ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

 

 

 

HOME     LINH ĐẠO     ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN       HPH1       HPH2       HPH3       HPH4       HPH5

 

 

ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

 

Joseph Phạm Thanh Liêm, S.J.

 

C.  CON  ĐƯỜNG  THIÊNG  LIÊNG (TU ĐỨC) 1

1). Con người và ư định của Thiên Chúa. 1

2). Chương tŕnh Yêsu. 3

3). Thánh Thần Thiên Chúa hoạt động để dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa. 7

4). Con người tại thế tự do trước những tác động. 10

5). Cầu nguyện và nhận định các thần. 11

PHẦN BA: TIẾN  TR̀NH  LINH  THAO.... 17

 

 

C.  CON  ĐƯỜNG  THIÊNG  LIÊNG (TU ĐỨC)

            Ở mục trên, chúng ta đă nh́n con người thực của chính chúng ta một cách cụ thể, và đă phần nào thấy nét cao qúy của con người. Bây giờ, chúng ta tiếp tục t́m hiểu con người trong ư định của Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể đến với Thiên Chúa một cách dễ dàng hơn dưới sự hướng dẫn và trợ giúp của Ngài.

1). Con người và ư định của Thiên Chúa

            Con người là ai? Con người sẽ đi về đâu? Đời sống con người có giá trị và ư nghĩa nào không? Những câu hỏi trên đă được nhiều người quan tâm thao thức đưa ra những lư thuyết trả lời; và có những lư thuyết đă ảnh hưởng rất sâu đậm trên lập trường sống của nhiều người. Có những lư thuyết sai lầm đă làm băng hoại bao nhiêu tâm hồn, và đă làm bao người đau khổ. Ánh sáng của mặc khải sẽ giúp chúng ta có cái nh́n đúng đắn về con người, và Thiên Chúa sẽ chỉ cho chúng ta con đường để chúng ta sống hạnh phúc đích thực.

a). Những cái nh́n sai lạc về con người

            Với lư trí của ḿnh, con người đă ṃ mẫm đi t́m lời giải đáp về chân tính của ḿnh. Lời lư giải th́ nhiều và đa dạng, và đôi khi cũng mâu thuẫn nhau; nhưng điều đáng bận tâm hơn là: “những lư giải này có đúng thực không”?

i). Con người, một hiện hữu “t́nh cờ”

            Có người cho rằng con người do tiến hóa ngẫu nhiên mà có. Nếu con người ngẫu nhiên mà hiện hữu, th́ con người đâu có giá trị trường tồn! Và nếu đúng như vậy, chết là hết! Và người ta có thể kết luận: “con người có thể làm những ǵ ḿnh thích, ḿnh muốn, hoặc những ǵ làm thỏa măn ḿnh”.

            Một nhăn quan như vậy về con người, kéo theo những hệ luận vô cùng tai hại:

·        không có hạnh phúc đích thực;

·        nếu nói đến hạnh phúc, th́ hiểu hạnh phúc là thỏa măn nhu cầu thể lư; nếu có nói tới nhu cầu tinh thần, th́ tinh thần ở đây cũng chỉ là dạng khác của thân xác;

·        con người không là một gía trị trường tồn; v́ tất cả sẽ hư vô khi cái chết đến;

·         con người có thể làm tất cả; luật pháp chỉ có gía trị giúp trị an, để đời sống “xă hội” được dễ dàng hơn thôi, không phản ánh bản chất con người.

ii). Con người, “một hiện sinh phi lư”

            Một số người cho rằng không thể lư giải sự hiện hữu của con người, con người là hiện sinh “phi lư”, cuộc đời đáng “buồn nôn”.

            Những người thuộc trường phái này không biết ḿnh từ đâu tới và ḿnh sẽ đi về đâu, họ không  thấy ư nghĩa cuộc đời. Một nhân sinh quan như vậy sẽ dẫn con người tới thái độ bi quan chán chường:

·        họ có thể sống buông thả theo những khuynh chiều “thú tính” của con người;

·        và tệ hơn, họ có thể tự tử nếu họ gặp quá nhiều thất bại trên đường đời!

iii). Con người, một tṛ chơi của Tạo Hóa?

“Ấy Con Tạo đành hanh quá quắt,
Chết đuối người trên cạn mà chơí”!

