|
ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN |
|---|
HOME LINH ĐẠO
ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC
HƠN HPH1 HPH2 HPH3 HPH4 HPH5
ĐỂ TỰ DO
VÀ HẠNH PHÚC HƠN
Joseph Phạm Thanh Liêm, S.J.
C.
CON ĐƯỜNG THIÊNG
LIÊNG (TU ĐỨC)
1). Con người và ư định
của Thiên Chúa
3). Thánh Thần Thiên Chúa hoạt
động để dẫn đưa con người
đến với Thiên Chúa
4). Con người tại thế
tự do trước những tác động
5). Cầu nguyện và nhận
định các thần. 11
Ở mục trên,
chúng ta đă nh́n con người thực của chính chúng ta
một cách cụ thể, và đă phần nào thấy nét cao
qúy của con người. Bây giờ, chúng ta tiếp
tục t́m hiểu con người trong ư định của
Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể đến
với Thiên Chúa một cách dễ dàng hơn dưới
sự hướng dẫn và trợ giúp của Ngài.
Con người là
ai? Con người sẽ đi về đâu? Đời
sống con người có giá trị và ư nghĩa nào không?
Những câu hỏi trên đă được nhiều
người quan tâm thao thức đưa ra những lư
thuyết trả lời; và có những lư thuyết đă
ảnh hưởng rất sâu đậm trên lập
trường sống của nhiều người. Có
những lư thuyết sai lầm đă làm băng hoại bao
nhiêu tâm hồn, và đă làm bao người đau khổ.
Ánh sáng của mặc khải sẽ giúp chúng ta có cái nh́n
đúng đắn về con người, và Thiên Chúa sẽ
chỉ cho chúng ta con đường để chúng ta
sống hạnh phúc đích thực.
Với lư trí
của ḿnh, con người đă ṃ mẫm đi t́m lời
giải đáp về chân tính của ḿnh. Lời lư giải
th́ nhiều và đa dạng, và đôi khi cũng mâu thuẫn
nhau; nhưng điều đáng bận tâm hơn là:
“những lư giải này có đúng thực không”?
Có người cho
rằng con người do tiến hóa ngẫu nhiên mà có.
Nếu con người ngẫu nhiên mà hiện hữu, th́
con người đâu có giá trị trường tồn! Và nếu
đúng như vậy, chết là hết! Và người ta
có thể kết luận: “con người có thể làm
những ǵ ḿnh thích, ḿnh muốn, hoặc những ǵ làm
thỏa măn ḿnh”.
Một nhăn quan
như vậy về con người, kéo theo những hệ
luận vô cùng tai hại:
·
không có
hạnh phúc đích thực;
·
nếu nói
đến hạnh phúc, th́ hiểu hạnh phúc là thỏa
măn nhu cầu thể lư; nếu có nói tới nhu cầu tinh
thần, th́ tinh thần ở đây cũng chỉ là
dạng khác của thân xác;
·
con
người không là một gía trị trường tồn;
v́ tất cả sẽ hư vô khi cái chết đến;
·
con người có thể làm
tất cả; luật pháp chỉ có gía trị giúp trị
an, để đời sống “xă hội” được
dễ dàng hơn thôi, không phản ánh bản chất con
người.
Một số
người cho rằng không thể lư giải sự
hiện hữu của con người, con người là
hiện sinh “phi lư”, cuộc đời đáng “buồn nôn”.
Những
người thuộc trường phái này không biết ḿnh
từ đâu tới và ḿnh sẽ đi về đâu,
họ không thấy ư nghĩa
cuộc đời. Một nhân sinh quan như vậy sẽ
dẫn con người tới thái độ bi quan chán
chường:
·
họ có
thể sống buông thả theo những khuynh chiều “thú
tính” của con người;
·
và tệ
hơn, họ có thể tự tử nếu họ gặp
quá nhiều thất bại trên đường đời!
“Ấy Con Tạo đành hanh quá quắt,
Chết đuối người trên cạn mà chơí”!
