LINH MỤC PAUL DESLIERRES D̉NG TÊN: HỒI ỨC MỘT SỐ SỰ KIỆN LỊCH SỬ CHUNG QUANH GHHV THÁNH PIÔ X ĐÀ LẠT, VIỆT NAM (1958 – 1975)

Ḥa Giang Đỗ Hữu Nghiêm
biên khảo tổng hợp

I. Như Bóng Ngựa Bay Ngang Cửa Sổ

1. Ngày 29/4/1975, Bộ đội miền Bắc chiếm Sài g̣n. Nuớc Việt được tái thống nhất, trở thành một nước cộng ḥa xă hội chủ nghĩa cộng sản. Hàng nhiều ngh́n người Việt Nam, trong đó một triệu người Công giáo – đă từ miền Bắc vào, năm 1954 , nhờ Hiệp Định Genève cho phép, trong sáu tháng, được vượt qua vĩ tuyến 17, nhằm đoàn tụ các gia đ́nh.

   Người Công giáo, từng hiểu rất rơ các lănh tụ đỏ, nên tất cả đă bỏ miền Bắc xuống miền Nam. Họ được Tổng thống Diệm quảng đại tiếp nhận. Chỉ có một ngh́n người [nguồn tin sau này nói đến 100.000 người, trong đó có bộ đội, cán bộ, và nhân viên ṇng cốt dược bố trí huấn luyện để xâm nhập miền Nam] cư dân miền Nam trở ra Bắc. Nhiều xứ đạo, với các linh mục, giám mục của họ, với các nữ tu, đă hy sinh tất cả, để được tự do thực hành đức tin của họ và giáo dục con cái họ, để làm lại cuộc đời họ ở miền Nam.

   Chính trong năm 1975, một tấn kịch chưa từng thấy, có một tầm vóc rộng lớn như thế, gần một triệu thuyền nhân (boat people) đă vượt biển trên những chiếc tàu may rủi. Người ta bảo rằng có chừng 100.000 người [có lẽ hơn thế nhiều, có nguồn tin nói, cứ một sống, th́ một chết] đă chết tất tưởi trên biển! Tại Miền Nam, ít lâu sau "Giải Phóng", có nhiều trại "cải tạo" được dựng lên thêm cho tất cả mọi loại người [từ Nam ra Bắc: các sĩ quan, các quan chức hành chính và lâp, tư pháp] nhất là các nhà trí thức cũ và các nhân viên t́nh báo làm việc của chế độ cũ, tất cả các linh mục và các chủng sinh, các nam nữ tu sĩ!

2. Vừa được bốn tháng, sau khi Giải Phóng, tất cả các nhà truyền giáo ngoại quốc ở Đà Lạt được triệu tập đến đinh viên thống đốc, để biết là tất cả họ sẽ phải rời xứ sở trong thời hạn ba ngày. Tất cả đều bị trục xuất. Các công việc của [các linh mục tu sĩ ḍng Tên] không được cần thiết nữa Tất cả các nhà truyền giáo thuộc các tỉnh khác sẽ cùng chung một số phận. Các đại chủng sinh của Giáo Hoàng Chủng Viện rụng rời v́ quyết định này. Hai đêm sau, người ta nghe thấy nhiều tiếng thút thít khóc, có nhiều dấu hiệu tạ ơn nổi lên. Các linh mục đă họp bàn nhau mấy lần để nghiên cứu cách thi hành chuyến ra đi này. Phải tính đến chuyện một số người trong những người tiền tiến nhất có thể thay thế[các linh mục giáo sư và tu sĩ ḍng Tên] làm nhiệm vụ giảng dậy. Linh mục Viện Trưởng Joseph De Diego, sẽ trao trách nhiệm chủng viện vào tay của vị Giám Mục mới Nguyễn Sơn Lâm thuộc giáo phận Đà Lạt. Ngày 2/9/1975, hai chiếc xe chở các linh mục tu sĩ ḍng Tên ngoài quốc, có một người lính đi theo, chuyển bánh về phía Sàig̣n, từ đó họ sẽ có thể lấy máy bay Nga đi Bangkok, và ớ đấy họ sẽ bay đi Rôma để thông báo các sự kiện với Đức Thánh Cha và với Bề Trên Cả Pierre Arrrupe.

1978: Việt Nam kư một hiệp ước hữu nghị với Liên Xô và xâm chiếm Lào và Cam Bốt. Cao Miên sẽ trải qua một trong những kinh nghiệm diệt chủng tệ hại nhất dười thời Pol Pot và quân Khơme Đỏ. Một phần ba dân chúng bị giết chết.
1979: Một cuộc tranh chấp vũ trang với Trung Quốc, sau khi 260.000 người Hoa bị trục xuất.
1986: Nguyễn Văn Linh thay Lê Duẩn cầm đẩu Đảng.
1987: Phạm Hùng kế vị Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.
1988: Phạm Hùng chết, Đỗ Mười lên thay.
1989: Bộ đội Việt Nam hoàn toàn rút khỏi Cam Bốt.  