            Tại sao lại có lắm cảnh éo le trong cuộc đời? Phải chăng con người chỉ là tṛ chơi của Tạo Hóa, của những thần linh “thích vui đùa trên sự đau khổ của con người”? Phải chăng con người đă có một phần số rơ ràng, không ǵ có thể tránh được?[1] Tại sao có sự ác, phải chăng v́ Tạo Hóa muốn vậy, bởi v́ Tạo Hóa quyền năng vô cùng mà?

            Một cái nh́n sai lệch về Thiên Chúa kéo theo cái nh́n sai lệch về con người. Và nếu chấp nhận cái nh́n như vậy về con người và về Thiên Chúa, th́ con người không thể sống hạnh phúc được v́ luôn ở trong t́nh trạng lo sợ bất an.

b). Thiên Chúa muốn con người hạnh phúc

            Thiên Chúa không phải là “ông kẹ”, cũng không phải là “Con Tạo đành hanh quá quắt”, cũng không phải là ông chủ độc ác, nhưng là Cha Vô Cùng Nhân Từ và Yêu Thương.

            “Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi ngựi được cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm.2,4). Thiên Chúa muốn chia sẻ hạnh phúc với con người khi Ngài tạo dựng con người.

i). Thiên Chúa tạo dựng con người v́ yêu thương

            Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc tạo dựng con người, và Ngài đă tạo dựng con người v́ t́nh yêu và trong t́nh yêu. Không ǵ buộc Thiên Chúa phải tạo dựng con người; và việc Ngài tạo dựng con người không mang lại ǵ thêm cho bản tính Thiên Chúa.

            Thiên Chúa có thể không tạo dựng con nguời mà Ngài vẫn hạnh phúc tṛn đầy; thế nhưng v́ yêu thương con người nên Ngài đă tạo dựng con người, và Ngài muốn con người được hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài: “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Yn.4, 8.16).

ii). Thiên Chúa muốn chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với con người

            Thiên Chúa tạo dựng con người, v́ Ngài muốn cho con nguời thông phần hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa.

            Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của con người, không hoàn toàn nằm trong tầm tay con người, nhưng cũng không phải là điều mà con người không thể có được. Con người có thể sống hạnh phúc, nhưng con người không thể sống hạnh phúc thật nếu con người muốn tách biệt hay độc lập với Thiên Chúa.

            Hạnh phúc vĩnh cửu, là thuộc tính của Thiên Chúa; hạnh phúc vĩnh cửu nơi con người chỉ có thể có, nếu con người sống hiệp thông với Thiên Chúa, thuộc trọn về Thiên Chúa.

iii). Nên giống Thiên Chúa th́ hạnh phúc

            Thiên Chúa luôn luôn hạnh phúc, và chỉ những ai nên giống Thiên Chúa mới hạnh phúc thật sự mà thôi.

            “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Yn.4, 8. 16). Ai yêu thương th́ nên giống Thiên Chúa, và ai không yêu thương th́ không giống Thiên Chúa. Như vậy, chỉ những người sống yêu thương mới hạnh phúc và hạnh phúc thật sự.

            Thiên Chúa tạo dựng con người “giống h́nh ảnh Ngài” (Stk.1,26), Ngài tạo dựng con người tự do, Ngài tạo dựng con người có khả năng yêu thương để sống hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. Thế nhưng con người “tự do” đă không sống yêu thương như Thiên Chúa muốn, con người đă lạm dụng tự do để thù ghét và làm hại anh em ḿnh : đó là tội! Để con người được hạnh phúc, cần Thiên Chúa cứu độ con người, làm cho con người sống yêu thương: yêu Chúa và yêu người. Cứu độ con người, là làm con người sống yêu thương, để con người giống Thiên Chúa, để con người được hạnh phúc.

2). Chương tŕnh Yêsu

            Thiên Chúa là T́nh Yêu, Ngài là Đấng chỉ biết yêu thương, và làm tất cả v́ yêu thương: “Ngài tạo dựng con người để con người sống và hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài”. Thực tế con người đă từ chối t́nh yêu của Ngài, từ chối sống thông hiệp với Ngài, và như vậy là xúc phạm Thiên Chúa, là tội. Tuy vậy, Thiên Chúa đă không bỏ mặc con người, Ngài tiếp tục yêu thương con người qua hành vi làm con người trở về sống thông hiệp với Ngài, đáp trả t́nh yêu của Ngài.