Tại sao lại có lắm
cảnh éo le trong cuộc đời? Phải chăng con
người chỉ là tṛ chơi của Tạo Hóa, của
những thần linh “thích vui đùa trên sự đau
khổ của con người”? Phải chăng con
người đă có một phần số rơ ràng, không ǵ có
thể tránh được?[1]
Tại sao có sự ác, phải chăng v́ Tạo Hóa muốn
vậy, bởi v́ Tạo Hóa quyền năng vô cùng mà?
Một cái nh́n sai
lệch về Thiên Chúa kéo theo cái nh́n sai lệch về con
người. Và nếu chấp nhận cái nh́n như
vậy về con người và về Thiên Chúa, th́ con
người không thể sống hạnh phúc
được v́ luôn ở trong t́nh trạng lo sợ
bất an.
Thiên Chúa không
phải là “ông kẹ”, cũng không phải là “Con Tạo
đành hanh quá quắt”, cũng không phải là ông chủ
độc ác, nhưng là Cha Vô Cùng Nhân Từ và Yêu
Thương.
“Thiên Chúa muốn
cho tất cả mọi ngựi được cứu
độ và nhận biết chân lư” (1Tm.2,4). Thiên Chúa
muốn chia sẻ hạnh phúc với con người khi
Ngài tạo dựng con người.
Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc tạo
dựng con người, và Ngài đă tạo dựng con
người v́ t́nh yêu và trong
t́nh yêu. Không ǵ buộc Thiên Chúa phải tạo dựng
con người; và việc Ngài tạo dựng con
người không mang lại ǵ thêm cho bản tính Thiên Chúa.
Thiên Chúa có thể
không tạo dựng con nguời mà Ngài vẫn hạnh phúc
tṛn đầy; thế nhưng v́ yêu thương con
người nên Ngài đă tạo dựng con người, và
Ngài muốn con người được hạnh phúc
vĩnh cửu với Ngài: “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (1Yn.4, 8.16).
Thiên Chúa tạo
dựng con người, v́ Ngài muốn cho con nguời thông
phần hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa.
Hạnh phúc
đích thực và vĩnh cửu của con người,
không hoàn toàn nằm trong tầm tay con người, nhưng
cũng không phải là điều mà con người không
thể có được. Con người có thể sống
hạnh phúc, nhưng con người không thể sống
hạnh phúc thật nếu con người muốn tách
biệt hay độc lập với Thiên Chúa.
Hạnh phúc
vĩnh cửu, là thuộc tính của Thiên Chúa; hạnh phúc
vĩnh cửu nơi con người chỉ có thể có,
nếu con người sống hiệp thông với Thiên
Chúa, thuộc trọn về Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn luôn
hạnh phúc, và chỉ những ai nên giống Thiên Chúa
mới hạnh phúc thật sự mà thôi.
“Thiên Chúa là T́nh
Yêu” (1Yn.4, 8. 16). Ai yêu thương th́ nên giống Thiên Chúa, và
ai không yêu thương th́ không giống Thiên Chúa. Như
vậy, chỉ những người sống yêu
thương mới hạnh phúc và hạnh phúc thật
sự.
Thiên Chúa tạo
dựng con người “giống h́nh ảnh Ngài” (Stk.1,26),
Ngài tạo dựng con người tự do, Ngài tạo
dựng con người có khả năng yêu thương để
sống hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. Thế
nhưng con người “tự do” đă không sống yêu
thương như Thiên Chúa muốn, con người đă
lạm dụng tự do để thù ghét và làm hại anh em
ḿnh : đó là tội! Để con người
được hạnh phúc, cần
Thiên Chúa cứu độ con người, làm cho con người sống yêu
thương: yêu Chúa và yêu người. Cứu độ
con người, là làm con người sống yêu
thương, để con người giống Thiên Chúa,
để con người được hạnh phúc.
