Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiệm tại
Washington, D.C.
Thứ tư, 16/4/2008
Anh em Giám mục thân mến,
Cuộc gặp gỡ với anh em ngày hôm nay, khi bắt đầu chuyến viếng thăm
Hoa Kỳ, đem lại cho tôi một niềm vui lớn, và tôi cám ơn Hồng y
George vì những lời tốt đẹp mà ngài đã gởi đến tôi nhân danh anh em.
Tôi muốn cám ơn tất cả anh em, đặc biệt các viên chức của Hội đồng
Giám mục, vì những công việc nặng nề nhằm chuẩn bị cuộc viếng thăm
này. Sự cảm kích và biết ơn của tôi cũng hướng đến ban giám đốc và
các thiện nguyện viên của Đền thánh Quốc gia, đã đón tiếp chúng tôi
tại đây chiều hôm nay. Người Công giáo Hoa Kỳ nổi tiếng về lòng tận
tuỵ trung thành với Toà Thánh. Chuộc viếng thăm mục vụ của tôi tại
đây là một cơ hội để củng cố hơn nữa mối giây hiệp thông đã nối kết
chúng ta. Chúng ta đã bắt đầu bằng cách cử hành giờ Kinh Chiều trong
Vương cung Thánh đường này dâng kính Đức Nữ Đồng Trinh Vô Nhiễm
Maria, một đền thánh có ý nghĩa đặc biệt đối với người Công giáo Hoa
Kỳ, ở ngay trung tâm Thủ đô. Tụ họp cầu nguyện với Đức Maria, Mẹ
Chúa Giêsu, chúng ta âu yếm giao phó cho Chúa Cha Dân Thiên Chúa tại
mọi miền đất của Hoa Kỳ.
Đối với các cộng đoàn Công giáo ở Boston, New York, Philadelphia và
Louisville, đây là một năm cử hành đặc biệt, đánh dấu kỷ niệm 200
năm thiết lập các Giáo hội địa phương này thành giáo phận. Tôi hiệp
với anh em dâng lời cảm tạ vì muôn ơn lành đã ban xuống cho Giáo hội
nơi đây suốt hai thế kỷ. Vì năm nay cũng đánh dấu kỷ niệm 200 năm
nâng Toà giám mục Baltimore thành Tổng giáo phận, tôi có dịp nhắc
lại với lòng thán phục và biết ơn cuộc đời và sứ vụ của John
Carroll, vị giám mục đầu tiên của Baltimore – một vị lãnh đạo đáng
kính trọng của cộng đoàn Công giáo trong quốc gia vừa mới độc lập
của anh em. Những nỗ lực không mệt mỏi của ngài để loan truyền Tin
mừng trong mảnh đất rộng lớn dưới sự chăm sóc của ngài đã đặt những
nền tảng cho đời sống giáo hội và giúp cho Giáo hội tại Hoa Kỳ tăng
trưởng đến mức trưởng thành. Hôm nay cộng đoàn Công giáo mà anh em
phục vụ là một trong những cộng đoàn lớn nhất trên thế giới, và một
trong những cộng đoàn có ảnh hưởng nhất. Vì thế quan trọng biết bao
việc làm cho ánh sáng của anh em chiếu toả trước đồng bào của anh em
và trước thế giới, “để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm,
mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
Nhiều dân tộc mà John Carroll và các đồng bạn Giám mục của ngài đã
chăm sóc suốt hai thế kỷ qua đã làm cuộc hành trình từ những miền
đất xa xôi. Sự khác biệt về nguồn gốc của họ đã được phản ánh trong
sự đa dạng phong phú của đời sống giáo hội tại Hoa Kỳ ngày hôm nay.
Anh em Giám mục thân mến, tôi muốn khích lệ anh em và cộng đoàn anh
em tiếp tục chào đón người di dân đang gia nhập hàng ngũ của anh em
hôm nay, để chia sẻ vui mừng và hy vọng của họ, nâng đỡ họ trong
những sầu muộn và thử thách, và giúp họ triển nở trong quê hương
mới. Quả vậy, đó chính là điều mà đồng bào của anh em đã từng làm
qua bao thế hệ. Ngay từ đầu, họ đã mở cửa cho những người mệt mỏi,
nghèo đói, “đám đông khao khát hít thở sự tự do” (x. Bài thơ khắc
ghi trên tượng thần tự do). Đó là những dân tộc mà Hoa Kỳ đã đón
nhận làm của mình.
