|
GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN PIÔ X ĐÀ LẠT (Trích từ tác phẩm "Viện Đại Học Đà Lạt giữa ḷng dân tộc Việt Nam) Gs. Đỗ Hữu Nghiêm Quá tŕnh phát triển Phân Khoa Thần học, do Ban Giảng Huấn Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X phụ trách, sẽ bắt đầu thực sự từ niên khóa 1975-76. Thực thế, theo kư ức của người tham gia điều hành Trường Văn Khoa VĐHĐL, đến năm 1974, khi có sắc chỉ của Ṭa Thánh, sát nhập khoa Thần học của Giáo Hoàng Học viện vào Viện Đại học Đà lạt, th́ những người có trách nhiệm liên hệ bắt đầu thực thi những dự phóng đă nung nấu, ḍ dẫm, thử nghiệm, thảo luận, đúc kết các vấn đề liên quan từ lâu, để thi hành qua thời gian[167].
Vị Khoa Trưởng Khoa Thần Học đầu tiên là LM San Pedro, STD, Tiến Sĩ Thần Học, SJ. Sau khi rời Việt Nam, ngài làm Phó GM giáo phận Houston-Gaveston, TX, trước khi được bổ nhiệm làm GM giáo phận Brownsville, TX.
Biểu 14. Sơ Đồ Cơ Cấu Quản Trị Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt
Từ năm 1957, các Giám Mục trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam muốn xây dựng một hàng giáo sĩ bản quốc có giàu khả năng trí thức và đạo đức đă thỉnh cầu Bộ Truyền giáo thiết lập một Học Viện Giáo Hoàng ở tŕnh độ đại học. Ṭa Thánh chấp nhận và đă trao công việc cho các linh mục tu sĩ Ḍng Tên. Ngày 13/9/1958, một số linh mục Ḍng Tên đă xúc tiến công cuộc thành lập Học viện trên cơ sở tạm thời ở ngon đồi B của Viện Đại Học Đà Lạt, gần trường Trung học Trần Hưng Đạo, trước khi chuyển đến cơ sở chính thức ở địa điểm hiện nay.
Công tŕnh được khởi đầu xây dựng từ năm 1961, và từ niên khóa 1963-64 đă bắt đầu sinh hoạt cho đến năm 1978. Cơ sở được một kiến trúc sư người Việt, Ông Tô Công Văn, mặc dù có người đặt nghi vấn[168] là phải chăng Kiến trúc sư Ngô viết Thụ vẽ kiểu và đôn đốc xây dựng, thực hiện đồ án kiến trúc này, phù hợp với môi trường đào tạo, điều kiện chất lượng và tiện nghi cấp trung ương của Ṭa Thánh tại Việt Nam.
Cơ sở học viện mới có một khuôn viên rộng gần 8 mẫu tây, tọa lạc trên một sườn đồi nên thơ trên đường Phù Đồng Thiên Vương, quay ra đồi cù thơ mộng tiếp nối với Trường Trung Học Bùi Thị Xuân và Viện Đại Học Đà Lạt, được thường xuyên che bóng dưới tán lá xanh mướt của rừng thông.
Ngày 24/4/1964, Đức Ông Francesco de Nittis, thay mặt Khâm Sứ Toà Thánh tại Việt Nam, cùng HĐGMVN, chính thức khánh thành cơ sở mới với các tiện nghi thích hợp cho việc đào tạo các chủng sinh.
Sau mấy năm đào tạo về Triết học, ngày 31/7/1965, chương tŕnh thần học mới bắt đầu tại cở sở mang tên chính thức là Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X, Đà Lạt. Tiếp theo đó, Ṭa Thánh qua Bộ Truyền giáo, cho phép khoa này liên kết với VĐHĐL.