Thiên Chúa là T́nh Yêu,
Ngài là Đấng chỉ biết yêu thương, và làm
tất cả v́ yêu thương: “Ngài tạo dựng con
người để con người sống và hạnh
phúc vĩnh cửu với Ngài”. Thực tế con
người đă từ chối t́nh yêu của Ngài, từ
chối sống thông hiệp với Ngài, và như vậy là
xúc phạm Thiên Chúa, là tội. Tuy vậy, Thiên Chúa đă
không bỏ mặc con người, Ngài tiếp tục yêu
thương con người qua hành vi làm con người
trở về sống thông hiệp với Ngài, đáp
trả t́nh yêu của Ngài.
Từ đời
đời Thiên Chúa đă biết con người từ
chối Ngài, phản bội Ngài khi Ngài tạo dựng
họ “tự do”; nhưng Thiên Chúa vẫn tạo dựng
con người; và Ngài có chương tŕnh cứu độ
con người khi Ngài quyết định tạo dựng
con người “tự do”. Tự do của con người
vẫn được tôn trọng và bảo vệ[2].
Các kitô-hữu tiên
khởi đă diễn tả chương tŕnh Thiên Chúa yêu
thương và cứu độ con người qua bài ca
trong thư gởi Eâphêsô của thánh Phaolô:
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ đức Yêsu Kitô
Chúa chúng ta.
Trong đức Kitô, từ cơi trời Người
đă thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc
của Thánh Thần.
Trong đức Kitô, Người đă chọn ta
trước cả khi tạo thành vũ trụ,
để trước thánh
nhan Người ta trở nên tinh tuyền thánh thiện
nhờ t́nh thương của Người.
Theo ư muốn và ḷng nhân ái của Người,
Người đă tiền định cho ta làm nghĩa
tử nhờ đức Yêsu Kitô, để ta hằng
ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng
người đă ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu
dấu.
Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra mà
chúng ta được cứu chuộc được
thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất
phong phú của Người.
Aân sủng này Thiên Chúa đă rộng ban cho ta cùng
với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu.
Người cho ta được biết Thiên Ư
nhiệm mầu: Thiên Ư này là kế hoạch yêu thương
Người đă tiền định từ trước
trong đức Kitô.
Đó là đưa thời gian tới hồi viên măn là
quy tụ muôn loài trong trời đất dưới
quyền một thủ lănh là đức Kitô.
Cũng trong đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm
nên mọi sự theo quyết định và ư muốn
của Người, đă tiền định cho chúng tôi
đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của
Người, để chúng tôi là những người
đầu tiên đặt hy vọng vào đức Kitô, chúng
tôi ngợi khen vinh quang Người.
Trong đức Kitô cả anh em nữa, anh em đă
được nghe lời chân lư là Tin Mừng cứu
độ anh em; vẫn trong đức Kitô, một khi anh em
đă tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần,
Đấng Thiên Chúa đă hứa.
Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp
của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa
được cứu chuộc, để ngợi khen vinh
quang Thiên Chúa”(Eph.1,3-14).
Phạm tội là
từ chối Thiên Chúa và muốn độc lập với
Ngài. Qua hành vi phạm tội con người chọn và làm
ḿnh trở thành “qủy”. Điều này không hợp lư và
“không hiểu được”, nhưng đó lại là
sự thật! Một điều ác điều dữ, tại
sao con người vẫn làm?!
Thiên Chúa đă yêu
thương con người ngay cả khi con người là
tội nhân. Đây cũng là điều “không hiểu
được”!
Thiên Chúa yêu
thương con người, Ngài muốn con người
hạnh phúc, Ngài muốn con ngựi trưởng thành và
triển nở về mọi phương diện. Nhưng
thực tế, bằng chính hành vi phạm tội của
ḿnh, con người đă từ chối vươn lên và
đă đồng hóa ḿnh với con vật, và đôi khi c̣n
tệ hơn cả con vật, chẳng hạn
trường hợp con nguời lợi dụng lư trí
của ḿnh nhằm diệt hẳn một dân tộc như
hành vi của Hitler đối với dân tộc Do Thái
thời đệ nhị thế chiến. Tội là xúc
phạm Thiên Chúa bằng hành vi từ chối sống yêu
thương như Thiên Chúa đă muốn cho con
người.