Trong số những người đến đây để xây dựng một đời sống mới, nhiều
người đã có khả năng tận dụng các tài nguyên và cơ hội gặp được, và
đạt tới một mức độ sung túc cao. Quả thế, người dân xứ này nổi tiếng
về sinh lực và sáng tạo. Họ cũng được biết đến do lòng quảng đại của
họ. Sau cuộc tấn công toà tháp đôi tháng 9 năm 2001, và sau cơn bão
Katrina năm 2005, người dân Mỹ đã tỏ ra sẵn sàng đến cứu giúp các
anh chị em đang túng quẫn. Trên bình diện quốc tế, sự đóng góp của
dân tộc Mỹ trong công tác cứu trợ sau cơn sóng thần tháng 12 năm
2004 là một minh hoạ thêm nữa về lòng thương xót ấy. Xin cho phép
tôi được diễn tả sự cảm kích riêng của tôi vì nhiều hình thức cứu
trợ nhân đạo mà người công giáo Hoa Kỳ cung cấp qua các tổ chức bác
ái và các cơ quan khác. Lòng quảng đại của họ đã sinh hoa trái qua
việc chăm lo đến những người nghèo và thiếu thốn, và qua hoạt động
xây dựng mạng lưới toàn quốc các giáo xứ, bệnh viện, trường học và
đại học công giáo. Tất cả những điều đó đem lại lý do lớn lao để tạ
ơn.
Hoa Kỳ cũng còn là một miền đất có đức tin mãnh liệt. Dân tộc anh em
rõ rệt có lòng nhiệt tình tôn giáo và hãnh diện vì thuộc về một cộng
đoàn thờ phượng. Họ tin tưởng vào Thiên Chúa và không ngần ngại đưa
ra những lý lẽ luân lý bén rễ từ đức tin Kinh Thánh trong các cuộc
đàm luận công khai. Tôn trọng tự do tôn giáo ăn sâu trong ý thức của
người Mỹ – một sự kiện đã góp phần làm cho quốc gia này trở nên lôi
cuốn đối với những thế hệ các người di cư, khi họ tìm kiếm một ngôi
nhà nơi đó họ có thể tự do thờ phượng theo niềm tin của họ.
Liên hệ tới điều đó, tôi sung sướng tỏ lòng biết ơn sự hiện diện
giữa anh em của các giám mục từ tất cả các Giáo hội Đông phương đáng
kính thông hiệp với Đấng kế vị thánh Phêrô, mà tôi chào thăm với
niềm vui đặc biệt. Anh em thân mến, tôi xin anh em bảo đảm cho các
cộng đoàn anh em về tình yêu sâu đậm và các lời cầu nguyện liên tục
của tôi, cả cho họ lẫn cho những anh chị em của họ đang ở lại trong
miền đất nguyên thuỷ của họ. Sự hiện diện nơi đây của anh em là một
nhắc nhớ về chứng tá can đảm cho Đức Kitô của nhiều thành viên trong
cộng đoàn anh em, thường sống trong đau khổ, trong các quê hương
tương ứng của họ. Đây cũng là một sự phong phú lớn lao của đời sống
Giáo hội tại Hoa Kỳ, khi trao ban một diễn tả sống động về tính công
giáo của Giáo hội và sự đa dạng của các truyền thống phụng vụ và
thiêng liêng.
Anh em Giám mục thân mến, chính trong mảnh đất màu mỡ này, được nuôi
dưỡng từ rất nhiều nguồn mạch khác nhau, mà tất cả anh em được mời
gọi gieo vãi hạt giống Tin mừng ngày hôm nay. Điều này dẫn tôi đến
việc đặt ra câu hỏi, làm thế nào để một giám mục trong thế kỷ XXI
này có thể chu toàn cách tốt đẹp nhất lời kêu gọi “canh tân mọi sự
trong Chúa Kitô, niềm hy vọng của chúng ta?” Làm thế nào để dẫn đưa
đoàn chiên đến “gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống”, là nguồn mạch của
niềm hy vọng biến đổi cuộc sống như Tin Mừng vẫn nói (Spe salvi,4)?
