ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

 

 

 

HOME     LINH ĐẠO     ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN       HPH1       HPH2       HPH3       HPH4       HPH5

 

 

ĐỂ TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC HƠN

 

Joseph Phạm Thanh Liêm, S.J.

 

 

D. LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ.. 1

1). Mục đích và yêu cầu. 1

2). Những bản văn dùng cầu nguyện. 2

3). Ghi chú. 3

E. NGÀY  YNHĂ.. 5

1). Mục đích yêu cầu. 5

2). Những bản văn Kinh Thánh có thể dùng cầu nguyện. 5

3). Chọn lựa. 6

4). Xét gẫm.. 8

F. CON ĐƯỜNG T̀NH YÊU.. 9

1). Mục đích yêu cầu. 9

2). Bản văn Kinh Thánh được dùng. 10

G. PHỤC SINH.. 11

1). Mục đích yêu cầu. 11

2). Bản văn Kinh Thánh được dùng. 11

H. CHIÊM NIỆM ĐỂ ĐƯỢC T̀NH YÊU.. 12

1). Mục đích yêu cầu. 12

2). Xin Chúa làm cho con yêu Chúa. 12

*** ĐỂ DUY TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO.. 13

1). Luôn sống đời sống thường ngày với ư thức Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ḿnh  13

2). Vui nhận Ư Chúa làm ư ḿnh. 13

3). Hy sinh hăm ḿnh liên lỉ 14

 

 

D. LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO PHÓ

            Chúng ta đang ở trong tuần thứ hai của Linh Thao: cầu nguyện về Ngôi Lời nhập thể, từ mầu nhiệm nhập thể cho đến ngày đức Yêsu được rước vào thành Yêrusalem cách long trọng.

1). Mục đích và yêu cầu

            “Xin hiểu biết thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người v́ tôi, để yêu Ngài hơn và theo Ngài” (LT.104).

a). Hiểu Chúa hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn

            Vô tri bất mộ. Nếu càng hiểu biết về Chúa, th́ sẽ càng yêu mến Chúa hơn. Cái biết ở đây không chỉ là cái biết do nghe nói, nhưng chủ yếu là cái biết thâm sâu do được cảm nghiệm.

            Thiên Chúa là ai? Là Đấng yêu tôi đến độ nhập thể làm người v́ tôi. Nếu Thiên Chúa yêu tôi như vậy, tôi phải làm ǵ để đáp lại t́nh yêu của Thiên Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu mới đáp trả được t́nh yêu.

            T́nh yêu được diễn tả cách cụ thể, chính Thiên Chúa đă nhập thể để phục vụ con người: “con người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc.10,45); c̣n tôi, tôi phải làm ǵ để yêu Thiên Chúa đây? Tôi phải nên giống Ngài, phải theo Ngài.

b). Đồng h́nh đồng dạng với Chúa hơn

            Hiểu Chúa hơn, để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn. Đó là cách nói khác của cùng nội dung “để trở nên đồng h́nh đồng dạng với đức Yêsu Kitô” (Pl.3,10), “nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người, nếu ta cùng đau khổ với Người, ta sẽ cùng thống trị với Người”, “tôi sống nhưng không c̣n phải tôi sống, nhưng là chính đức Kitô Ngài sống trong tôi” (Gl.2,20).

            Nên giống Chúa Yêsu hơn, v́ Chúa Yêsu là người mẫu của chúng ta, Ngài là thần tượng, là Đấng mà chúng ta phải bắt chước và quy chiếu về. Yêu thương là trở nên một với nhau, nếu chúng ta yêu thương Thiên Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa Yêsu hơn.

2). Những bản văn dùng cầu nguyện

a). Mầu nhiệm nhập thể

·        Lời đă thành xác phàm (Yn.1,1-18);

·        Nhập thể là tự hủy (Pl.2,6-11);

·        Sinh bởi người nữ (Gl.4,4-6);

·        LT.101-109

b). Đời b́nh thường “phi thường”

·        Lời nhập thể được giáng sinh (Lc.2,1-20);

·        Lời Thiên Chúa Nhập Thể được cắt b́ và đặt tên (Lc.2,21);

·        Đức Yêsu được dâng trong đền thờ (Lc.2,22-40);

·        Trốn sang Ai-cập (Mt.2,13-23);