Biểu 15. Các Viện Trưởng Giáo Hoàng Học Viện
Thực tế giáo tŕnh thần học đă bắt đầu có từ niên khóa 1963-64, nhưng xử dụng cho nội bộ của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, như một chủng viện giáo hoàng do các Linh Mục Ḍng Tên quản nhiệm.
Cho đến trước 30/4/1975 Học Viện đă thu nhận 450 sinh viên chủng sinh triết thần học theo những học chế khác nhau. Đă có 245 Chủng Tu Sinh thuộc nhiều giáo phận và ḍng tu địa phương thụ phong linh mục, trong đó một số chủng sinh từ các giáo phận nước ngoài như Lào và Kampuchia. Có tài liệu đưa ra con số 112 chủng sinh giáo phận và 63 tu sinh ḍng được thu phong Linh Mục. Trong khi linh mục F. Gomez đưa ra con số ít nhất l à 350 chủng sinh theo học, trong đó có 178 linh mục v à 10 giám mục (F. Gomex, SJ: Lịch Sử Tóm Tắt Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt, www.dunglac.net )
Ban Giảng huấn Ban giảng huấn, gồm hơn năm mươi giáo sư thuộc khoảng 10 quốc tịch khác nhau. Ngoài những vị giáo sư cơ hữu, cũng có nhiều GS thỉnh giảng đến từ các các cơ sở quốc tế, như Sophia University, ở Tokyo bên Nhật, Institut Catholique từ Paris, Pháp, Fujen Catholic University ở Đài Loan, Gregoriana ở Roma, Ư Đại Lợi.
Hai GS Trung Hoa thuộc Ḍng Tên là Linh Mục Joseph Chen Chung Ling và Matthias Chen Van Dzu khi giảng bài, hay nhắc đến Kiến Trúc Sư Tô Công Văn, có thể đề cao tinh thần dân tộc của người Việt Nam.
Ban Giảng Huấn Mục đích của việc đào tạo Qua nhiều phiên thảo luận giữa hai cơ quan, Viện Đại Học và Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X đă thảo luận về phương thức liên kết và được các chức trách đôi bên phê chuẩn. Thư của Đức Phaolô VI gửi HĐGMVN ngày 15/9/1966, có đoạn viết:
“Cuộc thành lập Khoa Thần Học tại Học Viện Giáo Hoàng Thánh Piô X Đà Lạt trong thời gian sau Công Đồng sẽ khuyến khích tất cả mọi người có thiện chí, dấn thân hoàn thành lời Thánh Phaolô “Hăy thực thi chân lư trong đức ái” (Eph., 4, 5). Khoa Thần Học sẽ là điểm gặp gỡ giữa tinh thần Tin Mừng và di sản triết học và tôn giáo phong phú của dân tộc Việt Nam.”
Học Viện có mục đích đào tạo các linh mục với qui mô sâu sắc hơn về trí thức và tu đức. Các tuyển sinh theo học ở đây là các chủng sinh được chọn từ khắp các giáo phận miền Nam, và một vài chủng sinh từ Kampuchia và Lào.
Với tư cách một phân khoa của VĐHĐL, khi ra trường, sinh viên sẽ được cấp bằng Cử Nhân Thần Học, nếu đạt các chỉ tiêu học vấn và thi cử qui định. Những ai muốn dọn Tiến Sĩ Thần Học th́ mới tiếp tục theo học cao hơn. Chương tŕnh giáo dục theo tiêu chuẩn của một Học Viện Giáo Hoàng, v́ hầu hết nhân viên ban giảng huần là các giáo sư danh tiếng có khả năng chuyên môn cao của nhiều cơ sở đại học quốc tế trong và ngoài Giáo hội. Chương tŕnh huấn luyện của Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt Chương tŕnh dự kiến gồm 8 năm chứ không phải 6 năm, như nhiều chủng viện khác. Chưa kể đi thực tập mục vụ dài hạn, (hay đi giúp xứ), có giáo phận 1 năm, có giáo phận 2 năm chẳng hạn như Long Xuyên. Thời gian đầu được chia ra như sau: * 1 năm dự bị. * 3 năm triết học. * 4 năm thần học. Thời gian sau được đổi thành: * 3 năm triết học và có thể là 4 năm. * 5 năm thần học.