Có lẽ giám mục cần bắt đầu bằng cách loại bỏ một số hàng rào ngăn
cản cuộc gặp gỡ với Chúa. Tuy quốc gia này nổi bật về một tinh thần
tôn giáo chân thành, nhưng ảnh hưởng tinh vi của trào lưu tục hóa có
thể tác động tới cách thức dân chúng để cho niềm tin ảnh hưởng đến
cách cư xử của họ. Có thích hợp không khi một đàng tuyên xưng đức
tin ở nhà thờ vào ngày chúa nhật, và rồi trong tuần, lại làm ăn hoặc
cổ võ những tiến trình y khoa trái ngược với niềm tin ấy? Có thích
hợp không khi các tín hữu công giáo thực hành đạo không biết tới
hoặc khai thác bóc lột người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề
xã hội, cổ võ những lối sống tính dục trái ngược với giáo huấn luân
lý Công giáo, hoặc chấp nhận những lập trường trái ngược với quyền
sống của mỗi người, từ lúc mới thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên?
Cần phải chống lại mọi xu hướng coi tôn giáo chỉ là một sự kiện
riêng tư. Chỉ khi nào đức tin thấm nhập vào mọi khía cạnh của cuộc
sống, thì các tín hữu Kitô mới thực sự cởi mở đối với quyền năng
biến đổi của Tin Mừng.
Đối với một xã hội sung túc, một chướng ngại khác cản trở cuộc gặp
gỡ với Thiên Chúa hằng sống là ảnh hưởng tinh vi của chủ nghĩa duy
vật, là quá dễ dãi tập trung chú ý vào phần gấp trăm mà Thiên Chúa
hứa cho lúc này đây, mà quên đi sự sống vĩnh cửu mà Thiên Chúa hứa
vào thời sẽ tới (Mc 10,30). Dân chúng ngày nay cần được nhắc nhở về
mục đích tối hậu của đời sống họ. Họ cần nhìn nhận rằng cắm rễ sâu
trong lòng họ là một niềm khao khát sâu xa đối với Chúa. Họ cần được
những cơ hội để uống từ giếng tình yêu vô biên của Chúa. Người ta dễ
bị cám dỗ vì khả năng hầu như vô giới hạn của khoa học và kỹ thuật
mang lại cho chúng ta, và dễ đi tới sai lầm mà nghĩ rằng ta có thể
thỏa mãn những nhu cầu sâu xa nhất với những cố gắng riêng của chúng
ta. Đó là một ảo tưởng. Nếu không có Thiên Chúa, là Đấng duy nhất có
thể ban cho chúng ta điều mà tự mình chúng ta không thể đạt được (Spe
salvi 31), thì cuộc sống chúng ta chỉ là trống rỗng. Dân chúng
cần được thường xuyên nhắc nhở để vun trồng một tương quan với
Người, Đấng đến để chúng ta có được sự sống dồi dào (x. Ga 10,10).
Mục tiêu của công cuộc mục vụ và giáo lý chúng ta, đối tượng giảng
thuyết của chúng ta, và chủ điểm của tác vụ bí tích của chúng ta
phải là giúp đỡ dân chúng thiết lập và vun trồng mối tương giao sống
động với “Đức Kitô Giêsu, niềm hy vọng của chúng ta” (1 Tm
1,).