II. Theo Sứ Mệnh Mới ở Việt Nam: Chuyến Đi Thú Vị Từ Sàig̣n Lên Đà Lạt Ngày 13/9/1958

   Tại Sàig̣n, lúc 6 giờ sáng, khi đó đă là giờ cao điểm: phố xá đầy nghẹt xe đạp và xe gắn máy, đi cẩn thận mà vẫn có thể đụng nhau! Một con đường dài 300 km, với chiếc xe tải nhẹ nhập đoàn với Cha Lacretelle, bề trên hai tu sở của các linh mục tu sĩ ḍng Tên. Ngài nói với cha Deslierres về vai tṛ quan trọng làm linh hướng cho các đại chủng sinh: 24 người từ các giáo phận miền Nam, dù đa số gốc Bắc, di cư từ Bắc vào lúc Hiệp Định Genève 1954. Cha Deslierres sẽ dậy tiếng Pháp và tiếng Anh, và nhập môn Kinh Thánh cho năm dự bị, năm học ngôn ngữ là chính yếu  - trước khi bắt đầu học triết lư và thần học, có một năm thực tập mục vụ gián đoạn ở các xứ đạo.
  

   Sau miền đồng bằng, đoàn linh mục tu sĩ ḍng Tên đến chỗ có chừng hai mười xứ đạo di cư từ Bắc vào: miền rừng mà thực sụ dân cư nghiên ngáu để trồng trọt. Ngừng tại trại phong Di Linh, được Đức Cha Cassaigne thiết lập. Ngài là giám mục đại diện tông ṭa Sàig̣n, trước khi chết tại trại phong, khi chính ngài cũng là người mắc bệnh phong. Rồi đến những đồi làm đồn diền cà phê và trà. Đến Liên Khương, ngừng tại đèo Prenn xinh đẹp, có vườn thú nhỏ. Ở chỗ gần đó có sân bay đi Đàlạt, người ta lên phải theo lối đèo Prenn.

   Và đă đến Đà Lạt, nơi nổi tiếng quanh năm mát mẻ, có năm hồ chiếc nên thơ, đồi thông h́nh nón, thung lũng trồng đầy rau thơm ngon. Nơi đây c̣n nổi tiếng v́ có lớp đất đỏ giàu có, đúng là một cái chạn giữ ǵn đồ ăn cho dân Sài g̣n. Cha Deslierres cử hành thánh lễ ở một trại Bắc di cư, có trồng nhiều cây artisô. Dân di cư cho cha những mầm thứ cây quí giá và đắt tiền này. Trên h́nh chụp, người ta thấy hai ngọn núi gọi là Langbian ở phía chân trời. Miền này thật xinh đẹp có nhiểu thác hồ, tiện cho các chủng sinh của chủng viện đi dạo chơi hàng tháng. Khí hậu tuyệt vời này c̣n là ân huệ cho những lá phổi yếu ớt của cha Deslierres. Cứ ba tháng một lần, cha phải xuống Sàig̣n thăm một bà bác sĩ chuyên khoa, như cha đă hứa với nhà chuyên khoa về phổi tại Montréal, trước khi đi. Mười bảy năm sống tại Đà Lạt thật là thời kỳ cực kỳ quí giá cho sức khỏe của cha.
Khi đến nơi, họ đến chào thăm ba anh em ḍng Tên khác, tất cả đều là những người cũ bên Trung Hoa, cũng như thăm 24 chủng sinh mà các giám mục đă chọn gửi học với các linh mục giáo sư ḍng Tên tại Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh Piô X mới. Viện Đại Học Công giáo mới, vừa được thành lập. Các phân khoa triết học và thần học của chủng viện là thành phần thuộc về Viện dó. Viện cho chủng viện mượn một ṭa nhà và ba biệt thự gần đó – xưa kia là Trường Thiếu Sinh Quân Pháp, trên một ngọn đồi gần sân gôn. Thêm vào đó, người ta làm hai ṭa nhà băng gỗ, trước khi có thể xây cất cho năm 1962 một ṭa kiến trúc lớn tráng lệ, và có thể tiếp nhận 180 chủng sinh và khoảng hai chục tu sĩ ḍng Tên. Kiến trúc sư ṭa nhà có chức năng và thoáng rộng này, giành một giải Rôma cho thành tựu này. Một tu huynh người Ư sau đó bố trí phần mặt tiền, một thửa vườn, rồi các băi sân bóng rổ và bóng đá.
 
