Hôm qua, chúng tôi đã tường trình một số bài của Tờ Washington
Post về chuyến viếng Mỹ của Đức Bênêđíctô XVI. Hôm nay, xin trình
bầy một số bài, phần lớn có tính bình luận, về chuyến đi của ngài
trên tờ New York Times.
Tạm Biệt
Trước đám đông gần 60,000 người tại Yankee Stadium, Đức Giáo Hoàng
Bênêđíctô XVI đã kết thúc cuộc viếng thăm đầu tiên của ngài tại Mỹ
trong tư cách nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La Mã với lời nhắc nhở
đoàn chiên ằng “vâng phục” thẩm quyền giáo hội, ngay trên mảnh đất
của những người tự do, vẫn là nền tảng cho đức tin tôn giáo của họ.
Trong cuộc thăm viếng 6 ngày tại Washington và New York, Đức Giáo
Hoàng đã đề cập đến các vấn đề thế giới, thăm một hội đường Do Thái
Giáo và tỏ ý hối tiếc sâu xa về gương mù lạm dụng tình dục trẻ em
từng gây thiệt hại cho thế đứng của giáo hội tại nhiều giáo phận Mỹ.
Trong một nghi thức vào buổi sáng tại “Ground Zero”, Đức Giáo Hoàng
đã làm phép địa điểm Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới, nơi hơn 2,600
người bị thảm sát trong cuộc tấn công khủng bố, và cầu nguyện cho
hòa bình. Và buổi chiều Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng được Phó Tổng
Thống Dick Cheney chào tạm biệt tại Phi Trường Kennedy.
Nhưng tại Yankee Stadium trong một buổi chiều Chúa Nhật mát mẻ, sáng
láng, với một cử tọa đầy thán phục, Đức Bênêđíctô đã hành động chủ
yếu như một mục tử đối với 65 triệu người Công Giáo của Mỹ bằng cách
dùng những hạn từ thật đơn giản trình bầy rõ các bổn phận của họ đối
với một giáo hội từng đại diện cho điều ngài gọi là “giáo hội duy
nhất” do Thiên Chúa thiết lập trên trần gian.
Trong bài giảng Thánh Lễ, ngài nói: “Thẩm quyền. Vâng lời. Nói cho
ngay, đó không phải là những chữ dễ nói vào thời nay, nhất là trong
một xã hội vốn đặt một giá trị thật cao trên tự do bản thân”.
Ba năm sau cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người tiền
nhiệm được lòng người và nhiều đặc sủng của ngài, Đức Giáo Hoàng
Bênêđíctô, một nhà thần học uyên thâm nhưng dè dặt, đã nhẹ nhàng
nhưng không chút mập mờ phác họa lại nguồn gốc của thẩm quyền đã
được chuyển giao cho ngài và được ngài cho là yếu tính đối với giáo
hội.
Chỉ về chính mình, ngài nói rằng “Sự hiện diện quanh bàn thờ này của
người kế nhiệm Phêrô, của các anh em giám mục, linh mục và phó tế,
của các nam nữ tu sĩ và tín hữu giáo dân từ khắp 50 tiểu bang của
liên bang, đã hùng hồn nói lên sự hiệp thông của chúng ta trong đức
tin Công Giáo vốn từ các Tông Đồ truyền lại cho ta”.
Lướt qua việc một số linh mục lạm dụng tình dục trẻ em, ngài cho hay
cầu nguyện cho Nước Chúa “có nghĩa là không ngã lòng trước nghịch
cảnh, chống đối và gương mù. Nó có nghĩa là vượt thắng mọi hình thức
phân rẽ giữa đức tin và đời sống, và chống lại các thứ phúc âm giả
tạo tuyên truyền cho tự do và hạnh phúc”.
Thánh Lễ tại Yankee Stadium là biến cố công cộng lớn nhất trong lần
thăm viếng này, và được tổ chức cùng ngày với cuộc viếng thăm thân
mật nhất của ngài.
Khi đến thăm Ground Zero vào sáng Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng nói
chuyện vắn vỏi với một nhóm nhỏ các người sống sót và gia đình các
nạn nhân của cuộc tấn công 11/9. Đức Hồng y Edward M. Egan của New
York đứng bên cạnh, đọc tên từng người và miêu tả vắn tắt cho Đức
Giáo Hoàng hay người thân của họ đã mất ra sao. Một số ôm lấy tay
Đức Giáo Hoàng, và nhiều người qùy gối hôn nhẫn ngài.
