thứ nhất, Hans Kung cho rằng cơn khủng hoảng này đã
kéo theo cơn khủng hoảng của tôn giáo. Phải giải quyết cơn khủng hoảng
này mới đưa tinh thần thời đại chúng ta tới một cái nhìn bao quát mới.
Sau khi Thời Mới minh chứng không phải là tôn giáo nhưng là hủy diệt tôn
giáo đã trở thành một ảo ảnh vĩ đại, nên việc bắt đầu cải tổ ý thức tôn
giáo có một cơ may hiếm có để đem lại "lý tính khác biệt" mà trong quá
khứ bị ruồng bỏ tiếp nối vào chương trình giải quyết vấn đề trên thế
giới cho hợp lý. Tuy nhiên nền thần học phải tránh dùng khẩu hiệu mới là
"hủy diệt Hiện Ðại" để trả thù Thời Mới đã thời trang hóa khẩu hiệu "hủy
diệt Thượng Ðế", vì nếu làm như thế chúng ta sẽ rất dễ dàng đánh mất
công trình mà thời Ánh sáng đã khổ công gầy dựng. Hơn thế nữa, thời Ðại
Mới phải được "thăng tiến" (Aufheben) theo nghĩa ba bước tiến hành của
hegel: (1) Bảo tồn khả năng phê bình của thời Ánh Sáng để đối phó với
tha hóa xã hội và mê hoặc lý trí. (2) Loại bỏ chủ nghĩa giản lược
(Reduktionismus) của thời Hiện Ðại đối với những hiện thực tôn giáo và
tu đức sâu thẳm. Như thế là giải phóng khỏi sự mê hoặc của lý tính, khoa
học và tiến bộ cũng như những lực lượng tự phá hoại nhân bản trong quá
trình lịch sử như những lực lượng tự phá hoại nhân bản trong quá trình
lịch sử như những chủ nghĩa quốc gia quá khích, thực dân, đế quốc. (3)
Thăng hóa (trans-endiren), tức vượt qua thời Hiện Ðại, hướng thượng tới
một mô thức "Hậu Hiện Ðại" mà trong đó những chiều kích bị áp bức, bị
bóp méo, kể cả chiều kích tôn giáo nữa, đều được nhằm đạt tới một hậu
quả giải phóng và sung mãn.,P> Ðể đạt tới hậu quả trên, đồng thời tôn
giáo, cụ thể là Kitô giáo, có thể vừa kiến tạo vừa phê bình trong khi
hướng về thời Hậu Hiện Ðại, thì ngay trong tôn giáo cũng cần phải "thay
đổi mô thức" (Paradigmenwechsel). Ðiều đó có nghĩa là tôn giáo bắt buộc
phải có chiều kích mới về lịch sử, đại đồng tính và chính trị. Theo
nhiều nhà phê bình, thì Kitô giáo vẫn làm cho người ta liên tưởng tới
tha hóa của lý tính, trong hoàn cảnh bị bóc lột vẫn còn bị nghi hoặc là
"thuốc phiện", vẫn còn bị cho là một cơ cấu cấm cách cảm giác con người.
Nói tóm lại: Kitô giáo hình như còn là dư lực (Relikt) đối kháng sự giải
tỏa của thời Ánh Sáng, vì Kitô giáo chỉ hưởng ứng tự do mà không thôi
thúc phát động phong trào giải phóng. Sợ trái với truyền thống, Kitô hữu
thường chỉ lừng khừng bước theo lịch sử xã hội và tư tưởng của thời mới
mà thôi. Bởi đó, cần phải gột bỏ thái độ cố thủ này. Như thế, sự khai
phóng, thay đổi tự trong trung tâm hệ thống suy tư của Kitô giáo, cũng
là khởi điểm xây dựng nền thần học mới. Hans Kung phác họa một nền thần
học có tính cách phê bình và cộng đồng tính cả trong nội dung lẫn ngoài
hình thức theo những đặc điểm sau đây: thay vì bảo vệ quyền bính và
những điều bí ẩn một cách khoa học, cần đứng trên quan điểm bất đồng hóa
luận (Nonkonformismus) và hợp chân lý để lý hội niềm tin và qua việc tự
phê bình hay phê phán xã hội cũng như giáo hội bày tỏ việc chịu trách
nhiệm đối với niềm tin này (để tri hành hợp nhất), nhờ đó hướng tới bình
diện đại đồng thay vì thu hẹp trong phạm vi tính ngưỡng quốc gia (đó
cũng là công giáo tính của Phúc âm).