III. Phát Triển Chủng Viện Đà Lạt 

   Qua nhiều năm, Phân Khoa của Ḍng Tên dần dần có thêm nhiều giáo sư xuất xứ từ nhiều quốc gia khác nhau, có người thường trực, người khác mượn tạm ở các phân khoa khác trong một thời gian giới hạn. Khi đó các môn học chính, trong các phân khoa của giáo hội, thường được giảng dậy bằng tiếng Latinh: do đó phải có năm dự bị cho giáo sư cũng như sinh viên học tiếng. Tiếng Pháp vẫn c̣n là ngôn ngữ thứ hai tại Việt Nam, các linh mục giáo sư đă phát triển thư viện của chủng viện nhất là bằng thứ tiếng này, nhờ các tỉnh ḍng của ḍng Tên hiến tặng. Rồi chẳng bao lâu Cha Joseph Ch'en, một nhà thư viện tài t́nh, sẽ biết moi ra các sưu tập quí giá nơi các chủng viện buộc phải đóng cửa, ở Âu châu và Mỹ châu. Trong ṭa kiến trúc mới của chủng viện từ năm 1962, thư viện chiếm hai tầng bên trên sân trong. Đă có một thời chủng viện có ở đó hai sưu tập của Nhà xuất bản Migne, tức là các tác phẩm của các giáo phụ Hi Lạp và Latinh, được dịch ra tiếng Pháp.
  

   Một pḥng hàn lâm rộng, được bố trí bên dưới nhà nguyện lớn, ở giữa, trở thành rất quí giá để tranh luận học hành, cũng như để ḥa nhạc và diễn kịch. Những sinh hoạt trở thành truyền thống trong các cơ sở giáo dục của Ḍng Tên. Buổi ban đầu được biết tiếng với các thứ trang trí và quần áo Lễ Giáng Sinh ở công trường (le Noel sur la place) của Henri Ghéon. Khi đó là vở kịch vẫn c̣n nhiều người thích coi. Các Cụ Già (Les Vieux), một truyện kể của Alphonse Daudet, đă được diễn thật đáng khâm phục. Đỉnh cao là vở kịch của Hochwaelder, Dưới Đất Cũng Như Trên Trời (Sur la terre comme au ciel), một vở kịch tập trung vào tính vâng phục anh hùng của các tu sĩ ḍng Tên ở Paraguay, được đưa lại vào điện ảnh, với các diễn giả vẫn c̣n thích hợp biết bao!
  

   Chắng bao lâu, cùng chung với các chủng sinh thuộc các giáo phận miền Nam Việt Nam, có thêm những sinh viên ngoại trú là các tu sĩ trẻ đang được đào tạo, do các bề trên của họ yêu cầu, để có thể lợi dụng được một giáo tŕnh học vấn về giáo hội với các giáo sư có tư cách cấp những văn bằng đại học: các tu sĩ Phanxicô, Salêsien, Biển Đức, Xitô, Lararistes, v.v. … Tuy nhiên, công cuộc đào tạo thuần túy thiêng liêng và ḍng tu vẫn được giao cho các thành viên của mỗi cộng đoàn trong tu sở của họ. Cách thỏa thuận này cho phép các tu sĩ ḍng và các tu sĩ triều (giáo phận) hiểu biết lẫn nhau, giúp họ dễ dàng cộng tác với nhau tốt hơn trong các giáo phận, nơi mọi người sẽ làm việc. Cũng đôi khi, người này hay người kia, trong số các tu sĩ có đủ tư cách của các cộng đoàn này, có thể cùng cộng tác quí giá với các thành viên của các phân khoa của chủng viện.
 

   Phải nói thêm rằng trong 47 tu sĩ ḍng Tên cộng tác vào công tŕnh của Đại Chủng viện Đà Lạt, nhiều người đến từ các nước khác nhau, làm việc trong một không khí quốc tế về khả năng thích hợp và t́nh liên đới. Các chủng sinh bộc lộ những mẫu mực cởi mở và bác ái có đặc diểm xuất xứ từ 26 giáo phận. Nhiều Câu Lạc Bộ ngôn ngữ (Cercles de langues) cũng được tổ chức để dẫn nhập sinh viên của chủng viện vào một số ngôn ngữ hiện đại, nhất là tiếng Anh, Tây Ban Nha, Ư và Hoa.
 