            Từ đời đời Thiên Chúa đă biết con người từ chối Ngài, phản bội Ngài khi Ngài tạo dựng họ “tự do”; nhưng Thiên Chúa vẫn tạo dựng con người; và Ngài có chương tŕnh cứu độ con người khi Ngài quyết định tạo dựng con người “tự do”. Tự do của con người vẫn được tôn trọng và bảo vệ[2].

            Các kitô-hữu tiên khởi đă diễn tả chương tŕnh Thiên Chúa yêu thương và cứu độ con người qua bài ca trong thư gởi Eâphêsô của thánh Phaolô:

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ đức Yêsu Kitô Chúa chúng ta.

Trong đức Kitô, từ cơi trời Người đă thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.

Trong đức Kitô, Người đă chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để  trước thánh nhan Người ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ t́nh thương của Người.

Theo ư muốn và ḷng nhân ái của Người, Người đă tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ đức Yêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng người đă ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu.

Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra mà chúng ta được cứu chuộc được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người.

Aân sủng này Thiên Chúa đă rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.

Người cho ta được biết Thiên Ư nhiệm mầu: Thiên Ư này là kế hoạch yêu thương Người đă tiền định từ trước trong đức Kitô.

Đó là đưa thời gian tới hồi viên măn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lănh là đức Kitô.

Cũng trong đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ư muốn của Người, đă tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào đức Kitô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.

Trong đức Kitô cả anh em nữa, anh em đă được nghe lời chân lư là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong đức Kitô, một khi anh em đă tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đă hứa.

Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa”(Eph.1,3-14).

a). Thiên Chúa cứu độ con người

            Phạm tội là từ chối Thiên Chúa và muốn độc lập với Ngài. Qua hành vi phạm tội con người chọn và làm ḿnh trở thành “qủy”. Điều này không hợp lư và “không hiểu được”, nhưng đó lại là sự thật! Một điều ác điều dữ, tại sao con người vẫn làm?!

            Thiên Chúa đă yêu thương con người ngay cả khi con người là tội nhân. Đây cũng là điều “không hiểu được”!

i). Con người cần được cứu độ v́ đă từ chối t́nh yêu

            Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài muốn con người hạnh phúc, Ngài muốn con ngựi trưởng thành và triển nở về mọi phương diện. Nhưng thực tế, bằng chính hành vi phạm tội của ḿnh, con người đă từ chối vươn lên và đă đồng hóa ḿnh với con vật, và đôi khi c̣n tệ hơn cả con vật, chẳng hạn trường hợp con nguời lợi dụng lư trí của ḿnh nhằm diệt hẳn một dân tộc như hành vi của Hitler đối với dân tộc Do Thái thời đệ nhị thế chiến. Tội là xúc phạm Thiên Chúa bằng hành vi từ chối sống yêu thương như Thiên Chúa đă muốn cho con người.

            Tŕnh thuật “sa ngă” của sách Sáng Thế Kư chương 3 cho thấy: con người không tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, mà hơn nữa lại tin vào ma qủy qua h́nh ảnh con rắn, coi Thiên Chúa là Đấng lừa dối ḿnh, cho rằng Thiên Chúa không muốn cho con người trở thành thần linh, coi Thiên Chúa như một vị sợ con người được “ngang hàng” với ḿnh. Khi con người không tin vào Thiên Chúa nữa, th́ con người không c̣n trông cậy vào Thiên Chúa, và con người không sống trong t́nh yêu của Ngài nữa. Tội là từ chối t́nh yêu của Thiên Chúa.

            Không ai có thể tha tội nếu không phải là chính Thiên Chúa (Mc.2,7). Quan niệm này của người Do Thái hoàn toàn chính xác: con người không thể đền được tội mà ḿnh đă xúc phạm đến Thiên Chúa. Chính v́ thế con người cần được Thiên Chúa cứu độ.

ii). Từ khi phạm tội, con người đă “yếu đi”

            Con người đầu tiên đă phạm tội cách tự do, và bây giờ con người vẫn c̣n tự do để phạm tội hay không phạm tội; thế nhưng kể từ  biến cố phạm tội đầu tiên của con người đó, con người cảm thấy ḿnh “như thể bất lực” để làm điều tốt ḿnh biết là nên làm hay phải làm.