2. Tìm lại những chiều kích
quan trọng và việc lý hội của Ðức Tin
Ðể góp phần vào việc xây dựng một nền thần học trong tương lai cần phải
nỗ lực thông hiểu lịch sử của văn hóa cũng như Kitô giáo. Ðó là công lao
đáng ghi nhận của E. Bisher khi ông thâu góp tài liệu phong phú để minh
định địa vị của Ðức Tin Kitô giáo. Theo ông, sự phát triển này không
phải chỉ là con đường dẫn tới chung cuộc Thời Mới của tư tưởng Âu Châu,
nhưng đồng thời cũng báo hiệu một khúc quanh mới trong tiến trình tục
hóa. E. Biser cho rằng Thời Mới không nhất thiết phải là sự biến mất của
tôn giáo, cũng như chỉ mù quáng theo tiếng kêu mới của nền kinh tế tân
tiến, hay ít quan tâm tới sự vong thân của nền kinh tế tân tiến, hay ít
quan tâm tới sự vong thân của lý trí. Thực ra tôn giáo vẫn còn tồn tại,
và hơn thế nữa còn thấm vào chiều sâu của con người hiện hữu. Chính vì
thế còn phải phát hiện hay phải minh định niềm tin của Kitô giáo đối với
con người. Ðể góp phần thực hiện công việc này, thần học đòi buộc phải
tự điều chỉnh hầu tái chiếm những lãnh vực đã mất hay đã bị dòng lịch sử
đẩy sang một bên. Sự điều chỉnh này gồm ba loại:
1. Thâu hồi hướng độ xã hội
tính của Kitô giáo và phản đối việc đồng hóa Kitô giáo quan tâm xã hội
với những mô hình hợp thức hóa của xã hội tân thời (núp dưới danh nghĩa
"civil religion")
2. Thâu hồi hướng độ
mỹ-tượng tính (Bildha-schone), chống lại những tuyên truyền thông điện
tử làm cuộc sống con người biến dần thành vô tri giác, chống lại một nền
văn hóa quá đặt nặng tri thức bám vào những con số và trắc lượng tính.
3. Canh tân thần học khai
tâm (mystagogische) để lướt thắng lối giải thích niềm tin chỉ chú trọng
tới luân lý hóa mà quên mất tính huyền nhiệm và thực tiễn của niềm tin.