Trong một xã hội đề cao tự do và quyền tự quyết của cá nhân, thật dễ
quên mất sự lệ thuộc của chúng ta vào người khác cũng như trách
nhiệm của chúng ta đối với họ. Sự nhấn mạnh tới cá nhân chủ nghĩa
này cũng ảnh hưởng tới Giáo Hội (Spe Salvi 13-15), làm nảy sinh một
hình thức đạo đức đôi khi nhấn mạnh quan hệ riêng tư với Thiên Chúa
và gây thiệt hại cho lời kêu gọi trở thành những phần tử của một
cộng đoàn được cứu chuộc. Song le ngay từ đầu, Thiên Chúa thấy rằng
“con người ở một mình không tốt” (St 2,18). Chúng ta
được tạo thành như những hữu thể xã hội, chỉ tìm được sự viên mãn
trong tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Nếu chúng ta thật sự
hướng nhìn về Ngài, Đấng là nguồn mạch niềm vui chúng ta, chúng ta
cần hành động như là thành viên của Dân Thiên Chúa (x. Spe Salvi,
14). Nếu điều đó có vẻ như đối lập với văn hoá, rõ ràng là có một
nhu cầu cấp bách phải phúc âm hoá lại nền văn hoá.
Nơi Nước Mỹ này, anh em được chúc phúc với một tầng lớp giáo dân
công giáo có một sự khác biệt văn hoá đáng kể, họ đặt các ân huệ đa
dạng của họ để phục vụ Giáo hội và xã hội nói chung. Họ chờ mong anh
em đem đến cho họ sự khích lệ, lãnh đạo và hướng dẫn. Trong một thời
đại đầy dẫy thông tin, tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin
đúng đắn về đức tin không phải là cường điệu. Người Công giáo Hoa Kỳ
có truyền thống đề cao giá trị của nền giáo dục tôn giáo, cả trong
các trường học và trong bối cảnh những chương trình huấn luyện cho
người lớn. Những điều đó cần được bảo tồn và mở rộng. Đông đảo những
người nam nữ quảng đại dấn thân cho các hoạt động từ thiện cần được
giúp đỡ để canh tân sự dấn thân của họ nhờ việc “huấn luyện con
tim”: “một sự gặp gỡ với Thiên Chúa trong Đức Kitô, làm thức tỉnh
tình yêu và mở rộng tinh thần cho kẻ khác” (Deus Caritas Est, 31).
Trong một thời buổi mà những tiến bộ y khoa đem lại niềm hy vọng mới
cho nhiều người, chúng cũng làm nảy sinh những thách đố đạo đức
trước đây không bao giờ nghĩ tới. Điều đó tạo nên sự cần thiết hơn
bao giờ hết là mang lại cho những người công giáo dấn thân trong
việc săn sóc sức khỏe một sự huấn luyện thấu đáo về giáo huấn luân
lý của Giáo Hội. Những hướng dẫn khôn ngoan là cần thiết trong tất
cả những công tác tông đồ này để chúng mang lại hoa trái; nếu đúng
là cần phải cổ võ mặt tốt của con người thì cũng cần làm cho chúng
mới mẻ trong Đức Kitô, niềm hy vọng của chúng ta.
Là những người rao giảng Tin mừng và lãnh đạo cộng đoàn công giáo,
anh em cũng được mời gọi tham gia vào việc trao đổi ý tưởng tại
những nơi công cộng, khi định hình những thái độ văn hoá. Trong bối
cảnh mà những phát biểu tự do được đề cao và những tranh luận sôi
nổi và thẳng thắn được khuyến khích, tiếng nói của anh em là những
tiếng nói đáng kính trọng có nhiều điều đóng góp cho cuộc tranh luận
về những vấn đề xã hội và luân lý cấp bách của ngày nay. Bằng cách
bảo đảm rằng Tin mừng được nghe cách rõ ràng, anh em không những đào
tạo dân chúng thuộc về cộng đoàn của anh em, nhưng bởi vì sự vươn
rộng toàn cầu của phương tiện truyền thông, anh em làm cho sứ điệp
hy vọng kitô giáo lan rộng khắp trái đất.