   Một cha của phân khoa phụ trách đào tạo mục vụ và tông đồ (formation pastorale et apostolique) cho tất cả các sinh viên. Mỗi tuần một buổi chiều, mỗi người theo một hoạt động thích hợp để phát triển nhiệt t́nh và kinh nghiệm tông đồ của ḿnh: giáo tŕnh giáo lư trong một nhà trường của thị xă, hay đi thăm các gia đ́nh kém may mắn, hay thăm người ốm trong các bệnh viện. Người ta gọi hoạt động đó là La Strada, tên mượn từ một cuốn phim đáng lưu ư của Fellini, một cuốn phim mà chủng viện có dịp xem và cùng nhau nghiên cứu. Cha Deslierres nói sau về việc dẫn nhập vào điện ảnh mà viện trưởng của thời kỳ đó gợi ư đề nghị nhằm đưa các linh mục tương lai của chủng viện đến khía cạnh mục vụ hôm nay. Với họ cha Deslierres có thể biên soạn một giáo tŕnh lựa chọn, Dẫn Nhập Vào Ngôn Ngữ Điện Ảnh (Initiation au langage du cinema). Chẳng bao lâu ngoài giáo tŕnh này, các sinh viên năm thứ tư bắt buộc thứ hai của bộ môn về Những Yếu Tố Của Mục Vụ Điện Ảnh (Éléments d'une pastorale du cinema..
 
IV. Tác Vụ Linh Hướng
 
Về trách nhiệm đào tạo của Cha Linh Hướng, cha Deslierres luôn luôn dành một tầm quan trọng đến các chỉ thị giáo hoàng về việc đào tạo các linh mục tương lai. Các vị giáo chủ của hằng trăm năm cuối cùng, từng vị, đă viết những tài liệu đáng kể về đề tài này.

1. Ta hăy để ư đến những tài liệu quan trọng nhất:

(1)1908: Piô X, Haerent animo, về chức linh mục.
(2)1909: Piô X, Communium rerum, về quan hệ giữa triết học và thần học.
(3)1919: Biển Đức XV, Maximum illud, về một vận động truyền giáo.
(4)1920: Biển Đức XV, Spiritus Paraclitus, về việc nghiên cứu Kinh Thánh.
(5)1923: Piô XI, Studiorum ducem, Thomas, người hướng dẫn các nghiên cứu của giáo hội.
(6)1926: Piô XI, Rerum Ecclesiae, việc thiết lập các giám mục Trung hoa đầu tiên.
(7)1935: Piô XI, Ad catholici sacerdotii fastigium,về chức linh mục.
(8)1943: Piô XII, Mystici Corporis Christi, về giáo hội, Thân Thể Chúa Kitô.
(9)1943: Piô XII, Divino Afflante Spiritu, về Kinh Thánh.
(10)1947: Piô XII, Mediator Dei et hominum, về Chúa Kitô trong Giáo hội và trong phụng vụ.
(11)1947: Piô XII, Sacramentum Ordinis, về nhiệm tích Thánh Chức.
(12)1950: Piô XII, Menti nostrae, về chức linh mục.
(13)1951: Piô XII, Evangelii Praecones, về nhiệm vụ truyền giáo của Giáo hội.
(14)1956: Piô XII, Haurietis aquas, về sự tôn sùng Thánh Tâm.
(15)1957: Piô XII, Fidei Donum, về việc ban ơn đức tin cho Phi châu.
(16)1958: Piô XII, Sacra Virginitas, về đức trinh khiết thánh hiến.
(17)1959: Gioan XXIII, Princeps pastorum, thong điệp đầu tiên về truyền giáo.
(18)1959: Gioan XXIII, Sacerdotii nostri primordia, về linh mực gương mẫu: Thánh Gioan Maria Vianney
(19)1963: Phaolô VI, Summi Dei Verbum, về chức linh mục.
(20)1965: Phaolô VI, Mysterium Fidei, về Thánh Thể.
(21)1967: Phaolô VI, Signum magnum, Đức Maria được tuyên xưng là Mẹ Giáo hội.
(22)1967: Phaolô VI, Sacerdotalis coelibatus, về cuộc sống độc thân linh mục.
(23)1969: Phaolô VI, Missale romanum, về sách lễ Roma đổi mới.
(24)1970: Phaolô VI, Laudes Canticum, về cuốn sách nguyện đổi mới.
(25)1974: Phaolô VI, Marialis Cultus, việc hiểu tôn sùng thực sự Đức Maria.
(26)1975: Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, ư nghĩa và bổn phận truyền bá Tin Mừng.
(27)1979: Gioan-Phaolô II, Redemptor Hominis, Về Chúa Kitô, tác giả Ơn Cứu Độ.
(28)1980: Gioan Phaolô II, Dives in misericordia, về ḷng thương xót của Chúa.
(29)Tuyệt hảo trong tất cả tài liệu của Công Đồng Vatican II do Đức Gioan triệu tập ngày 25/12/1961 là Hiến Chế Tông Ṭa Humanae salutis. Công đồng gồm có bốn phiên họp, từ ngày 11/10/1961 đến khi kết thúc ngày 8/12/1965. Hai vị giáo hoàng đă tham dự Công đồng: Gioan XXIII và Phaolô VI; 3058 giám mục đến từ 145 xứ sở, có 453 chuyên viên, 58 thính giả nam nữ giáo dân giúp đỡ được mời dự, và có 101 quan sát viên không Công giáo.
Trong số các tài liệu này, ta hăy giữ lại những tài liệu nào trực tiếp liên hệ đến việc đào tạo linh mục:
(30)Lumen Gentium (1964), Hiến chế tín lư về Giáo hội.
(31)Optatam Totius (1965), Sắc lệnh về việc đào tạo các linh mục và tu sĩ.
(32)Gravissimum educationis (1965), về việc giáo dục kitôgiáo.
(33)Dei Verbum (1965), Hiến chế tín lư về Mặc khải Kitô giáo. Presbyterorum ordinis (1965), về thừa tác vụ và đời sống của các linh mục.
(34)Ngoài các văn bản của Công đồng, c̣n có thêm một tài liệu của Bộ Giáo Dục Công giáo: Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis, Chuẩn Mực Căn Bản Cho Việc Đào Tạo Linh Mục, được phê chuẩn, khẳng định với lệnh cho xuất bản của Đức Phaolô VI, nhằm hướng dẫn các hội đồng giám mục soạn thảo các Ratio fundamentalis riêng của ḿnh, và nhằm thống nhất sự thật phải giảng huấn.