3. Quan niệm một nền thần
học hậu duy lý
Tương tự như E. Biser, J. B. Metz đã dầy công khảo sát bệnh tình của
thời đại cũng như minh thuyết về thần học. Ông cho rằng qua những cơn
khủng hoảng báo hiệu chung kết của Thời Mới và từ đó chúng ta nhận ra
cần phải có một mô thức (paradigma) thần học mới. Thực vậy, trước hết
phải kể tới sự kiện là vũ trụ quan thuộc hình nhi thượng hay tôn giáo
siêu hình cũng như tất cả những hệ thống duy lý đã sụp đổ trong quá
trình hình thành phong trào Ánh Sáng. Sự suy sụp này cáo chung một đoạn
đường mà thần học tỏ ra vô tri (unschuld) đối với tri thức, lịch sử và
chính trị, vì trước những lời chất vấn của những người phê bình ý thức
hệ, thần học không thể rút về pháo đài bất khả công kích là siêu hình
học được nữa. Cuộc gây chiến thứ hai dẫn tới chung cuộc Thời Mới là kết
thúc một giai đoạn lịch sử lấy Âu Châu làm trung tâm (eurocentrische) và
hình thành một thế giới với bộ mặt văn hóa đa dạng và xã hội đầy đối
lập. Chính vì thế, xã hội ly tán, suy sụp trên toàn thế giới đã trở
thành mối quan tâm của giáo hội và của thần học. Nói cách khác, trong
hoàn cảnh mới này cần phải có một niềm tin thành hình trong mỗi mạch
sống xã hội và lịch sử; đó là bản vị hóa (Inculturation) theo tiêu chuẩn
"ưu tuyển tha nhân" và "ưu tuyển bần nhân", chống lại những cơ cấu phản
lại tinh thần Tin Mừng. Theo J.B. Metz chỉ có nền thần học hậu duy lý
mới giải quyết được những thách đố thời đại này. Nền thần học này cần
sẵn sàng chấp nhận những cơn khủng hoảng và dùng phương thế phi truyền
thống để cứu vớt truyền thống niềm tin Kitô giáo. Metz miêu thuật quá
trình thần học này như là một sự chuyển tiếp từ lập trường siêu nghiệm
và duy lý tới sự chú giải (Hermeneutik) chính trị tính của lịch sự. Lịch
sử này hình thành nhờ truyền đạt và thực tiễn. J.B.Metz đã diễn đạt nền
tảng nâng đỡ chương trình trên như sau: "Quan niệm về Thiên Chúa mà thần
học Kitô giáo đòi buộc, là một quan niệm thực tiển tự tại: quan niệm này
luôn đả thương, biến đổi những vụ lợi tiền chế chỉ thôi thúc tâm tư tự
vẽ ra hình ảnh Thiên Chúa. Bởi đó những đoạn Thánh Kinh lịch sử nói về
việc hối cải, sự giải phóng, đột khởi (Aufbruch), phản kháng và nỗi đau
khổ không thể hiểu theo quan niệm thuần lý về Thiên Chúa mà sau này thêu
dệt thêm vào. Trái lại, quan niệm Thiên Chúa mà thần học Kitô giáo
truyền lại phải được coi là "chữ tốc ký" (stenogramm) mà mọi quan niệm
thần học phải quy hướng, phát hiện và giải thích". Thần học hậu duy lý
hình thành câu hỏi về Thiên Chúa sau biến cố xẩy ra ở trại tập trung
Auschwitz là một "thần lý học chính trị" (politische Theodizee). Thần
học này đặt niềm hy vọng trong công lý phổ quát. Kitô giáo tin rằng
trước mặt Thiên Chúa sự đau khổ mà con người đã trải qua không biến tan
vào vực thẳm tiến hóa vô danh, nhưng là những bảo chứng khẳng định chủ
thể khả tồn (sujektsein-konnen) bất diệt của con người trong cuộc tranh
đấu khốc liệt không ngừng. Nơi nào cuộc sống xã hội con người hoàn toàn
bị đà tiến hóa vô danh (subjeklos) huyễn hoặc lôi kéo, nơi đó không quan
tâm tới Công lý cũng theo đó mà biến mất, kéo theo những kẻ hy sinh và
những người chiến bại trong lịch sử.