Rõ ràng, ảnh hưởng của Giáo hội trên cuộc tranh luận công khai xảy
ra trên nhiều bình diện khác nhau. Tại Hoa Kỳ cũng như bất kỳ nơi
nào khác, có những pháp luật hiện hành và được đề nghị đã gây ra
những lý do quan tâm từ quan điểm luân lý, và cộng đoàn công giáo,
dưới sự hướng dẫn của anh em, cần đưa ra một chứng tá rõ ràng và
thống nhất về vấn đề ấy. Càng quan trọng hơn nữa là việc mở rộng dần
dần tâm trí và con tim của cộng đoàn rộng lớn hơn cho chân lý luân
lý. Nơi đây vẫn còn nhiều điều phải làm. Chủ yếu trong vấn đề này là
vai trò của người giáo dân phải hành động như “men” trong xã hội.
Tuy vậy không thể cho rằng mọi công dân công giáo đều suy nghĩ phù
hợp với giáo huấn của Giáo hội về những vấn đề đạo đức chủ chốt của
ngày hôm nay. Một lần nữa, anh em có nhiệm vụ đảm bảo cho việc huấn
luyện luân lý ở mọi cấp độ trong đời sống Giáo hội phản ảnh giáo
huấn chân chính của Tin Mừng sự sống.
Liên quan đến điều đó, một vấn đề mà chúng ta hết sức quan tâm là
tình trạng của gia đình trong xã hội. Quả thế, Hồng y George đã đề
cập trước rằng anh em đã bao gồm việc củng cố hôn nhân và đời sống
gia đình vào trong các ưu tiên cần quan tâm trong những năm tới.
Trong sứ điệp Ngày Quốc tế Hoà bình năm nay, tôi đã nói tới sự đóng
góp thiết yếu mà đời sống gia đình lành mạnh đem lại cho hoà bình
trong và giữa các quốc gia. Trong ngôi nhà gia đình, chúng ta kinh
nghiệm “một vài yếu tố nền tảng của hoà bình: công bình và tình yêu
giữa anh chị em, vai trò của quyền bính được các cha mẹ diễn tả, mối
quan tâm yêu thương dành cho những thành viên yếu kém hơn vì tuổi
trẻ, bệnh hoạn hay tuổi già, sự giúp đỡ lẫn nhau khi thiếu thốn
trong cuộc đời, sẵn sàng chấp nhận nhau và nếu cần, tha thứ cho họ”
(số 3). Gia đình cũng là nơi đầu tiên để phúc âm hoá, để tiến tới
đức tin, để giúp người trẻ hiểu rõ giá trị và tầm quan trọng của các
thực hành tôn giáo và giữ ngày Chúa nhật. Làm sao chúng ta có thể
không băn khoăn khi thấy sự suy sụp đột ngột của gia đình như một
yếu tố cơ bản của Giáo hội và xã hội? Ly dị và sự không chung thủy
gia tăng, và nhiều người trẻ nam và nữ quyết định hoãn lại hôn phối
hoặc coi như không có hôn phối. Đối với một số bạn trẻ Công giáo,
mối dây bí tích hôn phối chẳng khác gì hôn phối dân sự, hoặc coi hôn
phối chỉ là một sự thỏa thuận sống với nhau một cách hình thức và
không bền vững. Vì thế, có sự giảm sút đáng báo động về hôn phối
Công giáo tại Hoa kỳ, đồng thời có sự gia tăng các cặp nam nữ sống
chung mà không kết hôn, trong đó sự hiến thân cho nhau của đôi vợ
chồng noi gương Đức Kitô, được đóng ấn bởi lời hứa công khai thể
hiện đòi buộc dấn thân không thể chia lìa suốt cuộc đời thì đơn giản
vắng bóng. Trong hoàn cảnh đó, các trẻ em không có được môi trường
an toàn mà chúng cần để đích thực triển nở như một con người, và xã
hội không có được khối nhà vững chắc mà nó cần nếu sự dính kết và
chú tâm luân lý của cộng đoàn cần được duy trì.