Đối với những người không được mời để đích thân gặp Đức Giáo Hoàng
hay được vé tham dự các biến cố chính, người ta dựng nhiều màn ảnh
lớn để họ theo dõi. Tại Quán Thể Thao Billy trên Đại Lộ Bờ Sông ở
Bronx có tới 6 màn ảnh lớn. Ở đó, Mike Gonzale, 29 tuổi, cư ngụ ở
Woodside, Queens, im lặng ngồi theo dõi Đức Giáo Hoàng cử hành Thánh
Lễ tại vận động trường bên kia dẫy phố. Anh cho hay: “Bạn cảm thấy
năng lực; bạn cảm nghiệm được bình an. Tôi nghĩ phần lớn người ta
cảm thấy một cảm giác thanh thản thoát ra ngoài cái thế giới phức
tạp chúng ta đang sống”.
Bên trong vận động trường đầy nghẹt, năng lực ấy thấy rất rõ. Ở đấy
cả một bức tường kiên cố của khăn vàng và tiếng mừng vui. Sau Thánh
Lễ, từng làn sóng phấn khích đuổi theo đường đi của Đức Giáo Hoàng,
khởi đầu ngài còn buớc đi nhưng sau đã lên Giáo Hoàng Xa chạy quanh
đường vòng ngoài sân vận động. Họ reo hò chẳng khác trong một trận
giao banh hào hứng.
Nhiều người được phỏng vấn sau Thánh Lễ Chúa Nhật cho hay họ hết sức
xúc động được diện kiến vị Đại Diên Chúa Kitô trên trần gian. Đối
với một số người Công Giáo, vai trò người cha thiêng liêng của ngài
xem ra có tính hết sức bản thân. Sylvia Rios, 45 tuổi, cho hay: “tôi
biết ngài không vẫy tay với tôi, nhưng tôi có chỗ ngồi rất tốt, nên
mỗi lần nhìn ngài, trông giống như ngài vẫy tay đặc biệt với tôi”.
Tuy nhiên, một số người còn cho hay trong Thánh Lễ họ như được hiệp
thông với nhiều người khác và kỳ diệu một điều là sự hiệp thông ấy
xẩy ra với sự hiện của Đức Giáo Hoàng là đại biểu cho việc thiết lập
ra Giáo Hội trước đây 2,000 năm.
Christina Rivers-Caceres, 37 tuổi, lái xe từ Bushkill, Pensylvannia
với chồng là Enrique, 32 tuổi, cho hay có mặt ở Yankee Stadium làm
bà có cảm giác như một thành phần của đại gia đình Công Giáo nay đã
lên hơn một tỉ người khắp thế giới. Bà nói: “Bạn hãnh diện là người
Công Giáo. Điều ấy giúp tái khẳng định đức tin của chúng tôi”.
Efrem Menghs, một người chào hàng cho công ty điện thoại từ
Columbus, Ohio, cho hay kinh nghiệm này làm anh trở nên người tốt
hơn. “Nhìn lui chắc chắn tôi sẽ thấy rất vui vì đã tới đây tham dự
biến cố này. Tôi thấy mình đã làm một điều gì đó cho Chúa”. (Paul
Vittello, New York Times, 20-04).
Qúy Hồ Tinh
Mặt tôi vẫn còn bừng bừng sau buổi chiều dài đầy nắng tại Yankee
Stadium, và Đức Giáo Hoàng còn chưa vào máy bay để trở lại Rome, thì
các chuyên gia đã bắt đầu đưa ra đủ thứ khiếu nại về chuyến tông du
của ngài.
Một số than phiền về điều Đức Giáo Hoàng không chịu lên tiếng: ngừa
thai chẳng hạn. Số khác lại thắc mắc không biết cuộc viếng thăm này
có làm người Công Giáo Mỹ tốt hơn không. Ngay sáng Chúa Nhật có
người đã cho là những người Công Giáo từng chống lại Giáo Hội chắc
chắn chỉ càng cảm thấy khó chịu vì các lời nói và hành động của Đức
Giáo Hoàng.
Có thể họ có lý. Thực thế, cái “Đạo Công Giáo kiểu quán Cà-phê” Mỹ
này chắc chắn sẽ vẫn rất sinh động sau khi Đức Giáo Hoàng đã về lại
Rôma. Và con số những người Công Giáo lừng khừng (graying) chỉ biết
ngồi chờ Đức Giáo Hoàng mang lại thay đổi chắc chắn sẽ vẫn y nguyên.