III. Thời Ðại Chớp Nhoáng:
Thần học và ý thức thời gian của Hậu Hiện Ðại
Tiễn đưa thời Hiện Ðại là một cuộc tiễn đưa lâu dài. Nếu chúng ta tiễn
chân ai tức là chúng ta chưa rời người đó, vì chúng ta còn đang đi với
họ. Những quan điểm của các nhà thần học được phát họa ở trên đều chứng
minh rằng họ mới cất bước đi vào thời Hậu Hiện Ðại. Mặc dù nhiều nhà phê
bình cho rằng trạng thái manh nha này còn lâu mới đạt tới được cao trào,
nhưng có lẽ chính những lời phê bình hà khắc như thế đã công nhận quá
trình đang tiến về Hậu Hiện Ðại, đồng thời cũng không quên thời Hiện Ðại
còn đang tồn tại. Thực vậy, thực sự sống trong giao thời là nhận thức
mối liên quan giữa hai thời đại này (Hiện Ðại và Hậu Hiện Ðại). Thời
gian vẫn lững trôi. Hay nói đúng hơn: văn hóa nuôi dưỡng ý thức về thời
gian và những hình thức xã hội thay đổi nương theo thời gian tính và
hình thành hiện tại, quá khứ và tương lai, vẫn tiếp diễn. Khi vấn đề hóa
tương quan này, thần học có thể góp phần để tự soi chiếu mình ý thức về
hành trình tục hóa hiện tại cũng như về tôn giáo. Bởi thế, tương giao
hóa giữa lý trí và niềm tin trong tương lai là vừa khám phá ra dấu chỉ
thời gian của đời sống xã hội. Cuối cùng, mô hình thần học Hậu Hiện Ðại
phải phản tỉnh phạm trù thời gian, vì dù là hiện đại hay hậu hiện đại
chúng đều ẩn tàng ý nghĩa thời gian. Thần học hiểu thời gian như "thời
cơ ơn thánh" (Kairos), nghĩa là lịch sử do Thiên Chúa khởi dụng, do Ngài
hướng dẫn tới viên mãn bằng cách cho con người góp phần đưa nó tới thành
toàn, khác hẳn với quan niệm về thời gian theo lượng số, dù trực chỉ
trương khai như thuyết tiến hóa hay tuần hoàn phát triển, hoặc cảm thấy
thời gian bị cá nhân hóa trong cuộc sống lịch sử như biện chứng pháp.
Thời gian theo quan niệm thần học là những biến cố của tại hữu (Dasein)
mang tính chất độc nhất vô nhị, tự do và chung định (endgultig) trước
mặt Thiên Chúa. Bắt mạch thời gian theo quan niệm siêu nhiên này, sẽ
thấy nó xuyên qua những hoàn cảnh xã hội đặc thù khác nhau, hiển hiện
trong mô thức thời gian (zeit modi) như trong quá khứ, hiện tại và tương
lai dẫn tới một thần học coi trọng việc phân tích xã hội. Thần học cần
thực thi cả việc bắt mạch thời gian lẫn công cuộc phân tích xã hội để
nhận ra những chiều hướng thay đổi tiên báo thời Hậu Hiên Ðại.
1. Tương lai bất định
Ðặc tính nói rõ xã hội hiện đại là "tăng gia" sản xuất, cặn bã, chế
biến, lợi tức...). Người ta mong muốn không phải chỉ là tiến triển nhưng
là gia tốc hóa. Thời đại chúng ta sống thường lấy "phá kỷ lục" làm tiêu
chuẩn để cố gắng. Tuy nhiên, càng tích cực nhắm tới vượt mức thì đàng
khác tiêu cực cũng càng xa lầy nhanh hơn. Trong khi đó phần đông chỉ
nhận ra mức tiêu cực vì họ đòi hỏi hướng tích cực quá nhiều. Rõ ràng
nhất là cơn khủng hoảng môi sinh nói lên hậu quả kinh khủng của việc bóc
lột và phá hoại hoàn cảnh thiên nhiên. Theo gia tốc không thắng, quá khứ
biến nhanh để nhường lại cho hiện tại quyết định và hành động. Như vậy