            Kinh nghiệm đời sống thiêng liêng cho thấy: có nhiều lúc trong đời tôi không muốn phạm tội, tôi không muốn làm “điều đó” nữa, nhưng rồi tôi lại đă tự do làm điều tôi đă quyết định rằng sẽ không bao giờ làm nữa; sau khi làm điều đó rồi, tôi lại hối hận v́ ḿnh đă làm điều đó... và rồi lại quyết định...!

            Con người đă bị ảnh hưởng bởi tội, và đặc biệt bởi tội đầu tiên đó. Con người đă bị “yếu” kể từ khi con người phạm tội, và con người càng trở nên yếu khi con người càng ch́m sâu trong tội. Có lẽ ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về điều này.

            Kinh nghiệm “điều tôi muốn (tôi biết là đúng, là nên làm) tôi không làm, nhưng tôi lại làm điều tôi không muốn (tôi biết là không đúng và không nên làm)” của thánh Phaolô (Rm.7,19), là kinh nghiệm “bất lực” của con người, và đúng hơn của mầu nhiệm tự do của con người, của tội. Khi nói con người cảm nghiệm sự “bất lực làm điều tốt”, người viết hoàn toàn không có ư muốn nói “con người không c̣n khả năng hành thiện”, hoặc “con người mất tự do để làm điều tốt”! Con người vẫn c̣n khả năng chọn lựa làm điều tốt hay điều xấu tùy họ.

iii). Được cứu độ trong đức Yêsu và nhờ đức Yêsu Kitô

            Ai cứu tôi khỏi t́nh trạng khốn nạn này?

            “Tạ ơn Chúa, nhờ đức Yêsu Kitô Chúa chúng ta!”(Rm.7,24-25). “Trong đức Kitô và nhờ đức Kitô, chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi”(Eph.1,7).

            Nhập thể là sáng kiến t́nh yêu tuyệt vời của Thiên Chúa để cứu độ con người, bởi v́ con người không thể trả gía đền tội ḿnh, v́ con người chỉ là tạo vật: “chỉ có Con Chiên mới xứng đáng mở sách ấy mà thôi”(Kh.5,9)! Chỉ có Con Thiên Chúa mới có thể trả được giá “thục hồi” cho Thiên Chúa, và như vậy chỉ có đức Yêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, Con Thiên Chúa làm người, mới có thể cứu độ được con người mà thôi.

b). Ngôi Lời nhập thể để làm chứng cho T́nh Yêu

            Con người từ chối T́nh Yêu Thiên Chúa, con người coi thường và cho rằng ḿnh không cần Thiên Chúa. Thái độ khinh thường Thiên Chúa là thái độ đáng tội. Làm sao để cứu độ con người?

            Làm sao để cứu độ con người?

            V́ con người là hữu thể tự do, nên Thiên Chúa không thể cứu độ được con người nếu con người không chấp nhận.

            Con người được cứu độ nếu con người coi trọng Thiên Chúa và mệnh lệnh của Ngài, nếu con người vâng phục Thiên Chúa, tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa. Cứu độ con người, là làm cho con người cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa yêu con người, và đó là sứ mạng của đức Yêsu.

i). Sứ mạng đức Yêsu

            Cứu độ con người là hướng dẫn và trợ giúp con người, làm sao để con người cảm được Thiên Chúa yêu thương họ, và rồi họ đáp trả t́nh yêu, và như vậy là con người được hạnh phúc, được cứu độ.

            Sứ mạng của đức Yêsu là làm sao để con người cảm được rằng Thiên Chúa yêu thương con người. Để thực hiện công tŕnh cứu độ này, Thiên Chúa đă có cả một chương tŕnh, và trải dài trong gịng lịch sử, đặc biệt là nơi dân tộc Do Thái với lịch sử của họ.

            Có thể nói: sứ mạng của đức Yêsu là làm chứng cho T́nh Yêu, là chứng nhân t́nh yêu: làm cho con người cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.

ii). Thập gía diễn tả t́nh yêu

            Liệu Thiên Chúa có thể cứu độ con người mà không cần Ngôi Lời nhập thể, không cần đức Yêsu phải chết không?

            Nếu Ngôi Lời không nhập thể, liệu con người có tin Thiên Chúa yêu con người không? Nếu đức Yêsu không chịu chết, liệu con người có được đánh động bởi hành động và đời sống của Ngài, để cảm nhận rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh không?