Tŕnh thuật “sa
ngă” của sách Sáng Thế Kư chương 3 cho thấy: con
người không tin rằng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, mà
hơn nữa lại tin vào ma qủy qua h́nh ảnh con
rắn, coi Thiên Chúa là Đấng lừa dối ḿnh, cho
rằng Thiên Chúa không muốn cho con người trở thành
thần linh, coi Thiên Chúa như một vị sợ con
người được “ngang hàng” với ḿnh. Khi con
người không tin vào Thiên Chúa nữa, th́ con người
không c̣n trông cậy vào Thiên Chúa, và con người không
sống trong t́nh yêu của Ngài nữa. Tội là từ
chối t́nh yêu của Thiên Chúa.
Không ai có thể
tha tội nếu không phải là chính Thiên Chúa (Mc.2,7). Quan
niệm này của người Do Thái hoàn toàn chính xác: con
người không thể đền được tội
mà ḿnh đă xúc phạm đến Thiên Chúa. Chính v́ thế
con người cần được Thiên Chúa cứu
độ.
Con người
đầu tiên đă phạm tội cách tự do, và bây
giờ con người vẫn c̣n tự do để
phạm tội hay không phạm tội; thế nhưng
kể từ biến cố
phạm tội đầu tiên của con người
đó, con người cảm thấy ḿnh “như thể
bất lực” để làm điều tốt ḿnh
biết là nên làm hay phải làm.
Kinh nghiệm
đời sống thiêng liêng cho thấy: có nhiều lúc trong
đời tôi không muốn phạm tội, tôi không muốn
làm “điều đó” nữa, nhưng rồi tôi lại đă
tự do làm điều tôi đă quyết định
rằng sẽ không bao giờ làm nữa; sau khi làm
điều đó rồi, tôi lại hối hận v́ ḿnh
đă làm điều đó... và rồi lại quyết
định...!
Con người
đă bị ảnh hưởng bởi tội, và
đặc biệt bởi tội đầu tiên đó. Con
người đă bị “yếu” kể từ khi con
người phạm tội, và con người càng trở
nên yếu khi con người càng ch́m sâu trong tội. Có
lẽ ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về
điều này.
Kinh nghiệm
“điều tôi muốn (tôi biết là đúng, là nên làm) tôi
không làm, nhưng tôi lại làm điều tôi không muốn
(tôi biết là không đúng và không nên làm)” của thánh Phaolô
(Rm.7,19), là kinh nghiệm “bất lực” của con
người, và đúng hơn của mầu nhiệm
tự do của con người, của tội. Khi nói con
người cảm nghiệm sự “bất lực làm
điều tốt”, người viết hoàn toàn không có ư
muốn nói “con người không c̣n khả năng hành
thiện”, hoặc “con người mất tự do
để làm điều tốt”! Con người vẫn
c̣n khả năng chọn lựa làm điều tốt hay
điều xấu tùy họ.
Ai cứu tôi
khỏi t́nh trạng khốn nạn này?
“Tạ ơn Chúa,
nhờ đức Yêsu Kitô Chúa chúng ta!”(Rm.7,24-25). “Trong
đức Kitô và nhờ đức Kitô, chúng ta
được cứu chuộc, được thứ tha
tội lỗi”(Eph.1,7).
Nhập thể là
sáng kiến t́nh yêu tuyệt vời của Thiên Chúa
để cứu độ con người, bởi v́ con
người không thể trả gía đền tội ḿnh,
v́ con người chỉ là tạo vật: “chỉ có Con
Chiên mới xứng đáng mở sách ấy mà thôi”(Kh.5,9)!
Chỉ có Con Thiên Chúa mới có thể trả
được giá “thục hồi” cho Thiên Chúa, và như
vậy chỉ có đức Yêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập
Thể, Con Thiên Chúa làm người, mới có thể
cứu độ được con người mà thôi.