·        Đức Yêsu thời thơ ấu (Lc.2,39-40);

·        Đức Yêsu ở lại đền thờ (Lc.2,41-50);

·        Đức Yêsu sống một thời gian rất dài ở Nadarét (Lc.2,51-52).

c). Con đường đức Yêsu đi

·        Đức Yêsu chịu phép rửa (Mc.1,1-13);

·        Đức Yêsu chịu cám dỗ (Mt.4,1-11);

·        Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc.1,21-39);

·        Đức Yêsu luôn t́m và thực hiện Thánh Ư Cha (Yn.4,34);

·        Mối phúc thật (Mt.5,1-12);

·        Thái độ của dân chúng đối với đức Yêsu (Mc.1,32-3,12);

·        Thái độ của người thân, kư lục và biệt phái đối với đức Yêsu (Mc3,20-30);

·        Khủng hoảng sứ vụ tại Galilê (Mc.4);

·        Hạt giống âm thầm mọc (Mc.4,26-29);

·        Loan báo tin mừng bằng trừ qủy (Mc.5-6);

·        Các tông đồ không hiểu đường lối của đức Yêsu (Mc.4;6);

·        Đức Yêsu là Kitô (Mc.8,27-30);

·        Con đường đức Yêsu đi là con đường thập giá (Mc.8,31-33);

·        Ai muốn theo tôi phải vác thập giá ḿnh (Mc.8,34-9,1);

·        Con đường đức Yêsu đi: cầu nguyện và ăn chay (Mc.9,14-29);

·        Con đường đức Yêsu đi: phục vụ (Mc.9,33-37);

·        Con đường đức Yêsu đi: yêu thương (Mc.12,28-34);

·        Tinh thần của đức Yêsu (Mc.9,38-41);

·        Không muốn hiểu bài học thập giá (Mc.10,32-45);

·        Người mù được sáng (Mc.10,46-52);

·        Những người không chấp nhận con đường đức Yêsu đi (Mc.11,15-19;12,1-12;12,13tt);

·        Đức Yêsu, con người tự do (với bạc tiền,danh vọng, t́nh duyên);

3). Ghi chú

            Chúng ta t́m hiểu thêm về cầu nguyện và nhận định thần loại. Trước tiên chúng ta t́m hiểu cầu nguyện như chiêm niệm, sau đó t́m hiểu về các quy luật nhận định thần loại tuần thứ hai.

a). Cầu nguyện như chiêm niệm

            Trong những bài cầu nguyện về mầu nhiệm nhập thể, giáng sinh, ..., thánh Y-nhă đều chỉ cách chiêm niệm.

i). Nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích lợi

            Nh́n đức Yêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Nghe đức Yêsu, suy nghĩ để rút ích lợi; Quan sát cung cách hành xử của đức Yêsu, suy nghĩ để rút ích lợi: đó là cách cầu nguyện “chiêm niệm”.

            Có những đề tài cầu nguyện không thể chiêm niệm được, nhưng nếu đề tài cầu nguyện là về Chúa Yêsu, th́ có thể áp dụng cách cầu nguyện chiêm niệm.

ii). Để nên đồng h́nh đồng dạng với Chúa Yêsu hơn

            Chúng ta nh́n, nghe, quan sát, để thấy Chúa đă nh́n nghe hành xử như thế nào trong những trường hợp và t́nh huống khác nhau, để ḿnh trở nên giống Thiên Chúa hơn, giống đức Yêsu hơn.

            Trở nên giống đức Yêsu hơn, nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài, không phải trên b́nh diện thể lư, nhưng trên b́nh diện thiêng liêng: có con tim “nhân từ, bao dung, thương yêu” như Chúa, có ánh mắt “nhân từ, trong sáng, cảm thông” như Chúa, có cung cách hành xử “độ lượng, kiên nhẫn, cương quyết dứt khoát” như Chúa.

            Chúa Yêsu luôn là mẫu để chúng ta noi theo và bắt chước: quan điểm lập trường của Ngài, cách sống của Ngài. “Để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn”, đó là mục đích của những bài cầu nguyện tuần thứ hai này.

b). Nhận định thần loại

            Thiên Chúa muốn con người được sống trong t́nh yêu và hạnh phúc với Ngài; các thần lành cũng muốn chúng ta sống trong hạnh phúc với Thiên Chúa như các ngài; c̣n các thần dữ th́ luôn chống đối Thiên Chúa và t́m mọi cách để làm con người sống xa Thiên Chúa.