Nếu đó là cách đo lường sự thành công của Đức Bênêđíctô, thì chắc
ngài chỉ được chữ D.
Nhưng sự việc cũng có thể được nhìn cách khác: theo cái nhìn của
chính Đức Bênêđíctô. Tôi vốn từng nói rằng: Đức Giáo Hoàng là người
theo thuyết tối thiểu (minimalist). Cách đây nhiều năm, khi giải
thích Chúa Kitô sẽ thực hiện lời hứa cửa hỏa ngục sẽ không làm gì
được Giáo Hội ra sao, nhà thần học Ratzinger từng nói rằng nếu vào
thời cánh chung, chỉ một nhúm Kitô hữu sống sót ẩn núp đâu đó trong
một dịch bản chủ tương lai của hoang toại đạo, thì lời hứa của Chúa
Kitô vẫn được nên trọn và Giáo Hội, cái Giáo hội nhỏ nhoi đến gần
như vô nghĩa kia, cũng vẫn sẽ chiến thắng.
Ngài cũng mong người Công Giáo xa đạo trở về với Giáo Hội. Ngài cũng
hy vọng những người Công Giáo với một danh sách dài lê thê những chữ
“nhưng” chịu vất bỏ những chữ ấy mà chấp nhận trọn vẹn giáo huấn của
giáo hội. Ngài cũng mong sao cho có nhiều người không Công Giáo gia
nhập Giáo Hội. Nhưng ngài không trông vào những thứ ấy. Bởi đã từ
lâu, ngài cho rằng bất cứ hy vọng nào vào việc người Công Giáo ngoan
đạo trở thành đa số vinh quang đều là không thực tế, có khi còn ngây
thơ nữa. Ngài luôn thích thú câu truyện kể về Gideon, người được
Thiên Chúa chọn để lãnh đạo một nhúm quân Do Thái chống lại đạo quân
Madian đông như “khối cào cào”. Lúc ấy, Gideon có 10,000 quân, nhưng
Thiên Chúa bảo số quân ấy đông quá. Hãy đem chúng xuống nước để trắc
nghiệm, và Người chỉ chọn cho ông được 300 binh sĩ biết lấy tay múc
nước lên mà uống chứ không uống như những con vật! “Với 300 người
này, Ta sẽ cứu ngươi và trao nộp quân Madian trong tay ngươi”.
Cái sứ điệp mà Đức Bênêđíctô gửi những người đàn ông và đàn bà Mỹ
cũng chứa đựng một thứ chân lý làm người như thế. Nó cũng “cao” như
thử nghiệm của Thiên Chúa Giavê! Chẳng hệ gì, miễn là có được 300
binh sĩ “người cho ra người”. (Alejandro Bermudez, New York Times,
20-04)
Tương Lai Đầy Hy Vọng
Từ ngày Đức Bênêđíctô bắt đầu chuyến tông du với chủ đề “Chúa Kitô
Niềm Hy Vọng Của Chúng Ta”, nhiều tia sáng hy vọng đã quét tới các
nạn nhân bị lạm dụng tình dục, những người cuối cùng cảm nhận mình
đã được lắng nghe sau khi kể cho Đức Giáo Hoàng câu truyện của mình.
Những tia sáng hy vọng ấy cũng đã chạm tới thân nhân các nạn nhân
khủng bố, những người tìm lại được hàn gắn khi được Đức Bênêđíctô
cùng cầu nguyện với tại Ground Zero. Và những tia sáng kia cũng đụng
tới người Công Giáo khắp nước Mỹ từng gắng gượng duy trì đức tin của
mình bất chấp tội lỗi, gương mù và các sao lãng của thời đại thế
tục.
Điều đặc biệt có ý nghĩa đối với tương lai Giáo Hội Mỹ là niềm hy
vọng và khẳng quyết ngài mang lại cho giới trẻ xuyên suốt cuộc tông
du này. Tại cuộc tập hợp của hơn 25,000 bạn trẻ tại Chủng Viện Thánh
Giuse, Yonkers, ngài nhắc nhở cử tọa rằng người trẻ Công Giáo “là
tương lai Giáo Hội và họ đáng được mọi lời cầu nguyện và nâng đỡ mà
các con có thể đem lại cho họ”. Rồi ngài kêu gọi ‘những người bạn
trẻ’ của ngài công bố Chúa Giêsu Kitô và giáo huấn của Giáo Hội một
cách mạnh dạn, bênh vực sự sống con người ở những giai đoạn dễ bị
thương tổn nhất, phục vụ người nghèo và người thiếu thốn bằng tình
thương và mở lòng ra với ơn Chúa gọi làm linh mục và cuộc sống tu
trì.