2. Tài Liệu Cồng Đồng Vatican II

   Linh Mục Deslierres nhấn mạnh đến sáng kiến của chủng viện liên quan đến Các Tài Liệu Của Công Đồng Vatican II. Chủng viện đă soạn thảo các tài liệu này, có các chúng sinh thần học của chủng viện giúp đỡ. Họ được chia thành các nhóm, được một giáo sư có khả năng hơn về vấn đề này, diều khiển. Chủng viện có một bản dịch mới và xuất bản có phê b́nh các tải liệu của công đồng, từ nguyên bản tiếng Latinh và nhiều bản dịch từ nhiều ngôn ngữ khác nhau. Mỗi trang chỉ có một vài ḍng của văn bản Công đồng và phần c̣n lại là đầy những chú giải lịch sử, thần học, văn hóa và thiêng liêng.
 

   Công tŕnh về Công Đồng này đă in xong năm cuối cùng của đời sống chủng viện (năm 1975, năm giải phóng và chúng tôi bị trục xuất). Cuốn đó được để lại như một di sản quí giá của chủng viện giáo hoàng cho Giáo Hội Việt Nam, bằng tiếng Việt. Đó là một việc làm có giá trị khôn lường cho việc đào tạo linh mục tu sĩ cũng như cho việc rèn cặp thiêng liêng của các giáo dân thường và việc truyền bá tin mừng cho nhân dân Việt Nam.Công tŕnh này cũng là một trợ lực quí báu cho các nhà thần học của chúng ta, giúp họ hấp thụ tốt hơn tư tưởng của Giáo hội đối với thời đại chúng ta. Linh Mục Deslierres sung sướng hướng dẫn việc dịch thuật và nhiều chú giải phong phú tài liệu Optatam totius về việc đào tạo linh mục, được Đức Phaolô VI phổ biến ngày 28/10/1965.
 
V. Những Nguyên Tắc Linh Hướng Của Linh Mục Deslierres ở Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà lạt (1958-1975)

   Để kết luận bài tŕnh bày của LM Deslierres về thời kỳ 17 năm này, như Linh mục linh hướng các đại chủng sinh Đà Lạt, LM muốn chỉ rơ những nguyên tắc nào đă hướng dẫn ngài trong các quan hệ của ngài đối với những người được hướng dẫn:

1. Những Nguyên Tắc Căn Bản

   Một tính tôn trọng hỗ tương các thanh niên này mà Chúa Kitô đă chọn để trở thành "những Kitô khác", trung gian chuyển ân điển và t́nh yêu Thiên Chúa cho các con cái Thiên Chúa được làm con khi chịu thánh tầy. Cha đă t́m thấy nơi nhiều người trong họ một tấm ḷng quảng đại, hiếu kính, nhiệt thành, khiến nó trở thành một chất kích thích mạnh mẽ và liên tục trong cha.

   Một tính tôn trọng đ̣i cha phải kín đáo tuyệt đối: cần thiết để xây dựng nơi các chủng sinh một tin cậy dù bất cứ thử thách náo. Tính cởi mở của họ đ̣i cha phài kín đáo tuyệt đối. Tất cả đều biết rằng cha linh hướng không bao giờ nói với người nào khác, kể cả Giám mục, Viện trưởng, hay Phân khoa điều ǵ mà họ tin thác thố lộ trong lúc hướng dẫn. Cha tham dự vào các cuộc họp của Phân Khoa, nhờ đó cha biết nhiều khía cạnh khác về nhân cách của họ, nhưng cha giữ câm lặng.