cơ hội diễn dịch, nhờ cái đã biết để suy ra cái chưa biết, ngày càng
giảm thiểu. Một khi cơ hội học hỏi để cải thiện càng ít đi thì ngược lại
nỗi lo sợ khi chạm trán với tương lai càng đè nặng trên chính trường
hiện thời: làm sao lấy hiện tại qua vùn vụt phóng chiếu vào tương lai
được? Nói cách khác, lượng số khoa học và kỹ thuật thành đạt biến đổi xã
hội càng nhanh bao nhiêu thì sự tiên đoán về mực sống càng khó khăn bấy
nhiêu. Sự phát triển này ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng tới cá nhân
trong giai đoạn chọn nghề hay hướng nghiệp: thời này tốt nghiệp các
trường đào tạo luôn có cảm tưởng là chưa đạt tới mức đòi buộc để dễ kiếm
công việc. Thêm vào đó, chương trình đòi hỏi học tập để ứng dụng trong
tương lai, nhưng nhiều khi vừa học xong, tốt nghiệp viên đã cảm thấy cái
học của mình bị đào thải rồi. Các chức nghiệp không phải là thiếu học
nhưng thiếu tu nghiệp thường xuyên nên họ phải chấp nhận việc làm trong
phạm vi xa lạ với trình độ họ được huấn luyện. trong tiến trình gia tăng
kiến thức nói chung, kiến thức về kỹ thuật và kinh tế trổi vượt hơn cả,
chúng cũng là những phạm vi biến đổi nền văn minh nhiều nhất, dầu vậy sự
gia tăng kiến thức trên nguyên tắc không thể lường trước được, tất nhiên
chúng cũng chỉ càng đẩy mạnh đà tiến bất định ấy thôi. "Khoa học hóa nền
văn minh của chúng ta, nếu không tăng gia bảo đảm phương hướng thì nhìn
vào tương lai chỉ càng giảm thiểu sự bảo đảm đó mà thôi". Nói cách khác,
sự tiến triển về khoa học, kỹ thuật và sản xuất ảnh hưởng tới cường độ
đổi mới và tốc độ điều hành trong mọi lãnh vực trong cuộc sống xã hội.
Con người hiện đại thay vì học biết và mở mang kiến thức để cảm thấy
được bảo đảm hơn, ngược lại càng cảm thấy thế giới xa lạ và bất khả thấu
triệt. "Ngày nay những điều đã quen thuộc biến mất quá nhanh, trong khi
thế giới tương lai ẩn hiện với những bộ mặt xa lạ. Sống trong thế giới
khác lạ này, con người cảm thấy đang xa lìa thế giới". Con người hiện
đại biết nhiều hơn, nhưng không khôn hơn. nhìn theo khía cạnh này, một
cuộc thay ngôi đổi vị đang diễn ra: thay vì hoài nghi tôn giáo làm con
người sống xa lạ với thế giới, như khoa học thường nghĩ, bây giờ chính
khoa học đã bị phê bình là tha hóa con người. Trong lúc này, Kitô giáo
được dịp may nhắc nhớ những điều còn lại, những điều luôn tái diễn,
những điều mà con người không thể đạt tới được. Niềm tin công bố những
điều này chiếu qua những hình ảnh về sáng tạo và thế mạt, về lời hứa và
sự thực thi lời hứa, về tội lỗi và sự tha thứ. Như thế niềm tin chống
lại khuynh hướng đồ vật hóa (Verdinglichung) và phi lịch sử hóa thực
thể. Những đoạn Thánh Kinh bị cho là mang tính cách huyền thoại như sáng
thế, con người sa ngã và bị đuổi khỏi địa đàng lại đang lột rõ bộ mặt
hiện thực của con người. Thánh Kinh kể lại con người nhận lãnh đời sống
chứ không tạo ra nó. Thánh Kinh cũng nói rõ con người muốn tạo cho mình
ý nghĩa cuộc sống, thì ý nghĩa đó cũng sẽ mau qua như con người vậy.