Sở dĩ như vậy, v́ muốn theo đúng qui chế phân khoa thần học của Roma. Đồng thời về triết học, th́ sẽ theo học ở bên Viện Đại Học Đà Lạt. Cụ thể là khoảng 1973-1975 các đại chủng sinh Ban Triết Học đă sang học bên Viện Đại Học. Lúc bấy giờ đă có được sự thỏa thuận giữa Giáo Hoàng Học Viện và Viện Đại Học Đà Lạt. Các đại chủng sinh sẽ học triết học ở Viện Đại Học, c̣n Phân Khoa Thần Học của Giáo Hoàng Học Viện sẽ mở rộng và trở thành một Phân Khoa chính thức của Viện Đại Học.
Công Tác Nghiên Cứu Trong Quá Tŕnh Học Hỏi Các giáo sư và sinh viên c̣n coi học viện như một phân khoa thần học độc đáo ở Việt Nam. V́ thế học viện nghiên cứu một nền thần học mang sắc thái Việt Nam theo nhận thức hội nhập văn hóa. Dưới hướng dẫn của linh mục Felipe Gomez, SJ, toàn bộ văn kiện của Công Đồng Vatican II đă được dịch thuật sang tiếng Việt và ấn hành thành sách trước 30/4/1975.và có thêm phần chú giải công phu.
Ngoài ra học viện c̣n xuất bản tap chí Tuyển Tập Thần Học gồm những suy nghĩ và nghiên cứu thần học của các giáo sư và sinh viên. Nhiều tác phẩm của Linh mục Drexel cũng được chuyển dịch sang tiếng Việt.
Cuối cùng là Từ Điển Thần Học của Xavier Dufour đang được phiên dịch th́ t́nh h́nh đất nước thay đổi. Nhưng sau năm 1975, dưới chế độ mới tác phẩm này đă được ấn hành và người viết đă chứng kiến bộ tự điển này có bày bán ở nhà sách dưới tầng trệt của Ṭa TGM Sàig̣n.
Tất cả những công tŕnh đó đều là những nỗ lực vừa học vừa nghiên cứu, giúp làm sâu rộng kiến thức của chủng sinh. Chính đó là một hành động hội nhập văn hóa xây dựng một nền thần học mang sắc thái Việt Nam. Vài nét về nội dung đào tạo của GHHV Giáo tŕnh thần học này chủ yếu là đào tạo các chủng tu sinh. Tuy theo nguyên tắc giáo dân có thể tham gia, nhưng chưa có trong thực tế, v́ việc quan hệ giữa Học Viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt và Viện Đại Học Đà Lạt có nhiều phức tạp chưa giải quyết xong v́ t́nh h́nh xă hội. Hơn nữa điều kiện để giáo dân tham gia có nhiều yếu tố cần cân nhắc, kể cả chủ quan và khách quan. Thực tế chu kỳ tám năm đào tạo có thể diễn ra như sau.
1. Giáo tŕnh bốn năm triết học. Các chủng sinh phải học sáu bộ môn chính của triết học kinh viện theo truyền thống từ lâu ở các đại chủng viện của Giáo Hội Côn giáo: Luận Lư Học; Hữu Thể Học; Đạo Đức Học; Tâm Lư Học; Vũ Trụ Học; Thần Học Tự Nhiên. Ngoài ra chủng sinh c̣n phải học một số bộ môn khác về triết sử.
