|
 |
|
Đức Thánh Cha bắt tay các bạn
trẻ |
|
 |
|
Các bạn trẻ New York cùng hát |
|
 |
|
Các thầy tại Đại Chủng Viện New
York cùng hát |
|
 |
|
Những đôi mắt đẫm lệ theo dõi
bài thuyết giảng của ĐTC |
|
 |
|
Rừng người hoan hô ĐTC |
|
 |
|
Một bạn trẻ hát chào mừng ĐTC |
New York - Lúc 4:30 chiều thứ Bẩy 19/4,
trước một cộng đoàn 25,000 người tập trung tại sân thể thao của Đại
Chủng Viện Thánh Giuse tại New York, Đức Thánh Cha đã nói về hy vọng
và tự do, trong khi nhấn mạnh đến “hành trình hy vọng” thể hiện nơi
đời sống của các vị thánh. Ngài đã gọi Giáo Hội là một cộng đoàn của
hy vọng.
Đức Thánh Cha cũng đã đề cập đến ‘những bóng tối” xem con người chỉ
như “những đồ vật”, lèo lái, xuyên tạc và làm lu mờ sự thật, làm
biến dạng cảm nhận về thực tại, về những hình ảnh và khát vọng của
tuổi trẻ. Đức Thánh Cha cũng đã trình bày những suy tư về bản chất
thực sự và những cảm nhận sai lạc về tự do.
Đức Thánh Cha đã mở đầu bài thuyết giảng của ngài bằng câu đầu tiên
trong thư Thánh Phêrô: “Hãy công bố Chúa Giêsu Kitô.. và hãy luôn
luôn sẵn sàng trả lời cho những ai hỏi về lý do niềm hy vọng trong
anh em”.
Đức Thánh Cha đã nêu ra với cộng đoàn 6 bức tranh lớn về các thánh:
Elizabeth Ann Seton, Frances Xavier Cabrini, John Neumann, Chân
phước Kateri Tekakwitha, và hai vị Tôi Tớ Chúa là Pierre Toussaint,
và Padre Felix Varela. Đức Thánh Cha nói: “Bất cứ ai trong chúng ta
cũng có thể trở nên một người trong số họ. Hãy can đảm và hãy hướng
mắt nhìn về các thánh”.
Theo Đức Thánh Cha, các thánh tuy có những hoàn cảnh khác nhau nhưng
các ngài “đều bùng cháy lửa yêu mến Chúa Giêsu.” Họ thực hiện “những
hành vi từ bỏ chính mình” để dâng hiến cho Chúa.
Đức Thánh Cha cảnh cáo về “những hành vi và những não trạng đang bóp
nghẹt hy vọng” qua những niềm hạnh phúc hời hợt và những thỏa mãn mà
“chung cuộc chỉ kết thúc trong hoang mang và sợ hãi”.
Đức Thánh Cha cũng cho biết qua tuổi thơ của ngài dưới một chế độ
Quốc Xã: “Thời niên thiếu của chính cha đã bị che phủ bởi một chế độ
đe dọa. Nó tưởng rằng nó có mọi câu trả lời; ảnh hưởng của nó gia
tăng – xâm nhập vào trường học và các cơ chế dân sự, cũng như chính
trị và ngay cả trong phạm vi tôn giáo – trước khi người ta nhận thức
đầy đủ về nó chỉ là một con quái vật. Nó loại bỏ Thiên Chúa và vì
thế trở thành rào cản cho bất cứ điều gì là đúng đắn và tốt lành”.
Đức Thánh Cha cám ơn Thiên Chúa vì ngày nay thế hệ trẻ được hưởng
nhiều quyền tự do “qua sự mở rộng dân chủ và sự tôn trọng nhân
quyền”.
Tuy nhiên, “những thế lực hủy diệt vẫn còn”. Đức Thánh Cha cảnh cáo:
“Làm bộ như nó không còn chỉ là tự lừa mình. Tuy thế, nó không chiến
thắng. Nó bị đánh bại. Đó là yếu tính của niềm hy vọng định nghĩa
chúng ta như những người Kitô hữu; và Giáo Hội nhắc lại điều này một
cách ngoạn mục nhất trong Tam Nhật Phục sinh và cử hành với đầy tràn
niềm vui trong mùa Phục sinh. Đấng chỉ cho chúng ta thấy con đường
sau cái chết cũng là Đấng chỉ cho chúng ta thấy cách thế vượt qua
hủy diệt và sợ hãi: vì thế chính Chúa Giêsu là thầy dạy chân thật về
sự sống”.
Đức Thánh Cha đã đề cập đến những hiểm họa về “những giấc mơ và
những trông đợi” của tuổi trẻ ngày nay như ma tuý, vô gia cư, bần
cùng, phân biệt chủng tộc, bạo lực, sự hạ giá con người đặc biệt nơi
phụ nữ.
“Trong khi nguồn gốc của những vấn đề này là phức hợp. Chúng có cùng
một thái độ bị đầu độc trong đó con người bị đối xử chỉ như đồ vật”
Đức Thánh Cha cũng cảnh cáo một khía cạnh thứ hai thường ít ai để ý
đến và vì thế “nó đáng sợ”. Đó là “sự lèo lái sự thật, xuyên tạc cảm
nhận của chúng ta về thực tại, làm lu mờ trí tưởng tượng và khát
vọng của chúng ta”.
Đức Thánh Cha sau đó đã đề cập đến gia đình như cái nôi của ơn gọi.
Trong buổi gặp gỡ này, Đức Thánh Cha đã ban phép lành cho 50 trẻ em
khuyết tật và những người chăm sóc cho chúng. Các trẻ em này đã vui
mừng được mặc áo đẹp và được Đức Thánh Cha đặt tay ban phép lành cho
chúng. Tờ New York Thời Báo đã kể câu chuyện về một bé gái tên
Lauren. “Em chỉ có thể nói được từ 20 đến 30 từ, nhưng nay em nói
thêm được một từ mới”. Bà Beatrice Kurtz, mẹ của Lauren cho biết:
“Giờ đây em nói được từ pope”.
Đại Chủng Viện Thánh Giuse tại New York đã được Đức Tổng Giám Mục
Michael Corrigan của tổng giáo phận New York xây vào năm 1891 với hy
vọng là do vị trí gần gũi Tổng Giám Mục ngài có thể chăm sóc chu đáo
Đại Chủng Viện này. Năm năm sau đó, vào năm 1896, niên khóa đầu tiên
đã được khai giảng với 96 thầy.
Vị Giáo Hoàng đầu tiên đến thăm Đại Chủng Viện Thánh Giuse tại New
York là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài đã đến thăm nơi này vào
năm 1995. Đức Thánh Cha đương kim không phải người xa lạ với Đại
Chủng Viện này vì trong thập niên 1990 ngài đã từng giảng dạy tại
đây.