   Một tính chân thành cũng lớn lao với từng người. Không tâng bốc xu nịnh, mà một sự hướng dẫn chân thành đễ dẫn đưa mỗi người đến trưởng thành về nhân bản và thiêng liêng.

   Một tính sẵn sàng lớn lao tiếp đón bất kỳ ai muốn gặp cha linh hưóng. Phương tiện tăng cường quan hệ của các cha linh hướng ngơ hầu hướng dẫn những người được hướng dẫn ngưỡng đến lư tưởng linh mục và truyền giáo.

2. Một Phán Đoán Tin Cậy, Tự Do, Nhân Bản, Khách Quan

   Những nguyên tắc này có thể bảo đảm tất cả trương độ cần thiết mà Ban Quản Trị muốn để đánh giá về trí thức và kỷ luật, và bảo đảm tôn trọng hoàn toàn giữa lănh vực bên ngoài và lănh vực bên trong, cho việc phán đoán mỗi cá nhân, và tôn trọng hoàn toàn tự do của các ứng viên.
Chính v́ thế mà trong chủng viện giáo hoàng Piô X Đàlạt, nếu một chủng sinh bày tỏ cho Viện trưởng biết ḿnh quyết định muốn rời bỏ chủng viện, sau khi đă nghiên cứu lâu dài và cẩn thận ơn gọi của ḿnh với cha linh hướng là người chấp nhận chiều hướng mới của ḿnh, th́ người đó sẽ thấy ḿnh được cha Viện trưởng khẳng định và sẽ hoàn toàn tự do ra đi b́nh an và vui vẻ.
 

   Ở Đà Lạt một cuộc ra đi không diễn ra thầm kín, như một điều xấu hổ (như có khi cha đă có nhận xét ở nơi khác), nhưng trong thanh b́nh. Ai bỏ đi đều nói thẳng với các anh em ḿnh và quả quyết với họ về kỷ niệm tuyết hảo và t́nh bằng hữu. Nếu có một chút buồn bă ở mọi người, th́ không bao giờ tỏ ra không chấp nhận, hay t́nh cảm tiêu cực pha lẫn lúc chia ly. Việc ra đi diễn ra trong b́nh an và tự do. Tất cả những ai rời bỏ chúng viện vẫn luôn giữ các quan hệ thân hữu và biết ơn với các cha và anh em, và vẫn như thuộc vào những thành viên của một đại gia đ́nh, luôn luôn sung sướng gặp thấy nhau lại.
 

   Nếu các số liệu thống kê của cha chính xác, trong 17 năm chủng viện đă có 250 ứng viên bỏ chủng viện đang lúc học, và 251 người đă trở thành linh mục [Chú thích của người biên tập; theo số liệu một nghiên cửu của Đỗ Hữu Nghiêm năm 2007 về Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt, Việt Nam: tất cả 18 khóa học từ 1958 đến 1976, có tổng số 455 chủng sinh, trong đó có 248 linh mục và 207 chủng sinh đă chuyển hướng, với 55 tu sĩ Ḍng Tên giúp đỡ (52 Linh mục và 3 tu huynh). Tham khảo: Đỗ Hữu Nghiêm: Một Nghiên Cứu Về Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt (1958-1975), Oakland, CA, ngày 15/9/2007, 133 trang, khổ A4, vi tinh)].

3. Tuyệt Đối Bảo Mật, Kín Đáo

   Tất cả những người cũ biết rơ cuốn sổ nhỏ đen của cha linh hướng, trong đó ngài giữ lại các địa chỉ của mỗi người: tên, địa phận gốc, địa chỉ gia đ́nh, cha đỡ đầu, một thứ cha nuôi, đă ưu ái ơn gọi của thanh niên này, từ khi c̣n thơ ấu. Nơi nhà cha đỡ đầu đó, người thanh niên trải qua một phần kỳ nghỉ hè, và cha đỡ đầu đă giúp đỡ lớn lao cho linh mục tương lai này trưởng thành. Lúc chủng sinh ra đi, cha linh hướng đốt hồ sơ của mỗi người có trong cuốn sổ lớn (đề tài gặp gỡ, vấn đề được bàn luận, các vấn đề cá nhân). Sự kín đáo tuyệt đối nhất được bảo đảm.
 