2. Khẩu Vấn De Universa: Cửa ngơ vào thần học Sau bốn năm triết học, các chủng sinh phải qua một cuộc sát hạch khẩu vấn Về Kiến thức tổng quát, gọi là De Universa. Các chủng sinh phải trải qua một cuộc thi hỏi đáp bằng tiếng La Tinh hay Tiếng Pháp. a. Ban thẩm vấn có năm giáo sư giám khảo và mỗi giám khảo đặt một câu hỏi. Thí sinh phải trả lời xuất sắc mỗi câu hỏi đó mới đạt tiêu chuẩn, nghĩa là phải được điểm trung b́nh là 6/10 và được ít nhất là ba giám khảo cho điểm 6/10 trở lên. Như thế một thí sinh có hai giám khảo cho điểm 9/10, nhưng có ba vị chỉ cho điểm 5/10, th́ thí sinh vẫn không được chấm đậu, dù [(2x 9) =18; (3x5)=15; (15+18): 5= 6,6] đă được 6,6/10 trên trung b́nh cộng tổng điểm của 5 môn vấn đáp.
b. Một điều kiện nữa là khi đă thi vấn đáp đạt kết quả tốt, th́ các điểm học về mỗi môn của bản thân thí sinh trong bốn năm học triết trước đó, phải được điểm trung b́nh. Nếu không đủ điều kiện vượt qua cuộc khẩu vấn De Universa, th́ chủng sinh vẫn được theo học bốn năm thần học, nhưng không đủ điều kiện để được cấp văn bằng Cử Nhân Thần Học sau khi tốt nghiệp.
3. Học hỏi bằng thảo luận, đối thoại Trong khi học thần học, để củng cố đức tin trong việc t́m hiểu các tôn giáo khác bằng phương pháp đối thoại, các chủng sinh cũng được tiếp xúc thẳng với các vị chức sắc tôn giáo khác để thảo luận, đối thoại. Cụ thể là trong một khóa học bốn năm thần học, Thượng Tọa Phật Giáo Thích Minh Châu của Viện Đại Học Vạn Hạnh được mời lên tŕnh bày một số vấn đề cơ bản nhất của Phật Giáo và tiếp xúc đối thoại với sinh viên, nhưng hôm đó, Thượng Tọa Thích Minh Châu bận Phật sự, nên cử Thượng Tọa Thích Quảng Độ lên Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt thay thế. Hai câu hỏi được đặt ra cho Thương Tọa là: Thuyết cấm sát sinh của nhà Phật không thể thi hành tuyệt đối được. Người ta không thể không uống nước. Thế mà ngay trong nước lă thường, đă có không biết bao nhiêu vi sinh vật trong nước. Uống vào là sát sinh rồi? Câu hỏi về thuyết luân hồi: Phật Giáo giải thích thế nào về dân số học. Mỗi năm dân số mới cao hơn, và v́ thế cơi nhân sinh mỗi năm mỗi tăng thêm. Vậy có phải là nhiều thú vật sống lanh hơn và thăng tiến chức năng? Trong buổi kết thúc khóa đối thoại liên tôn TT/ TQĐ đă phát biểu mấy ư. Trước khi tin rằng đó là phát biểu từ tâm thành của Thượng Tọa Thích Quảng Độ, b́nh thường các độc giả nghĩ rằng những ư tưởng phát biểu dưới đây chỉ mang tính xă giao. 1.“Chưa bao giờ tôi gặp một nhóm sinh viên xuất sắc và lịch lăm như thế trong đời” 2.“Những câu hỏi đặt ra rất tốt cho cuộc đối thoại liên tôn trong tương lai” 3.“Phải rất lâu nữa Phật Giáo mới chuẩn bị được một lớp người tương lai như vậy” 4.