            Bằng hành vi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa vĩnh viễn thành người:

·        Đức Yêsu sống hoàn toàn như con người (trừ tội, v́ tội không thuộc bản chất con người). Ngài biết đói, biết khát, biết đau, biết khổ nhục; Ngài bị cám dỗ trong hoang địa, trong vườn dầu, trên thập giá; Ngài bị thử thách về đức tin nhưng không bao giờ qụy ngă[3].

·        Ngài luôn nói sự thật dù người ta không tin và không chấp nhận Ngài (Mc.2,7), dù người ta kết án tử h́nh Ngài (Mc.14,62).

·        Ngài ư thức Ngài chết v́ yêu thương con người, v́ Ngài hiến mạng Ngài cho con người: “không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của Người hiến mạng sống ḿnh v́ bạn hữu” (Yn.15,13).

            Dường như thập giá là con đường duy nhất diễn tả t́nh yêu một cách thuyết phục nhất. Một cô gái có thể tin rằng một anh nào đó nói yêu cô ta, là thực chăng? Nếu cô gái này khôn ngoan, cô ta biết ḿnh có thể bị lừa! Để tin lời nói của người đó có thực không, cô ta cần có thời gian để nghiệm xét: chính qua hành động và đời sống, chứ không chỉ bằng lời nói, mà cô ta biết được anh ta có yêu cô ta thực không! Chính nhờ hành động, xem người đó có hy sinh quên ḿnh v́ tôi không, xem người đó có muốn tôi được hạnh phúc thực không, mà tôi nhận biết người đó có yêu tôi thực không. Cũng tương tự như vậy, qua việc Đức Yêsu dám chết v́ yêu con người, mà con người tin biết rằng Ngài yêu con người, và nhờ Ngài mà con người cũng biết rằng Thiên Chúa yêu con người vô cùng.

iii). Con người được cứu độ khi đáp trả t́nh yêu

            Tội là coi thường Thiên Chúa, không tin Thiên Chúa, không trông cậy ǵ nơi Ngài, không vâng phục Ngài! Nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương con người, Ngài sẵn sàng tha thứ tội lỗi con người đă xúc phạm đến Ngài, Ngài mong muốn con người trở lại với Ngài, để con người được hạnh phúc. Khi con người trở lại với Ngài, rung động trước t́nh yêu của Thiên Chúa đối với ḿnh, trân trọng Thiên Chúa, tín thác nơi Thiên Chúa, vâng phục Thiên Chúa trong mọi sự..., th́ con người được cứu độ.

            Rung động trước t́nh yêu của đức Yêsu và của Thiên Chúa đối với con người, hối hận v́ tội lỗi ḿnh, ao ước đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa bằng chính cuộc sống ḿnh, đó là khởi đầu ơn cứu độ. Chính t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người và làm con người đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa, làm cho con người được sống, và sống tṛn đầy, sống hạnh phúc.

            T́nh yêu không chỉ là cảm giác, và t́nh yêu cũng không chỉ là lư trí. T́nh yêu diễn tả và cảm nhận bằng cả lư trí và thân xác. Con người cần cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương ḿnh bằng cả con người, để ḿnh sống một đời đầy ư nghĩa, và được hạnh phúc.

3). Thánh Thần Thiên Chúa hoạt động để dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa

            Cứu độ con người là chương tŕnh của cả Ba Ngôi Thiên Chúa:

·        Thiên Chúa Cha như nguồn gốc mọi sự, là sáng kiến của chương tŕnh;

·        Thiên Chúa Con như Lời thực hiện chương tŕnh qua hành vi nhập thể vĩnh viễn;

·        Và Thánh Thần hoạt động  trong tâm hồn mỗi người để dẫn đưa con người trở về với Thiên Chúa[4]. Thánh Thần giúp các tông đồ hiểu Lời của đức Yêsu (Yn.14,26), dẫn đưa các tông đồ vào tất cả sự thật (Yn.16,13), giúp các tông đồ làm chứng cho đức Yêsu (Yn.15,26-27). Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh để giúp các Kitô-hữu sống đức tin, và giúp các Kitô-hữu rao giảng tuyên xưng đức Yêsu Phục Sinh là Thiên Chúa.

a). Thiên Chúa luôn hoạt động để làm con người trở về với Ngài

            Con người là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương, nên cứu độ con người là công việc quan trọng đối với Thiên Chúa.

i). Thiên Chúa luôn ở với con người

            Thiên Chúa yêu thương con người, và yêu con người vô cùng. Thiên Chúa Cha yêu con người như yêu chính Con Một của Ngài (Yn.17,23), và Ngài yêu con người đến độ ban Con của Ngài cho con người (Yn.3,16). Chúa Yêsu yêu con người như  Thiên Chúa Cha yêu Ngài (Yn.15,9), và Ngài yêu con người đến độ hiến mạng sống bản thân Ngài cho con người (Yn.15,13), và c̣n biến bánh rượu thành thân xác Ngài để trở thành của ăn của uống cho chúng  ta.