Con người
từ chối T́nh Yêu Thiên Chúa, con người coi
thường và cho rằng ḿnh không cần Thiên Chúa. Thái
độ khinh thường Thiên Chúa là thái độ
đáng tội. Làm sao để cứu độ con
người?
Làm sao để
cứu độ con người?
V́ con người
là hữu thể tự do, nên Thiên Chúa không thể cứu
độ được con người nếu con
người không chấp nhận.
Con người
được cứu độ nếu con người coi
trọng Thiên Chúa và mệnh lệnh của Ngài, nếu con
người vâng phục Thiên Chúa, tin tưởng và phó thác
nơi Thiên Chúa. Cứu độ con người, là làm cho
con người cảm nghiệm được rằng
Thiên Chúa yêu con người, và đó là sứ mạng
của đức Yêsu.
Cứu độ
con người là hướng dẫn và trợ giúp con
người, làm sao để con người cảm
được Thiên Chúa yêu thương họ, và rồi
họ đáp trả t́nh yêu, và như vậy là con
người được hạnh phúc, được
cứu độ.
Sứ mạng
của đức Yêsu là làm sao để con người
cảm được rằng Thiên Chúa yêu thương con
người. Để thực hiện công tŕnh cứu độ
này, Thiên Chúa đă có cả một chương tŕnh, và
trải dài trong gịng lịch sử, đặc biệt là
nơi dân tộc Do Thái với lịch sử của
họ.
Có thể nói:
sứ mạng của đức Yêsu là làm chứng cho T́nh
Yêu, là chứng nhân t́nh yêu: làm cho con người cảm
nghiệm Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.
Liệu Thiên Chúa
có thể cứu độ con người mà không cần
Ngôi Lời nhập thể, không cần đức Yêsu
phải chết không?
Nếu Ngôi
Lời không nhập thể, liệu con người có tin
Thiên Chúa yêu con người không? Nếu đức Yêsu không
chịu chết, liệu con người có được đánh
động bởi hành động và đời sống
của Ngài, để cảm nhận rằng Thiên Chúa yêu
thương ḿnh không?
Bằng hành vi
nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa vĩnh viễn thành
người:
·
Đức
Yêsu sống hoàn toàn như con người (trừ tội,
v́ tội không thuộc bản chất con người). Ngài
biết đói, biết khát, biết đau, biết khổ
nhục; Ngài bị cám dỗ trong hoang địa, trong
vườn dầu, trên thập giá; Ngài bị thử thách
về đức tin nhưng không bao giờ qụy ngă[3].
·
Ngài luôn nói
sự thật dù người ta không tin và không chấp
nhận Ngài (Mc.2,7), dù người ta kết án tử h́nh
Ngài (Mc.14,62).
·
Ngài ư
thức Ngài chết v́ yêu thương con người, v́
Ngài hiến mạng Ngài cho con người: “không có t́nh yêu
nào lớn hơn t́nh yêu của Người hiến
mạng sống ḿnh v́ bạn hữu” (Yn.15,13).
Dường
như thập giá là con đường duy nhất diễn
tả t́nh yêu một cách
thuyết phục nhất. Một cô gái có thể tin
rằng một anh nào đó nói yêu cô ta, là thực chăng?
Nếu cô gái này khôn ngoan, cô ta biết ḿnh có thể bị
lừa! Để tin lời nói của người đó
có thực không, cô ta cần có thời gian để
nghiệm xét: chính qua hành động và đời sống,
chứ không chỉ bằng lời nói, mà cô ta biết
được anh ta có yêu cô ta thực không! Chính nhờ hành
động, xem người đó có hy sinh quên ḿnh v́ tôi
không, xem người đó có muốn tôi được
hạnh phúc thực không, mà tôi nhận biết người
đó có yêu tôi thực không. Cũng tương tự
như vậy, qua việc Đức Yêsu dám chết v́ yêu
con người, mà con người tin biết rằng Ngài
yêu con người, và nhờ Ngài mà con người cũng
biết rằng Thiên Chúa yêu con người vô cùng.