Ngài cũng kêu gọi người trẻ mở lòng ra mà kết hiệp lòng trung thành
đối với giáo huấn Giáo Hội và việc hội nhập nền văn hóa thế tục vào
các giá trị Phúc Âm. Nhấn mạnh của ngài quả đáp ứng tâm tư nhiều
người trẻ Công Giáo ngày nay là những người thèm khát một niềm tin
biết biến cải văn hóa chứ không bác bỏ hay đầu hàng nó.
Lớp trẻ này nhìn ra nối kết chứ không kình chống giữa quan tâm của
họ đối với người nghèo và việc họ tranh đấu bảo vệ trẻ chưa sinh,
giữa chú tâm của họ tới mối liên hệ bản thân với Chúa Giêsu và sự
lôi cuốn của các hình thức sùng kính Công Giáo thời xưa và giữa việc
thuộc về một Giáo Hội phẩm trật và và việc đáp ứng lời mời gọi nên
thánh tổng quát được Công Đồng Vatican II xác nhận.
Họ thấy Đức Bênêđíctô cũng có cùng một cảm quan như họ. Trong suốt
cuộc tông du này, ngài nhấn mạnh rằng người Công Giáo phải từ khước
mọi thứ nhị phân (dichotomies) giả tạo, phải vượt lên trên những
chia rẽ tẻ nhạt và ôm lấy một đức tin biết nối vòng tay với thế giới
trong khi vẫn chân thực với các giáo huấn từng được truyền lại cho
ta bao nhiêu đời nay.
Muốn thế phải sống khiêm hạ, cầu nguyện và đối xử với người khác, kể
cả người già là những người “qúy bạn” thường hay bất đồng ý kiến,
theo cách “qúy bạn” muốn họ đối xử với mình. (Colleen Carroll
Campbell, New York Times, 20-04).
Hướng Về Chúa Giêsu
Chắc chắn, một số bài báo sau cuộc tông du sẽ chú tâm tới một ám ảnh
xưa nay của người Mỹ: quan điểm chung. Cuộc tông du này thay đổi cái
nhìn của người Mỹ ra sao đối với Đức Bênêđíctô? Liệu ngài đã ra khỏi
cái bóng của Đức Gioan Phaolo II chưa? Người Mỹ giờ đây đã yêu ngài
chưa?
Dĩ nhiên, người trong nghi vấn chắc chắn muốn rằng đấy không phải là
chú tâm của sứ điệp “đồ ăn mang đi” (take-away) của chúng ta. Người
“kế vị đáng thương của Phêrô” này, một người luôn khẩn khoản xin
người ta cầu nguyện cho mình, quả chỉ là một con người. Chắc chắn
ngài rất hài lòng khi được đón tiếp nồng hậu như thế. Nhưng cuộc
tông du này nhằm mục đích lớn hơn, đó là mở tâm hồn ta lắng nghe
điều ngài muốn nói, điều ngài dùng cả cuộc đời để nói ra.
Người ta có cảm tưởng ngài muốn đem đến cho chúng ta một chiếc gương
và khuyên ta, giám mục, linh mục, tu sĩ, nhà giáo dục, người trẻ và
toàn bộ Giáo hội, nên nhìn vào chiếc gương ấy để nhận ra chân tướng
của mình, một cách trung thực và khiêm hạ.
Hình ảnh trong gương có nhiều điểm mạnh, nhưng cũng không thiếu
những nét ngã lòng, sa vào nền văn hóa thời thượng, không tập chú
vào Chúa Kitô mà vào tiện nghi, an toàn và các ưu tiên trần tục.
Người nghèo ở đâu? Tội lỗi ở chỗ nào? Ta có can đảm trình bầy Chúa
Giêsu như chân lý hay đúng hơn chỉ là một ông bạn dễ tính để mà kết
thân. Lại còn cái hàng cách phân giữa việc tuyên xưng và việc hành
động trong tuần, và chia rẽ trong lòng Giáo Hội…Còn chăng những
người như Walker Percy, Flannery O’Connor, Dorothy Day và Thomas
Merton?
Suốt 40 năm qua, tâm trí ta loay hoay với những thảo luận và tranh
cãi bên trong Giáo Hội từ phong chức phụ nữ đến mầu thích hợp cho
mùa Vọng phải chăng là mầu xanh. Như thể, người Công Giáo đầy đức
tin phải là người phải hết sức quan tâm và can dự vào nền chính trị
và các thủ tục của giáo hội định chế.