            Chính v́ yêu thương con người nên Thiên Chúa luôn ở với con người:

·        “Nơi nào có hai hay ba người họp nhau v́ danh Thầy, th́ Thầy ở giữa họ” (Mt.18,18). “Này đây Thầy ở cùng anh em cho đến tận thế” (Mt.28,20);

·        “Ai yêu mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người đó, và chúng ta sẽ đến và ở với người đó” (Yn.14,23);

·        “Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Bầu Chữa khác, để Ngài ở với các con luôn măi” (Yn.14,16).

            Yêu nhau, người ta muốn ở gần nhau. Thiên Chúa muốn ở với chúng ta, và Ngài muốn chúng ta ở trong t́nh yêu của Ngài (Yn.15,9). Thiên Chúa ở với chúng ta để cứu độ chúng ta, để chúng ta sống hạnh phúc với Ngài.

ii). Thánh Thần dạy dỗ con người

            “Sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha và đức Yêsu Đấng Cha sai” (Yn.17,3).

            Để sống hạnh phúc tṛn đầy, con người cần biết ḿnh đang hạnh phúc. Chúa Thánh Thần là thầy dạy chúng ta, Ngài giúp chúng ta nhận ra sự thật cứu độ: ”Thánh Thần sẽ dẫn chúng con vào tất cả sự thật” (Yn.16,13). Không có Thánh Thần, con người không thể làm ǵ tốt, ngay cả việc tin đức Yêsu là Thiên Chúa: “Không ai tuyên xưng đức Yêsu là Kitô, nếu không bởi Thánh Thần” (1Cor.12,3).

            Thánh Thần giúp con người tin vào đức Yêsu và tin vào Thiên Chúa, giúp con người cầu nguyện than thở với Thiên Chúa (Rm.8,26-27), giúp con người sống b́nh an hạnh phúc, giúp con người  hưởng ân phúc cứu độ.

iii). Thiên Chúa lôi kéo con người

            “Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng  đă sai Ta, không lôi kéo nó, và Ta sẽ cho nó sống lại ngày sau hết” (Yn.6,44).

            Con người không thể tự cứu chính ḿnh, nhưng chính Thiên Chúa cứu độ con người: Thiên Chúa cứu độ con người nhưng cần con người ưng thuận cách tự do.

            Chính Thiên Chúa lôi kéo con người đến với Thiên Chúa, chứ không phải con người tự ḿnh có khả năng đến với Thiên Chúa. Thiên Chúa lôi kéo con người, và con người ưng thuận để Thiên Chúa lôi kéo ḿnh đến với Ngài. Lôi kéo con người đến với Thiên Chúa mà con người vẫn hoàn toàn tự do, đó là đặc điểm của Thiên Chúa.

            Thiên Chúa là T́nh Yêu, Thiên Chúa yêu con người, nên “Ngài muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư” (1Tm.2,4). Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập thể làm người để ở măi với con người theo cách thức mà con người lănh hội được; Thánh Thần Thiên Chúa luôn hoạt động trong con người để lôi kéo con người đến với Thiên Chúa, để làm con người rung cảm trước t́nh yêu Thiên Chúa, để con người có thể sống an b́nh và phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa, để con người được hạnh phúc.       

b). Chỉ được cứu độ khi cảm nhận ḿnh được yêu

            Tuy con người hoàn toàn tự do nhưng Thiên Chúa lại rất tuyệt vời: Ngài chinh phục con người bằng t́nh yêu.

i). Muốn điều tốt cho người ḿnh yêu

            Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài muốn những điều tốt lành cho con người, Ngài muốn con người được hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. Sở dĩ như vậy, bởi v́ khi yêu, người ta muốn cho người ḿnh yêu được những điều tốt lành, được hạnh phúc đích thực.