   Mỗi chủng sinh gặp gỡ hội họp với cha linh hướng ít nhất mỗi tháng một lần. Nếu sau một thời gian nào đó, LM Deslierres nhận thấy chủng sinh có vẻ ít cởi mở trên các vấn đề của ḿnh, ngài mời chủng sinh ấy cầu nguyện một tuần, để biết xem chủng sinh ấy có nghĩ tốt hơn là xin cha Viện trưởng chọn một cha linh hướng khác mà chủng sinh ấy thấy thoải mái hơn với ngài: chính LM Deslierres chuyển lời yêu cầu đó của chủng sinh lên cha Viện trưởng. Cha cầu nguyện theo ư chỉ đó. Đoạn rồi, hoặc ứng viên nhận thức lư do anh bị bế tắc, hoặc anh gặp một cha khác làm người linh hướng. Chủng viện bỏ những người bạn tốt, nhưng cha chắc chắn rằng có lẽ có một ai muốn t́m hiểu ơn kêu gọi của ứng viên và giúp cho ơn gọi đó trưởng thành.
 

   Trong Ḍng Tên, tính độc nhất của cha linh hướng luôn luôn được ưu tiên. Người có trách nhiệm được chuẩn bị cho vai tṛ này. Người ta không bắt người ấy phải theo quá nhiều giáo tŕnh, làm sao cho người ấy trở nên hoàn toàn sẵn sàng. Chính cha Deslierres đă có thể nhận xét sự khôn ngoan của phương pháp này. Tất cả mọi người tiếp nhận cùng những nguyên tắc đào tạo thiêng liêng, mà không có nguy hiểm có khác biệt đáng chú ư giữa các vị linh hướng, do tính t́nh hay thiếu kinh nghiệm. Như thế, tính kín đáo quá cần thiết th́ dễ dàng bảo đảm hơn. Ở Đà Lạt, nếu số các ứng sinh quá lớn th́ cần bổ nhiệm hai cha linh hướng: một vị cho các chủng sinh triết học, một vị khác cho các chủng sinh thần học. 

VI. Tiếp Cận Tập Thể

   Vai tṛ của cha linh hướng, ngoài việc theo sát cá nhân, c̣n cần có cách tiếp cận tập thể , nhờ những cuộc hội nghị, những chuẩn bị suy niệm, chiều thứ bảy, để sửa soạn cho phụng vụ chủ nhật và những ngày lễ. Mỗi tháng, một ngày tĩnh tâm, nghĩa là buỏi sau trưa giữ trong thinh lặng với đàm thoại, suy xét về một chủ đề đời sống thiêng liêng. Và rồi những đề tài kích thích ḷng tin, cậy, mến, các bài tŕnh bày về đời sống tin mừng, các bí tích, các nhân đức con người và kitô giáo; một chuỗi về lời cầu nguyện , một loạt khác về "Những Bước Tiến Tới Trưởng Thành Nhân Bản Và Thiêng Liêng"; những suy nghĩ về nhiệt t́nh tông đồ, đào sâu ơn gọi linh mục, những việc sùng kính trọng thể , cuộc sống độc thân của linh mục, các Trường phái linh đạo, cácvị thánh, tâm t́nh tri ân, ḷng quảng đại, t́nh bằng hữu; cho một linh đạo kinh thánh và phụng vụ, và về t́nh yêu Giáo hội,…

1. Một Tháng Linh Thao

   Một dự án mà LM Deslierres đă chuẩn bị lâu dài và đă chin muồi, với sự khuyến khích của cha Joseph Raviolo, viện trưởng khi đó, là Tháng linh đạo le Mois de spiritualité , được dành mỗi năm từ 1967 đến 1975, cho các chủng sinh thuộc năm thứ nhất triết học, sau năm dự bị. Một văn bản của Sắc Lệnh của Vatican II về việc đào tạo linh mục (số 12), là nguồn gốc của dự án này. "Để thiết lập một cách vững chắc hơn việc đào tạo thiêng liêng và để các chủng sinh có thể chuẩn định ơn kêu gọi của họ nhắm đến chọn lựạ có cân nhắc trưởng thành, th́ các giám mục nên thành lập, trong một thời hạn thích hợp, một cuộc thao luyện thiêng liêng tiến bộ hơn … Ngày càng nhắm mở rộng tinh thần của chủng sinh vào Màu Nhiệm Chúa Kitô… Trong việc dẫn nhập này, đề nghị màu nhiệm cứu độ sẽ được dành cho các chủng sinh".
 