            Khi có nguyên do, cả thần lành lẫn thần dữ đều có thể “an ủi”, nhưng nhằm mục đích trái ngược (LT.331).

i). An ủi không cần trung gian

            Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tác động trực tiếp trên con người không cần trung gian; Điểm đặc biệt của Thiên Chúa là có thể lôi kéo con người đến với Ngài không qua trung gian, mà con người hoàn toàn tự do (LT.330).

            Chỉ có Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự do con người; đó là lư do tại sao chúng ta cầu nguyện xin Thiên Chúa biến đổi một người, xin cho người nào đó trở lại. Làm một người trở lại, đó là khả năng chỉ có một Thiên Chúa mới có thể làm được (mà người đó vẫn hoàn toàn tự do).

            Thiên Chúa có thể dùng trung gian để biến đổi một người, và Ngài cũng có thể biến đổi một người không cần dùng trung gian, mà con người vẫn hoàn toàn tự do[1].

ii). Cầu nguyện bị giảm sút hay bất an

            Đối với một người đang tiến tới trên đàng thiêng liêng, nếu người đó biết điều ǵ đó là do ma qủy th́ chắc chắn người đó sẽ không theo; như vậy, để làm con người đi theo đường lối tà vạy của ḿnh, ma qủy thường hay giả dạng thần lành để dẫn đưa người đó theo lối đồi tệ của nó (LT.332).

            Nếu một ư tưởng hay một điều nào đó lúc đầu có vẻ tốt lành thánh thiện, nhưng sau đó lại làm chúng ta cầu nguyện không được: như làm chúng ta chia trí phân tâm trong cầu nguyện, làm việc cầu nguyện bị giảm sút, chúng ta thấy bối rối, không được b́nh an như trước, th́ đó là dấu chỉ cho thấy ư tưởng hay điều đó là do ma qủy (LT.333); chúng ta hăy duyệt xét lại để rút kinh nghiệm cho lần tới, để không trúng bẫy ma qủy nữa (LT.334).

 

E. NGÀY  YNHĂ

            Trong “ngày thứ tư của tuần thứ hai” (LT.136) thánh Y-nhă đề nghị một số bài cầu nguyện (Hai Hiệu Cờ, Ba Mẫu Người, Ba Bậc Khiêm Nhường) và việc “chọn lựa bậc sống”. Tuy không phải tất cả những điều trên được làm trong một ngày, nhưng chúng ta cứ quy ước gọi tạm là “ngày Y-nhă”.

1). Mục đích yêu cầu

            Thánh Y-nhă muốn ǵ khi gợi ư những bài cầu nguyện nêu trên?

            Trong tất cả các bài cầu nguyện này, thánh Y-nhă đều dạy chúng ta làm ba cuộc tâm sự: một với Đức Mẹ, một với Chúa Con và một với Chúa Cha, nài xin cho ḿnh được đứng vào dưới cờ của Chúa Yêsu bằng:

·        ơn được nghèo khó trong ḷng tột bậc, và ngay cả được ơn nghèo khó thực sự nếu Chúa được tôn vinh hơn;

·        ơn chịu xỉ nhục và khinh chê để bắt chước Chúa hơn nếu điều này không gây dịp tội cho ai và không làm mất ḷng Chúa.

a). Nhận thức, chọn và được chọn

            Trong bài cầu nguyện về Hai Cờ, thánh Y-nhă dạy chúng ta xin ơn nhận biết mưu mô của kẻ thù và ơn trợ giúp để tránh, cũng như ơn nhận biết đời sống chân thực mà Chúa dạy cùng ơn để bắt chước (LT.139). Trong bài Ba Mẫu Người, chúng ta xin ơn chọn điều nào làm vinh danh Chúa hơn (LT.152). Trong suy gẫm về Ba Bậc Khiêm Nhường, xin Chúa chọn ḿnh để ḿnh bắt chước và phục vuï Chúa hơn (LT.168).