“Nếu ở thêm một tuần nữa nghe các chủng sinh đặt thêm câu hỏi, th́ chắc tôi sẽ theo Công giáo luôn” Các phát biểu trong bối cảnh kết thúc một cuộc đối thoại của một vị Thượng Tọa như Thích Quảng Độ không thể lột tả sự chân thành qua lời phát biểu bên ngoài đúng như tấm ḷng của chính người đối thoại. Câu 1 là một cách tán tụng thuần túy thông thường đối với rất nhiều đối tác xă giao. Và câu 2 là một câu bông đùa cho vui hơn là thực chất, nhưng cũng có thể có nhiều hàm ư khác. Câu 3 dường như nói để có đối thoại, nhưng kết quả của cuộc đối thoại đó hầu như sẽ chẳng giải quyết ǵ cả ngoài một thái độ ḥa hoăn khoan dung, v́ không ai giải thích cặn kẽ được những vấn đề đặt ra cho nièm tin của mỗi tôn giáo, mỗi tín ngưỡng, mỗi con người. V́ thế “đường anh đi anh cứ đi, và đường tôi đi, tôi cứ đi”. Trong câu 4, chắc chắn về phương diện đào tạo, phải rất lâu nữa Phật Giáo mới chuẩn bị được một lớp người tương lai như trong một chủng viện Công giáo. Nhưng có thể không bao giờ có một lớp người như thế trong Phật giáo, v́ mỗi tôn giáo có những sắc thái môi trường riêng biệt mà tôn giáo khác không có. Chính người viết cũng có lần được linh mục Dominici (Đỗ Minh Trí) mời thuyết tŕnh cho các sinh viên thần học thuộc Giáo Hoàng Học Viện Piô X đề tài về “Phương pháp truyền giáo hội nhập văn hóa của linh mục Đắc Lộ”. Tài liệu căn bản người viết xử dụng là Luận Án Tiến Sĩ của Linh mục Đỗ Quang Chính SJ viết về Linh mục Đắc Lộ. Linh mục Dominici là một người tham dự rất đếu đặn chăm chỉ các lớp người giảng dậy về lịch sử và Văn Minh Việt Nam cho các sinh viên của Trường Văn Khoa để học biết thêm về lịch sử và văn minh văn hóa Việt Nam. Linh mục tha thiết với đất nước và dân tộc Việt Nam đến nỗi muốn trở nên Việt Nam với người Việt Nam. Về sau, người viết được biết khi ra nước ngoài, Linh mục Dominici đă từng nhiều năm phục vụ và viết nhiều sách báo và hành động cụ thể bênh vựcngười Việt Nam và ca ngợi văn hóa và tinh thần dũng cảm của ngườiViệt Nam khi làm việc tại các trại tạm cư ở Palawan (Phi Luật Tân), Galang (Nam Dương). Các chủng sinh cũng được ra ngoài tham gia những cuộc tranh luận, như về vấn đề hạn chế sinh sản ở KS Palace, Đà Lạt, do chính GS Phó Bá Long tổ chức với tài trợ hoàn toàn của Mỹ. Nhiều thuyết tŕnh viên khác như các học giả, các Giám mục, Linh Mục chuyên môn cũng được mời đến trao đổi với chủng sinh. Nhà văn Duyên Anh nói về giáo dục tuổi trẻ, nhà văn Hoàng Xuân Việt nói về thái độ cởi mở biết lắng nghe những người nói khác ư ḿnh. Có những cuộc thăm viếng đặc biệt đến GHHV của các nhân vật nổi tiếng như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967), và Bề Trên Cả Arrupe Ḍng Tên đến VN và đến GHHV (1968).
Thực tập mục vụ Ngoài chương tŕnh học tập chủng sinh cũng được thực tập mục vụ ngoại khóa bằng nhưng cuộc thăm viếng thực địa, thăm bệnh viện, lao xá, hướng dẫn giáo lư ở các trường trung tiểu học, hướng dẫn JUC, Hùng Tâm Dũng Chí, Thiếu Nhi Thánh Thể, giúp các nhóm trẻ em bụi đời cao bồi vùng Đà Lạt. Nhưng biến cố 30/4/1975 đă chặn đứng tất cả mọi dự tính.
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|