Tội là coi
thường Thiên Chúa, không tin Thiên Chúa, không trông cậy ǵ
nơi Ngài, không vâng phục Ngài! Nhưng Thiên Chúa luôn yêu
thương con người, Ngài sẵn sàng tha thứ
tội lỗi con người đă xúc phạm đến
Ngài, Ngài mong muốn con người trở lại với
Ngài, để con người được hạnh phúc.
Khi con người trở lại với Ngài, rung
động trước t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với ḿnh, trân trọng Thiên Chúa, tín thác nơi Thiên Chúa, vâng
phục Thiên Chúa trong mọi sự..., th́ con người
được cứu độ.
Rung động
trước t́nh yêu của đức Yêsu và của Thiên Chúa
đối với con người, hối hận v́ tội
lỗi ḿnh, ao ước đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa
bằng chính cuộc sống ḿnh, đó là khởi
đầu ơn cứu độ. Chính t́nh yêu của Thiên
Chúa đối với con người và làm con người
đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa, làm cho con người
được sống, và sống tṛn đầy, sống
hạnh phúc.
T́nh yêu không
chỉ là cảm giác, và t́nh yêu cũng không chỉ là lư trí.
T́nh yêu diễn tả và cảm nhận bằng cả lư trí
và thân xác. Con người cần cảm nghiệm Thiên Chúa
yêu thương ḿnh bằng
cả con người, để ḿnh sống một
đời đầy ư nghĩa, và được hạnh
phúc.
Cứu độ
con người là chương tŕnh của cả Ba Ngôi Thiên
Chúa:
·
Thiên Chúa Cha
như nguồn gốc mọi sự, là sáng kiến của
chương tŕnh;
·
Thiên Chúa Con
như Lời thực hiện chương tŕnh qua hành vi
nhập thể vĩnh viễn;
·
Và Thánh
Thần hoạt động
trong tâm hồn mỗi người để dẫn
đưa con người trở về với Thiên Chúa[4].
Thánh Thần giúp các tông đồ hiểu Lời của
đức Yêsu (Yn.14,26), dẫn đưa các tông đồ
vào tất cả sự thật (Yn.16,13), giúp các tông
đồ làm chứng cho đức Yêsu (Yn.15,26-27). Thánh
Thần hoạt động trong Hội Thánh để giúp
các Kitô-hữu sống đức tin, và giúp các Kitô-hữu
rao giảng tuyên xưng đức Yêsu Phục Sinh là Thiên
Chúa.
Con người là
tạo vật được Thiên Chúa yêu thương, nên
cứu độ con người là công việc quan
trọng đối với Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu
thương con người, và yêu con người vô cùng.
Thiên Chúa Cha yêu con người như yêu chính Con Một
của Ngài (Yn.17,23), và Ngài yêu con người đến
độ ban Con của Ngài cho con người (Yn.3,16). Chúa
Yêsu yêu con người như
Thiên Chúa Cha yêu Ngài (Yn.15,9), và Ngài yêu con người
đến độ hiến mạng sống bản thân
Ngài cho con người (Yn.15,13), và c̣n biến bánh
rượu thành thân xác Ngài để trở thành của
ăn của uống cho chúng
ta.
Chính v́ yêu
thương con người nên Thiên Chúa luôn ở với con
người:
·
“Nơi nào
có hai hay ba người họp nhau v́ danh Thầy, th́
Thầy ở giữa họ” (Mt.18,18). “Này đây Thầy
ở cùng anh em cho đến tận thế” (Mt.28,20);
·
“Ai yêu
mến Ta th́ giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương
người đó, và chúng ta sẽ đến và ở
với người đó” (Yn.14,23);
·
“Thầy
sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng
Bầu Chữa khác, để Ngài ở với các con luôn
măi” (Yn.14,16).