            Như vậy chúng ta thấy, tiến tŕnh ơn xin của các bài cầu nguyện Y-nhă đi từ xin cho ḿnh nhận thức, đến xin cho ḿnh chọn, và sau đó xin Chúa chọn ḿnh vào đời sống nghèo và xỉ nhục khinh chê.

b). Để hiểu rơ hơn về con người ḿnh

            Các bài cầu nguyện Y-nhă cho chúng ta hiểu biết hơn về con người của chúng ta: xem chúng ta đă nhận thức về con đường của đức Yêsu như thế nào, và xem chúng ta có dám chọn theo đức Yêsu nghèo và bị xỉ nhục không, xem chúng ta có sẵn sàng sống như Chúa Yêsu đă sống không?

2). Những bản văn Kinh Thánh có thể dùng cầu nguyện

Hai con đường (Tv.1);

Tôi phải làm ǵ (Mc.10,17-31);

Định mạng đức Yêsu (Mc.10,32-34);

Nếu thế gian ghét các ngươi (Yn.15,18-25);

Ai muốn theo Ta (Mt.16,21-28).

3). Chọn lựa

            Từ muôn thuở Thiên Chúa đă yêu thương tôi, Ngài đă tạo dựng tôi, và tôi có chỗ trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ lưu tâm cách tổng quát về tôi, nhưng Ngài c̣n để ư lưu tâm đến từng cử chỉ hành vi biến cố của tôi (Tv.139 Lc.12,6-7); chính v́ thế trong từng biến cố chúng ta có thể hỏi “Thiên Chúa muốn tôi làm ǵ?”.

            Nếu ngay cả việc “đi đứng nghỉ ngơi” Chúa đều biết, th́ huống hồ về bậc sống của cuộc đời ḿnh: Thiên Chúa đă có chương tŕnh về tôi. Nếu Thiên Chúa muốn gọi và chọn tôi ở bậc sống nào, th́ Ngài đă tạo dựng tôi thích hợp cho bậc sống đó.

            Lời mời gọi “sống đời sống nào đó” có thể được biểu lộ nơi ḷng ao ước sống đời sống đó, hoặc có những dấu chỉ khách quan cho thấy Thiên Chúa muốn. Nếu một người khao khát sống bậc sống dâng hiến với ư hướng ngay lành[2], ḷng khao khát đó có thể là dấu chỉ cho thấy Chúa gọi người đó. Nếu khát vọng này đă có khá lâu và c̣n tồn tại cho tới ngày nay, th́ càng cho thấy “người đó được Chúa gọi” cách chắc chắn hơn. Nếu trong đời người đó có những biến cố khách quan mà người đó xác tín rằng đó chính là Chúa bảo vệ để gọi họ, th́ càng chắc chắn hơn nữa rằng “Chúa gọi họ”.

a). Lựa chọn theo thánh Y-nhă

            Lựa chọn theo thánh Y-nhă, không phải là quyết định theo ư thích của ḿnh, nhưng là chọn theo Ư của Thiên Chúa về ḿnh.

            Lựa chọn bậc sống, không có nghĩa là ḿnh thích bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó[3], nhưng: Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó.

b). Điều kiện để làm việc lựa chọn tốt

            Trong sách Linh Thao, thánh Y-nhă đề cập đến ba thời để làm việc lựa chọn; trong thời thứ ba, thánh Ynhă nói tới hai cách làm việc lựa chọn. Tuy vậy chúng ta nên cẩn thận, không phải ai cũng làm việc lựa chọn “đúng đắn” được, nhưng chỉ những người có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa con người và vũ trụ, cũng như họ phải b́nh tâm thực sự, th́ họ mới có thể lựa chọn “đúng đắn” được[4].

i). Nhận thức đúng đắn về mục đích đời người

            Để làm việc lựa chọn tốt, cần ư thức rơ mục đích đời người: Thiên Chúa tạo dựng con người để con người sống hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa, và muôn loài muôn sự được tạo dựng như phương tiện để giúp con người đi tới với Thiên Chúa.

ii). B́nh Tâm

            B́nh tâm là một điều kiện cần thiết để làm việc lựa chọn đúng đắn và chính xác: chọn lựa theo điều Chúa muốn chứ không phải theo ư riêng ḿnh thích.