Như vị tiền nhiệm của tôi, Đức Gioan Phaolô II đã dạy: “Vị có trách
nhiệm chính yếu trong Giáo phận về việc chăm sóc mục vụ gia đình là
giám mục… ngài phải dành cho nó sự quan tâm cá nhân, chăm sóc, thời
giờ, nhân sự và tài nguyên, nhưng trên hết sự nâng đỡ cá nhân đối
với các gia đình và tất cả những ai… giúp đỡ ngài trong việc chăm
sóc mục vụ các gia đình” (Familiaris Consortio, 73). Nhiệm vụ
của anh em là mạnh dạn tuyên bố những lý lẽ từ đức tin và lý trí
nhằm bảo vệ thể chế hôn nhân, được hiểu như sự dấn thân suốt đời
giữa một người nam và một người nữ, hướng mở cho sự truyền sinh. Sứ
điệp này phải vang vọng nơi dân chúng ngày hôm nay, bởi vì đây cốt
yếu là một “tiếng xin vâng” vô điều kiện và không hạn chế cho sự
sống, một “tiếng xin vâng” cho tình yêu, và một “tiếng xin vâng” cho
những khát vọng trong con tim của nhân loại, khi chúng ta nỗ lực chu
toàn khát vọng sâu xa của chúng ta muốn sống thân mật với người khác
và với Chúa.
Trong số những dấu hiệu phản Tin mừng sự sống ở Hoa Kỳ và nơi khác
có một dấu hiệu gây tủi hổ sâu xa: đó là sự lạm dụng tính dục trẻ vị
thành niên. Nhiều người trong anh em đã nói với tôi về nỗi đau khổ
hết sức lớn lao mà cộng đồng anh em phải chịu khi giáo sĩ phản bội
những bó buộc và nghĩa vụ của linh mục qua cách hành xử vô luân trầm
trọng như vậy. Khi anh em nỗ lực tiêu diệt sự xấu này nơi nào nó xảy
ra, anh em được bảo đảm bởi sự nâng đỡ và lời cầu nguyện của Dân
Thiên Chúa trên khắp thế giới. Thật là đúng đắn khi anh em ưu tiên
chứng tỏ sự cảm thông và chăm sóc các nạn nhân. Trách vụ Chúa trao
cho anh em như những chủ chăn, là băng bó các vết thương do sự hủy
hoại sự tín nhiệm gây nên, thăng tiến sự chữa lành, cổ võ hòa giải
và tìm gặp những người sai trái trầm trọng như vậy với lòng quan tâm
yêu thương.
Đáp trả với hoàn cảnh ấy thì không phải dễ và, như vị Chủ tịch Hội
đồng giám mục đã biểu lộ, “đôi khi rất khó mà giải quyết”. Giờ đây
tầm mức và sự trầm trọng của vấn đề đã được hiểu biết rõ ràng hơn,
anh em đã có thể đưa ra những giải pháp chữa trị và kỷ luật tập
trung hơn và cổ võ một môi trường an toàn bảo vệ chắc chắn hơn người
trẻ. Trong khi phải luôn ghi nhớ rằng đám đông trổi vượt các giáo sĩ
và tu sĩ tại Hoa Kỳ thực hiện công việc nổi bật là đem sứ điệp giải
phóng của Tin mừng cho người dân được phó cho sự chăm sóc của họ, vô
cùng quan trọng là những người dễ bị tổn thương phải được bảo về
khỏi những kẻ gây hãm hại. Như thế, những cố gắng chữa lành và bảo
vệ của anh em đang đem lại những hoa quả lớn lao không những cho
những ai đang hưởng trực tiếp sự chăm sóc mục vụ của anh em mà còn
toàn thể xã hội nữa.
Tuy nhiên nếu gia đình phải hoàn thành mục tiêu trọn vẹn của nó, các
chiến lược và chương trình anh em chọn cần được đặt vào trong một
bối cảnh rộng lớn hơn. Các trẻ em đáng được tăng trưởng trong sự
hiểu biết lành mạnh về phái tính và chỗ đứng đúng đắn của tính dục
trong quan hệ giữa con người với nhau. Chúng phải được tránh khỏi
những biểu lộ hèn hạ và sự lôi kéo tục tằn của tính dục đang thịnh
hành ngày hôm nay. Chúng có quyền được giáo dục trong những giá trị
luân lý đích thực cắm rễ trong phẩm giá con người. Điều đó đem chúng
ta trở lại cái nhìn xem gia đình ở trung tâm và nhu cầu cổ võ Tin
mừng sự sống. Nói đến việc bảo vệ trẻ em còn có ý nghĩa gì không khi
hình ảnh khiêu dâm và bạo lực có thể được xem thấy trong nhiều gia
đình qua phương tiện truyền thông sẵn có và phổ biến ngày hôm nay?