Yêu nhau,
người ta muốn ở gần nhau. Thiên Chúa muốn
ở với chúng ta, và Ngài muốn chúng ta ở trong t́nh yêu
của Ngài (Yn.15,9). Thiên Chúa ở với chúng ta để
cứu độ chúng ta, để chúng ta sống hạnh
phúc với Ngài.
“Sự sống
đời đời là chúng nhận biết Cha và
đức Yêsu Đấng Cha sai” (Yn.17,3).
Để
sống hạnh phúc tṛn đầy, con người cần
biết ḿnh đang hạnh phúc. Chúa Thánh Thần là thầy
dạy chúng ta, Ngài giúp chúng ta nhận ra sự thật
cứu độ: ”Thánh Thần sẽ dẫn chúng con vào
tất cả sự thật” (Yn.16,13). Không có Thánh Thần,
con người không thể làm ǵ tốt, ngay cả việc
tin đức Yêsu là Thiên Chúa: “Không ai tuyên xưng đức
Yêsu là Kitô, nếu không bởi Thánh Thần” (1Cor.12,3).
Thánh Thần giúp
con người tin vào đức Yêsu và tin vào Thiên Chúa, giúp
con người cầu nguyện than thở với Thiên Chúa
(Rm.8,26-27), giúp con người sống b́nh an hạnh phúc,
giúp con người
hưởng ân phúc cứu độ.
“Không ai có thể
đến với Ta, nếu Cha, Đấng đă sai Ta, không lôi kéo nó, và Ta
sẽ cho nó sống lại ngày sau hết” (Yn.6,44).
Con người
không thể tự cứu chính ḿnh, nhưng chính Thiên Chúa
cứu độ con người: Thiên Chúa cứu
độ con người nhưng cần con người
ưng thuận cách tự do.
Chính Thiên Chúa lôi kéo
con người đến với Thiên Chúa, chứ không
phải con người tự ḿnh có khả năng
đến với Thiên Chúa. Thiên Chúa lôi kéo con người,
và con người ưng thuận để Thiên Chúa lôi kéo
ḿnh đến với Ngài. Lôi kéo con người đến
với Thiên Chúa mà con người vẫn hoàn toàn tự do,
đó là đặc điểm của Thiên Chúa.
Thiên Chúa là T́nh Yêu,
Thiên Chúa yêu con người, nên “Ngài muốn tất cả
mọi người được cứu độ và
nhận biết chân lư” (1Tm.2,4). Ngôi Lời Thiên Chúa đă nhập
thể làm người để ở măi với con
người theo cách thức mà con người lănh hội
được; Thánh Thần Thiên Chúa luôn hoạt
động trong con người để lôi kéo con
người đến với Thiên Chúa, để làm con
người rung cảm trước t́nh yêu Thiên Chúa,
để con người có thể sống an b́nh và phó thác
tất cả trong tay Thiên Chúa, để con người
được hạnh phúc.
Tuy con
người hoàn toàn tự do nhưng Thiên Chúa lại
rất tuyệt vời: Ngài
chinh phục con người bằng t́nh yêu.
Thiên Chúa yêu
thương con người, Ngài muốn những điều
tốt lành cho con người, Ngài muốn con người
được hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài.
Sở dĩ như vậy, bởi v́ khi yêu, người ta
muốn cho người ḿnh yêu được những
điều tốt lành, được hạnh phúc đích
thực.
Thiên Chúa muốn
con người được sống hạnh phúc tṛn
đầy với Ngài: “Ta đến để chúng
được sống, và sống sung măn” (Yn.10,10).
Thiên Chúa Cha đă
ban Con Ngài cho con người (Yn.3,16), Chúa Con đă ban chính
ḿnh Ngài cho con người qua bí tích Thánh Thể và bằng
hành vi chết cho người ḿnh yêu (Mc.14,24-25; Yn.15,13), Thánh
Thần hiện diện với con người như quà
tặng của Ba Ngôi (Yn.14,16).