Đủ mọi thứ mít-tinh hội họp, nhóm thảo luận và ủy ban cùng tuyên
ngôn tuyên bố rồi thì nhóm tập chú này nhóm tập chú kia…Tốn không
biết bao nhiêu thì giờ.
Liệu Ta còn bước tới được nữa hay không? Dĩ nhiên dị biệt có đó và
ta không thể để qua một bên các vấn đề thần học và giáo hội phức tạp
và lý thú. Nhưng tại sao lại không tự hỏi: tại sao ta có mặt ở đây.
Đối với tôi, hình như Đức Bênêđíctô muốn đặt câu hỏi ấy với chúng
ta: “Tại sao ta ở đây? Tại sao bận tâm với chuyện làm Công Giáo?”
Ai tìm thấy câu trả lời không liên quan chi tới Chúa Kitô bị đóng
đinh, sống lại và hiện đang sống động, thì chắc họ cần phải suy nghĩ
lại. “Các con là môn đệ ngày nay của Chúa Kitô. Hãy rõi chiếu ánh
sáng của Người trên thành phố vĩ đại này và quá bên kia nó nữa. Hãy
cho thế giới thấy lý do của niềm hy vọng đang vang vọng trong các
con. Hãy cho người khác biết chân lý đã giải phóng các con”. (Amy
Welborn, New York Times, 20-04)
Khuôn Mặt Mục Tử
Tôi đã sống qua 6 đời Giáo Hoàng, và đã mục kích nhiều giây phút cả
biến đổi lạ thường lẫn thất vọng ê chề. Tôi không ngại đánh giá cuộc
tông du của Đức Bênêđíctô trên đất Mỹ. Cuộc tông du này không giải
đáp các vấn nạn suy thoái hay biến đổi. Nhưng ít nhất nó cũng đạp
thắng để người ta đừng rơi vào một suy thoái không phản hồi được.
Các nhà lãnh đạo Giáo Hội sẽ lục lọi học hỏi bản văn các sứ điệp của
Đức Bênêđíctô. Các phe phái trong Giáo Hội sẽ chỉ ra câu nào đoạn
nào ủng hộ lập trường của mình. Tôi không thấy bản văn nào thực sự
giật gân, ngoài việc chúng là những cột mốc dẫn ta trở lại với các
trước tác trước đây của Đức Giáo Hoàng về các chủ đề như đức tin, lý
trí, chân lý và tự do.
Tuy nhiên, đối với phần lớn người Công Giáo, thì lời Đức Giáo Hoàng
nói về vấn đề lạm dụng tình dục đã xác định ra chuyến đi này. Tôi
không nghĩ đó là chủ đích của Đức Giáo Hoàng. Tôi còn ngờ là ngài sợ
lời ngài nói về vấn đề ấy sẽ phủ lấp lời ngài nói về các chủ đề
khác.
Nhưng khi thấy ngài không sợ điều ấy, tôi rất khâm phục ngài. Ngài
là một con người phức tạp với những cái nhìn cực kỳ có sắc thái
(extremely nuanced views) không hẳn dễ dãi phù hợp với khuôn mẫu Mỹ,
một khuôn mẫu hay đồng hóa tôn giáo với luân lý, và luân lý với luật
lệ. Mặt khác, ngôi vị giáo hoàng là một định chế với nhiều chiều
kích: vừa dạy dỗ, vừa gây hứng, vừa lay động, cừa giữ kỷ luật, vừa
hiệp nhất, vừa lãnh đạo bằng cầu nguyện.
Khuôn mặt về chính mình mà Đức Bênêđíctô chọn để phô bầy với một
công chúng vốn không biết nhiều về ngài, khuôn mặt của triều giáo
hoàng mà ngài chọn để nhấn mạnh, chính là khuôn mặt mục tử. Không
phải nhà thần học, không phải nhà cai trị, cũng chẳng phải là người
“quyết định”, nhưng là mục tử.
Khuôn mặt lãnh đạo phải đương đầu với các cá nhân bằng xương bằng
thịt, chứ không phải những nguyên tắc trừu tượng. Khuôn mặt lãnh đạo
phải sử dụng kín đáo và nhậy cảm, lắng nghe và hòa giải. Khuôn mặt
lãnh đạo bỏ 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc, hoàn toàn theo
luận lý của Phúc Âm và bất chấp cái thứ luận lý của nền quản trị
định chế. (Peter Steinfels, New York Times, 20-04).