Thánh Kinh cũng khuyến cáo con người trước ảo ảnh là muốn loại bỏ tội ác
ra khỏi thế giới và phòng ngừa ảo vọng là muốn viên mãn hóa nhân bản
trong lịch sử nội tại. Trong một thời đại nhận thức về con người trở
thành hời hợt, vì ta chỉ nhìn thấy đồ vật và con người... hiện đại loáng
thoáng biến vào quá khứ như hành khách trên xe lửa ngồi quay lưng về
phía trước: tức chỉ nhận ra chân tướng khi đã qua, thì những truyền
thống trên giáp mặt với hiện tại qua bao những bóng hình sơ khởi mà hiện
tại càng muốn chối bỏ bao nhiêu thì càng khó ly thoát bấy nhiêu. Niềm
tin Kitô giáo nhắc nhở con người biết rằng những gì con người không thể
thoát ly được, thì nó cũng đồng tiến với con người.
2. Nhu cầu quá khứ
Trong thời thần tốc, con người thời đại bước vào một thế giới bất phân
minh giữa quá khứ, hiện tại hay tương lai. Bởi đó những nhận định hướng
quen thuộc và khả thể tiên đoán biến dần trong hầu hết mọi lãnh vực cuộc
sống. Nhưng qua kinh nghiệm trên, con người mới phát giác nhu cầu tìm
lại một thực tại quen thuộc, vì nếu không có nó, con người không thể
đương đầu được với những thay đổi dồn dập thường xuyên. Hoạt cảnh thỏa
mãn nhu cầu này gây cho chúng ta một ấn tượng sâu sắc: di truyền văn hóa
được bảo tồn kỹ lưỡng trong bảo tàng viện, trong văn khố, để rồi thỉnh
thoảng trong những dịp quốc lễ lại được trưng bày long trọng. Ở Ðức
trong những thành phố nào không có những kiến trúc lịch sử để sửa sang
tu bổ thì họ lại tim cách xây dựng lại những dấu tích lịch sử đã bị xóa
mất. Cả trong giới tư nhân cũng có khuynh hướng hoài cổ tương tự: người
ta trang hoàng lại những đồ cổ xa xưa, treo lại những di ảnh của của ông
bà tổ tiên. Thời đại càng tân tiến bao nhiêu càng khó tránh được sự cổ
hóa. Tuy nhiên cổ hóa cũng có cái hay của nó, vì trong ý nghĩa lịch sử
hầu như không có gì thay đổi ngoài những gì đang tân thời sẽ trở thành
cổ xưa. Vận tốc làm cho những gì đã cũ thành cũ hơn, dầu vậy tốc độ cổ
hóa sẽ giảm bớt nhiều khi chúng tách khỏi bước tiến dồn dập của thời
đại. Chỉ khi chúng trở thành "cổ điển", chúng sẽ được bảo tồn trong ngôi
vị vô thời gian tính. Chung cuộc của thời hiện đại là khả thể cổ hóa dứt
khoát. Sự mâu thuẫn của thời hiện đại là chính những cái mới dễ trở
thành nhàm chán.
Những hình thức nguyên ủy
cảm nhận vũ trụ toàn diện trong đó phải kể tới các truyền thống tôn giáo
không thể bị coi là phi tân thời hay bị đào thải. Chúng trở thành những
đồn trú cần thiết chống lại hình thái thế giới được giải thích theo cách
mổ xẻ phân tích của khoa học kỹ thuật. Niềm tin Kitô giáo luôn tự cảnh
tỉnh để ý thức rằng con người không thể tồn tại, bao lâu những thao thức
về nguồn gốc và ý nghĩa toàn thể chưa được giải đáp trong Phúc Âm về
những vấn nạn thắc mắc cuộc đời từ đâu sẽ tới và sẽ đi về đâu, có thể
giúp con người đương đầu với cuộc sống trong một thế giới trở thành quá
phức tạp, quá rắc rối và mờ mịt, đồng thời hướng dẫn con người tìm theo
dấu vết của Siêu Việt mà trong cuộc sống nội thế thường quá thiếu hụt.