            Nếu không b́nh tâm, th́ không thể chọn lựa đúng đắn được. Như vậy, chỉ nên cho những người “b́nh tâm” được làm chọn lựa, tức là những người chỉ muốn làm theo ư Chúa để tôn vinh Ngài chứ không t́m hoặc muốn làm theo ư ḿnh[5].

c). Lựa chọn[6]

            Đă là người, sống th́ phải lựa chọn. Lựa chọn là chính cuộc sống, là hành vi nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn, bao hàm con người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí lẫn ư chí.

i).Nhận ra ư Chúa về đời ḿnh

            Con người có lư trí.

            Để sống hạnh phúc, đối với chính ḿnh con người cần nhận thấy hành vi, cách sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và trong tương quan với Thiên Chúa con người cần thấy việc ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.

            Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và cảm nhận ḿnh sống triển nở, thường hay đi đôi với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa luôn yêu thương và luôn muốn con người sống hạnh phúc.

            Tôi lựa chọn bậc sống này, v́ tôi thấy bậc sống này giúp tôi sống triển nở và hạnh phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát vọng sâu xa con người tôi mà bậc sống khác không thể đáp ứng được, và như vậy tôi xác tín Chúa gọi tôi.

ii). Dứt khoát chọn

            Biết và làm, đôi khi không trùng khít với nhau nơi nhiều người. “Tri hành bất nhất”, làm cho con người không được hạnh phúc.

            Thiên Chúa muốn ai làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho họ có khả năng thực hiện điều đó. Nếu Thiên Chúa muốn ai thực hiện điều ǵ đó, th́ người đó không thể nói “lực bất ṭng tâm”. Như vậy, nếu một người thấy rơ ḿnh không thể làm điều ǵ đó, hoặc không thểå tin rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh  có khả năng làm điều đó, th́ đó là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn điều đó cho họ.

            Khả năng sống điều ḿnh xác tín, cho thấy điều xác tín có thể là Ư Chúa đối với họ. Như vậy, nếu ai tin rằng (hay thấy rằng) họ được Thiên Chúa gọi sống đời sống dâng hiến, th́ trong cuộc sống cụ thể họ phải cảm thấy sống thoải mái và hạnh phúc trong đời sống dâng hiến. Không có khả năng sống đời sống dâng hiến “một cách triển nở và hạnh phúc[7]”, là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn người đó sống đời dâng hiến.

d). Dấu chỉ việc lựa chọn được làm đúng

            Nếu chúng ta làm việc lựa chọn đúng, nghĩa là nếu chúng ta chọn điều Thiên Chúa muốn cho chúng ta, th́ chúng ta sẽ b́nh an thư thái hạnh phúc hơn, phản ánh tương quan tốt với Thiên Chúa.

            Một cách cụ thể, nếu chúng ta chọn lựa tốt, chúng ta sẽ:

·        cầu nguyện tốt, ít nhất là bằng thời gian trước khi chọn lựa[8];

·        vui hơn;

·        b́nh an, thư thái, hạnh phúc hơn.

4). Xét gẫm

            Xét gẫm cũng giúp chúng ta biết ḿnh hơn, biết tương quan của ḿnh với Chúa đang như thế nào, để ḿnh không ảo tưởng về ḿnh, và để ḿnh cải thiện t́nh trạng hiện tại.

a). B́nh Tâm

            Khi cầu nguyện về Nguyên Lư và Nền Tảng trong ngày đầu tiên, chúng ta đă xin ơn B́nh Tâm: chọn Thiên Chúa và ư định của Thiên Chúa trên hết, c̣n những sự khác th́ sao cũng được, dù là giữa nghèo và giầu, danh vọng hay xỉ nhục, ...! Hôm nay khi cầu nguyện về “ngày Y-nhă”, chúng ta đă biết giầu có, danh vọng và kiêu ngạo là những cạm bẫy của ma qủy; và nghèo khổ, xỉ nhục là con đường đích thực mà Chúa Yêsu dạy chúng ta.

            Chúng ta đă xin Chúa cho chúng ta được yêu Chúa Yêsu đến độ xin chọn nghèo và xỉ nhục với Ngài chưa?

b). Thái độ của tôi đối với nghèo và xỉ nhục

            Nghèo tinh thần là không bám víu vào tạo vật, dù là tiền bạc hay ai đó; Xin ơn nghèo tinh thần, tức là xin Chúa ơn không bám víu vào tiền bạc hay bất cứ một tạo vật nào.

            Con người có bản năng được tôn trọng. Xin ơn được xỉ nhục