Để
hạnh phúc và cảm nghiệm hạnh phúc, cần có
tự do.
Thiên Chúa luôn tôn
trọng tự do của con người. Chính v́ vậy,
Ngài chỉ mời gọi và đề nghị, c̣n tùy con
người có đáp trả hay không.
Thiên Chúa tôn
trọng ư muốn của con người; ngay cả khi con
người không đáp trả lại t́nh yêu của Ngài,
không làm theo ư muốn của Ngài, th́ Ngài vẫn kiên nhẫn
chờ đợi, Ngài vẫn luôn tác động để
con người trở lại với Ngài, hầu con
người được sống hạnh phúc đích
thực.
Khi yêu nhau, họ
trở nên một, một thân xác một tinh thần. Nói
một cách chính xác, những người yêu nhau đều
hướng tới hiệp nhất dù mỗi cá vị
vẫn được tôn trọng và duy tŕ: “Ḿnh với ta
tuy hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai”. Hai
người yêu nhau, sẽ được hạnh phúc
hơn khi họ cùng lư tưởng, cùng ước muốn
và đồng cảm[5].
Chúa Yêsu yêu Chúa Cha,
nên đă lấy Ư Cha làm ư Ngài (Mc14,36), đă lấy Ư Cha làm
của ăn (Yn.4,34). Cũng tương tự như
vậy, khi con người yêu Thiên Chúa, sẽ lấy ư Thiên
Chúa làm ư ḿnh, sẽ vâng giữ Lời Ngài: “Ai yêu mến Ta
th́ giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu mến người
đó, và chúng ta sẽ đến và ở nơi người
đó” (Yn.14,23).
Con người
chỉ có thể nên một với Thiên Chúa trong cầu
nguyện, nếu con người đă cố gắng
để nên một với Thiên Chúa trong suốt
đời sống thường ngày.
Trong t́nh yêu
người ta thường nghe nói, “Anh là tất cả
với em” hoặc “Em là tất cả với anh”. Khi hai
người yêu nhau, người này là qúy nhất với
người kia. Chính v́ thế, ư kiến hay ư thích của người
yêu rất được coi trọng.
Ai càng yêu th́ càng
yếu, v́ khi yêu người ta muốn chiều ḷng
người ḿnh yêu, để thấy người yêu
hạnh phúc và ḿnh cũng được hạnh phúc v́
người ḿnh yêu hạnh phúc.
Khi yêu nhau,
người ta tin tưởng lẫn nhau và có thể tin
tưởng cậy nhờ người ḿnh yêu, v́ ḿnh tin
rằng người ḿnh yêu sẽ làm theo ư ḿnh. Khi yêu,
người ta tin tưởng trông cậy lẫn nhau.
Tội là coi thường và không tin tưởng trông
cậy ǵ nơi Thiên Chúa, c̣n yêu Thiên Chúa là trân trọng và tin
tưởng phó thác đời ḿnh trong tay Thiên Chúa là
Đấng yêu thương ḿnh.
Tin rằng Thiên
Chúa yêu thương ḿnh, và Ngài sẽ làm cho ḿnh những
điều tốt lành nhất, và như vậy ḿnh sẽ
b́nh an hạnh phúc để phó thác đời ḿnh trong tay
Thiên Chúa.
Con người
không có tự do tuyệt đối, nhưng con
người chỉ tự do trong hành động của
ḿnh.
Là tinh thần
nhập thể, nên con người trở thành tinh thần
qua thân xác, nghĩa là, con người được
mời gọi vượt lên những khuynh chiều xác
thịt để thành nhân, để nên thánh, để
sống như Thiên Chúa muốn, để thuộc trọn
về Thiên Chúa.
Lư trí con người với những h́nh ảnh được cảm thụ qua giác quan, do tác động bởi những khuynh chiều thân xác, làm nên trí tưởng tượng. Trí tưởng tượng thuộc về “tôi”, cấu thành con người tôi, nhưng “tôi” không chỉ là nó; tôi hoàn toàn tO