Trong ý nghĩa này, niềm tin Kitô giáo cống hiến những gì con người thời
đại thiếu sót, cả những khi họ tưởng rằng họ có tất cả.
3. Lạm phát hiện tại
Mực thước duy lý hóa kỹ thuật của thời Hiện Ðại là giảm thiểu thời gian
trong mọi hoạt động như sản xuất, trao hàng tồn kho. Trong mọi lãnh vực
cuộc sống xã hội, khoảng cách giữa sản xuất và tiêu thụ được thu ngắn để
đạt tới mức "hiệu quả tức khắc" (Instant Effeckt); quảng cáo hàng không
thể thiếu được lời nhắn nhủ: "phục vụ nhanh chóng". Người hành nghề
trong giờ nghỉ trưa tìm một "quán ăn nhanh" để rút ngắn khoảnh khắc giữa
gọi-và-trao đồ ăn, cũng như việc ăn uống. Nếu ban chiều đi làmvề phải
nấu nướng, họ đã có những món-ăn-làm-sẵn, chỉ cần "đổ vào, quấy lên" là
xong bữa ăn. "Hiệu quả tức khắc" này làm cho người tiêu thụ dễ mua sắm
nhiều hơn (nay mua, mai trả), nhưng chính vì vậy kinh tế tín dụng càng
tiến nhanh, thì khách hàng càng dễ trở thành những con nợ chung thân.
Phương tiện thúc đẩy "văn hóa chớp nhoáng" này là điện tử truyền thông.
Ðiện tử truyền đạt chớp nhoáng tới độ giữa biến cố và báo cáo, giữa
phát-và-thu, dù ở chỗ nào trên thế giới, hầu như trở thành đồng thời
tính. Trong những đại hội thể thao hay hội nghị thượng đỉnh chính trị
người xem TV có thể tham dự trực tiếp được. Tốc độ thu ngắn quá trình,
giảm thiểu thời gian; mục đích là để con người có nhiều thời giờ hơn, có
dịp học hỏi nhiều hơn bất cứ bộ môn nào, mà không bị thời-không (gian)
ngăn cản.
Nhưng mục đích chiếm hữu
thời gian này lại đưa tới một hậu quả nghịch lý: thời gian tiết kiệm
được lại không được tự do dùng, vì con người bị thúc bách dùng thời gian
tiết kiệm đó để tiếp tục tiết kiệm thời gian thêm nữa. Kết quả nền văn
minh hiện nay là: con người tân tiến nhận được tất cả trong chớp nhoáng,
nhưng lại không có thời giờ, hay không biết thời giờ tiêu hao về đâu! Họ
sản xuất thật nhiều, nhưng không bao giờ đủ. Tất cả trở thành hiện tại,
họ không còn chờ đợi gì nữa. Nhưng tính trạng này cũng là động lực bí
mật thúc đẩy con người càng chớp nhoáng hóa cuộc sống. Con người muốn
vượt thời gian tự nhiên, chôn vùi quá khứ, nhưng hành động như thế lại
làm cho con người băn khoăn trước ý nghĩa hành động của mình. Cướp giật
thời gian đã trở thành một "bí quyết" để giải quyết ý nghĩa cuộc đời.
Dầu vậy, đó chỉ là một công việc vô vọng, vì ý nghĩa mà con người dù cố
gắng tới đâu đi nữa, tự gán ghép cho cuộc sống mình, sẽ qua đi nhanh như
con người, như những thời gian họ nhọc công tiết kiệm được. Bởi đó không
lạ gì khi ngày nay người ta nghe những giọng điệu bệnh tật lan tràn khắp
nơi: tận thế rồi! Niềm tin Kitô giáo nói tới ngày cánh chung, thời viên
mãn có một ý nghĩa khác hẳn: không phải kết thúc tại hữu (Zu-ende-Sein
des aseins), nhưng tồn hữu dưới hình dạng không thể già nua, không đào
thải được nữa.