Chúng ta cần khẩn cấp đánh giá lại các giá trị chống đỡ xã hội, để
một nền huấn luyện luân lý lành mạnh có thể trao ban cho người trẻ
cũng như người lớn. Tất cả mọi người đều có một trách vụ phải chu
toàn trong công việc này, không những các cha mẹ, các vị lãnh đạo
tôn giáo, các thầy cô và giáo lý viên, nhưng cả các phương tiện
truyền thông và kỹ nghệ giải trí nữa. Quả thế, mỗi thành viên trong
xã hội đều có thể góp phần vào sự canh tân luân lý và được lợi ích
từ sự canh tân ấy. Chăm lo đích thực đến người trẻ và tương lai của
nền văn minh chúng ta có nghĩa là nhìn nhận trách nhiệm cổ võ và
sống nhờ những giá trị luân lý đích thực, chỉ mình chúng mới làm cho
con người triển nở. Trách nhiệm của anh em, những vị mục tử noi
gương Đức Kitô, vị mục tử nhân lành, là loan báo sứ điệp này cách
lớn tiếng và rõ ràng, và vì thế nói đến tội lạm dụng trong bối cảnh
rộng lớn hơn của luân lý phái tính. Hơn nữa, nhờ hiểu biết và đương
đầu vấn đề khi nó xảy ra trong bối cảnh giáo hội, anh em có thể đưa
ra một hướng dẫn cho người khác, bởi vì tai hoạ này không phải chỉ
được tìm thấy trong các giáo phận, nhưng trong mọi lãnh vực của xã
hội. Nó cần đến một đáp trả dứt khoát, tập thể.
Cả các linh mục nữa cũng cần tới sự hướng dẫn và gần gũi trong thời
buổi khó khăn. Các ngài đã kinh nghiệm sự tủi hổ vì sự việc đã xảy
ra và có những linh mục cảm thấy mất mát phần nào sự tin tưởng và
kính trọng họ từng hưởng. Không ít anh em đang cảm nghiệm sự gần gũi
với Đức Kitô trong cuộc khổ nạn của Người khi chiến đấu để giải
quyết các hậu quả của khủng hoảng. Giám mục, như người cha, người
anh em và người bạn của các linh mục, có thể giúp họ rút ra được hoa
trái thiêng liêng từ sự kết hiệp này với Đức Kitô bằng cách làm cho
họ ý thức đến sự hiện diện tràn ngập an ủi giữa các đau khổ, và bằng
cách khuyến khích họ cùng với Chúa bước đi trên nẻo đường hy vọng
(x. Spe Salvi, 39). Như Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lưu ý 6
năm trước: “Chúng ta phải tín thác rằng thời kỳ thử thách đau thương
này sẽ mang lại một sự thanh tẩy cho toàn thể cộng đoàn Công giáo”,
đưa tới “một hàng ngũ linh mục, giám mục và Giáo hội thánh thiện
hơn” (Diễn văn gởi các Hồng y Hoa Kỳ, 23/4/2002, 4). Có nhiều
dấu hiệu có thấy trong thời gian qua, sự thanh tẩy ấy đang xảy ra.
Sự hiện diện âm thầm của Chúa Kitô giữa những đau khổ của chúng ta
dần dần biến tăm tối của chúng ta thành ánh sáng: mọi sự đang được
đổi mới trong Chúa Giêsu Kitô, niềm hy vọng của chúng ta.