            Thiên Chúa muốn con người được sống hạnh phúc tṛn đầy với Ngài: “Ta đến để chúng được sống, và sống sung măn” (Yn.10,10).

ii). Thiên Chúa trao ban cho con người tất cả

            Thiên Chúa Cha đă ban Con Ngài cho con người (Yn.3,16), Chúa Con đă ban chính ḿnh Ngài cho con người qua bí tích Thánh Thể và bằng hành vi chết cho người ḿnh yêu (Mc.14,24-25; Yn.15,13), Thánh Thần hiện diện với con người như quà tặng của Ba Ngôi (Yn.14,16).

iii). Thiên Chúa tôn trọng tự do con người

            Để hạnh phúc và cảm nghiệm hạnh phúc, cần có tự do.

            Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Chính v́ vậy, Ngài chỉ mời gọi và đề nghị, c̣n tùy con người có đáp trả hay không.

            Thiên Chúa tôn trọng ư muốn của con người; ngay cả khi con người không đáp trả lại t́nh yêu của Ngài, không làm theo ư muốn của Ngài, th́ Ngài vẫn kiên nhẫn chờ đợi, Ngài vẫn luôn tác động để con người trở lại với Ngài, hầu con người được sống hạnh phúc đích thực.

iv). Làm con người nên một với Ngài trong T́nh Yêu

            Khi yêu nhau, họ trở nên một, một thân xác một tinh thần. Nói một cách chính xác, những người yêu nhau đều hướng tới hiệp nhất dù mỗi cá vị vẫn được tôn trọng và duy tŕ: “Ḿnh với ta tuy hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai”. Hai người yêu nhau, sẽ được hạnh phúc hơn khi họ cùng lư tưởng, cùng ước muốn và đồng cảm[5].

            Chúa Yêsu yêu Chúa Cha, nên đă lấy Ư Cha làm ư Ngài (Mc14,36), đă lấy Ư Cha làm của ăn (Yn.4,34). Cũng tương tự như vậy, khi con người yêu Thiên Chúa, sẽ lấy ư Thiên Chúa làm ư ḿnh, sẽ vâng giữ Lời Ngài: “Ai yêu mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu mến người đó, và chúng ta sẽ đến và ở nơi người đó” (Yn.14,23).

            Con người chỉ có thể nên một với Thiên Chúa trong cầu nguyện, nếu con người đă cố gắng để nên một với Thiên Chúa trong suốt đời sống thường ngày.

v). Trân trọng đón nhận và phó thác đời ḿnh

            Trong t́nh yêu người ta thường nghe nói, “Anh là tất cả với em” hoặc “Em là tất cả với anh”. Khi hai người yêu nhau, người này là qúy nhất với người kia. Chính v́ thế, ư kiến hay ư thích của người yêu rất được coi trọng.

            Ai càng yêu th́ càng yếu, v́ khi yêu người ta muốn chiều ḷng người ḿnh yêu, để thấy người yêu hạnh phúc và ḿnh cũng được hạnh phúc v́ người ḿnh yêu hạnh phúc.

            Khi yêu nhau, người ta tin tưởng lẫn nhau và có thể tin tưởng cậy nhờ người ḿnh yêu, v́ ḿnh tin rằng người ḿnh yêu sẽ làm theo ư ḿnh. Khi yêu, người ta tin tưởng trông cậy lẫn nhau.

            Tội là coi thường và không tin tưởng trông cậy ǵ nơi Thiên Chúa, c̣n yêu Thiên Chúa là trân trọng và tin tưởng phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa là Đấng yêu thương ḿnh.

            Tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, và Ngài sẽ làm cho ḿnh những điều tốt lành nhất, và như vậy ḿnh sẽ b́nh an hạnh phúc để phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa.

4). Con người tại thế tự do trước những tác động

            Con người không có tự do tuyệt đối, nhưng con người chỉ tự do trong hành động của ḿnh.

            Là tinh thần nhập thể, nên con người trở thành tinh thần qua thân xác, nghĩa là, con người được mời gọi vượt lên những khuynh chiều xác thịt để thành nhân, để nên thánh, để sống như Thiên Chúa muốn, để thuộc trọn về Thiên Chúa.

a). Trí tưởng tượng như chiến trường

            Lư trí con người với những h́nh ảnh được cảm thụ qua giác quan, do tác động bởi những khuynh chiều thân xác, làm nên trí tưởng tượng. Trí tưởng tượng thuộc về “tôi”, cấu thành con người tôi, nhưng “tôi” không chỉ là nó; tôi hoàn toàn tO