   Tại Đàlạt, một giáo tŕnh đặc biệt, trong năm dự bị, dự kiến cách dẫn nhập này. "Chớ chi đồng thời họ được giúp để đặt nền tảng tất cả cuộc đời của họ trên đức tin và đức tin thấm nhập họ. Nhờ đó họ cũng sẽ được củng cố trong on gọi của họ, và cá nhân được chuẩn nhận, từ tấm ḷng vui vẻ dâng hiến trọn vẹn (số 14b). Được quyết định đồng dạng với Chúa Kitô Linh Mục nhờ thánh chức, Họ cũng sẽ được quen gắn bó với ngài nhờ tất cả cuộc đời họ tham dự mật thiết như các ban hữu thường có".  "Người ta phải dậy họ học biết t́m kiếm Chúa Kitô trong việc suy niệm trung thành lời Chúa nói". " Các chủng sinh phải học trước hết để sống theo h́nh dạng Tin Mừng, để được khẳng định trong đức tin, cậy, mến". (số 8). "Các chủng sinh phải được thầm nhuần về màu nhiệm Giáo hội… hiểu biết rơ ràng rằng họ thuộc trọn vẹn về việc phụng sự Thiên Chúa và thừa tác vụ mục vụ" (số 9).
 

   Kinh nghiệm thiêng liêng đặc biệt này, vừa có tính cá nhân vừa có tính tập thể, xem ra tốt đối với chúng ta, như con của thành Inhă, là cấu trúc chương tŕnh và phương pháp của kinh nghiệm đó theo Linh thao (Exercices spirituals). Tuy nhiên, các thao luyện của một tháng, trong lặng lẽ, theo nhịp một ngày bốn cuộc suy niệm, đối với LM Deslierres có vẻ quá ngặt nghèo đối với các thanh niên thời đại ngày nay. Với các Cha khác giúp đỡ, chủng viện đă tổ chức một tháng theo động lực Linh Thao, phối hợp mỗi ngày một thời gian đàm luận và học hỏi (9g-11g-15g) với một giai đoạn hồi tâm yên lặng (từ 18g đến 9g ngày mai) với suy niệm vào 18g30 và một bài tŕnh bày chuẩn bị suy niệm ngày mai. Nhóm này có một chế độ sống riêng biệt: nhà nguyện, nhà cơm, giải trí. Ba cuộc đàm luận, theo sau những câu hỏi, góp phần làm phong phú giáo lư, trước thần học, trong khi bầu khí hồi tâm buổi chiều buổi sáng, tăng thêm chiều kích thiêng liêng cho những cuộc đàm luận.

2. Tâm T́nh Tri Ân, Thư Thái, Thánh B́nh

   Trong và sau chín tháng linh đạo này, nó cho LM Deslierres thấy tất cả những kết quả. Các chủng sinh, về phần họ, tất cả đều có một kỷ niệm tuyệt hảo và tri ân, cả đối với những người đă chuyển hướng tương lai của họ, cũng như những người sau đó đă trở thành linh mục. Chính tất cả cuộc sống của họ, ở Đà Lạt, đều thấy từ đó thấm nhuần cái ǵ nghiêm chỉnh, thanh tịnh và quảng đại. Tất cả đều vẫn rất biết ơn những người đă làm cho tháng này có thể có được nhờ ḷng cộng tác quảng đại của họ. Cuối mỗi năm, cuộc hồi tâm của mọi người, theo Linh thao Thánh Inhă, đều lám sống lại các ân điển và ánh sáng nhận được vào dịp tháng linh đạo này.
  

   Ta hăy kết luận: điều có ư nghĩa là chúng ta đă dành tháng linh đạo này cho một nhóm cuối cùng, được dự kiến từ ngày 9/8 đến ngày 9/9 năm 1975, nhưng cuộc linh thao đó đă bị cắt ngang đột ngột. Phân khoa được triệu tập đến dinh chính quyền để biết ngày 30/8 này, rằng tất cả các thưà sai ngoại quốc đều phải bỏ Đà Lạt ngày 2/9, theo hướng Sàig̣n, qua Bangkok. Chủng viện đă chú ư điều đó, hai đêm cuối cùng ở Đà Lạt là có nhiều cảm xúc và có nhiều thử thách. Nhưng tất cả chủng viện đều kết hợp chặt chẽ, tin rằng Thánh Tâm Chúa, đă từng chúc nhiều phúc lành cho công việc này, th́ sẽ tiếp tục chúc phúc như thế, Giữa năm 1991 và 2005, Đức Giáo Hoàng đă thương đoái nh́n, gọi lên chức giám mục, có chính quyền dân sự chấp thuận, 10 trong số các chủng sinh đă có tiến cấp dần ở Chủng Viện Giáo hoàng Đà Lạt. Người ta cứ hy vọng rằng câu thơ của thi sĩ François Malherbe sẽ được thực hiện: " Và các bông hoa hứa hẹn sẽ kết thành quả cây" "Et les fruits passeront la promesse des fleurs".
 
Tháng Năm 2007.

http://www.jesuites.org/repertoire/PaulDeslierres/index11.htm

Oakland, CA, ĐHN ghi lưu, biên tập tổng hợp chú giải ngày 23/9/2007.CN

 

QUAY VỀ TRANG CHÍNH