Vào thời điểm này một phần cốt yếu của nhiệm vụ anh em là tăng cường
quan hệ với hàng giáo sĩ của mình, nhất là trong những trường hợp
xảy ra căng thẳng giữa các linh mục và giám mục của mình. Điều quan
trọng là anh em tiếp tục biểu lộ cho họ sự quan tâm, nâng đỡ họ và
hướng dẫn họ bằng gương sáng. Như thế anh em chắc chắn sẽ giúp họ
gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống, và hướng họ về niềm hy vọng biến
đổi cuộc sống mà Tin mừng nói tới. Nếu chính anh em sống một cách
đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, vị mục tử nhân lành, Đấng đã thí
mạng sống vì đoàn chiên, anh em sẽ gợi hứng cho các anh em linh mục
hiến dâng lại chính mình để phục vụ đoàn chiên với sự quảng đại
giống như Đức Kitô. Quả thế một sự chú tâm rõ ràng hơn nhằm noi
gương Đức Kitô trong đời sống thánh thiện là điều đang cần để chúng
ta tiến lên phía trước. Chúng ta cần tái khám phá niềm vui sống của
một cuộc đời lấy Đức Kitô làm trung tâm, vun trồng các nhân đức, và
chìm sâu trong cầu nguyện. Khi người tín hữu biết vị mục tử của mình
là một con người cầu nguyện và hiến dâng mạng sống để phục vụ họ, họ
đáp lại với sự nồng ấm và tình cảm vốn nuôi dưỡng và nâng đỡ đời
sống của toàn thể cộng đoàn.
Thời gian dành cho cầu nguyện thì không hề uổng công, dầu các nhiệm
vụ cấp bách áp lực trên chúng ta từ mọi phía. Việc tôn thờ Đức Kitô,
Chúa chúng ta, trong bí tích Thánh Thể kéo dài và tăng cường mối
giây hiệp nhất với Người vốn được thiết lập qua việc cử hành Thánh
lễ (x. Sacramentum Caritatis, 66). Chiêm ngưỡng các mầu nhiệm
mân côi giải toả tất cả quyền năng cứu độ của chúng và nó làm cho ta
phù hợp, nối kết và thánh hiến chúng ta cho Đức Giêsu Kitô (x.
Rosarium Virginis Mariae, 11, 15). Trung thành với Phụng vụ Các
Giờ kinh bảo đảm rằng cả ngày sống của chúng ta được thánh hoá và
nhắc nhở chúng ta nhu cầu luôn chú tâm đến sự thực hiện công việc
của Thiên Chúa, dù những áp lực và những xao nhãng có thể nảy sinh
từ công việc. Vì thế lòng đạo đức giúp chúng ta nói và hành động in
persona Christi, dạy dỗ, cai trị và thánh hoá người tín hữu nhân
danh Đức Giêsu, đem lại sự hoà giải, chữa lành và tình yêu cho mọi
anh chị em yêu dấu. Sự đồng hình đồng dạng triệt để này với Đức
Kitô, vị Mục tử nhân lành, nằm ở trung tâm thừa tác vụ mục vụ của
chúng ta, và nếu chúng ta mở lòng nhờ lời cầu khẩn quyền năng của
Thánh Linh, Người sẽ ban cho chúng ta ân huệ cần thiết để chu toàn
nhiệm vụ gây nản chí của chúng ta, để chúng ta không bao giờ “lo
lắng phải nói như thế nào và nói gì” (Mt 10,19).
Khi kết thúc những lời tôi nói với anh em chiều nay, tôi phó dâng
Giáo hội trong đất nước anh em cách đặc biệt cho sự chăm sóc từ mẫu
và lời chuyển cầu của Đức Maria Vô Nhiễm, Bổn mạng của Hoa Kỳ.
Nguyện Mẹ là Đấng mang trong cung lòng Mẹ niềm Hy vọng của mọi quốc
gia chuyển cầu cho dân chúng nước này, để mọi người được canh tân
trong Đức Giêsu Kitô, Con Mẹ. Anh em Giám mục thân mến, tôi bảo đảm
cho mọi anh em hiện diện tại đây tình bạn sâu xa và sự thông phần
của tôi vào các mối quan tâm mục vụ của anh em. Cho tất cả anh em,
cho hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân của anh em, tôi chân thành ban
phép lành Toà thánh như một bảo chứng của niềm vui và bình an của
Chúa phục sinh.
© Copyright 2008 - Libreria Editrice Vaticana