Thưa ngài chủ tịch
Kính thưa quý vị,
Để bắt đầu
bài diễn văn trước Đại Hội Đồng này, trước hết tôi muốn bày tỏ với
ngài, thưa ông Chủ tịch, lời cám ơn chân thành của tôi trước những
lời tốt đẹp của ngài. Lời cám ơn của tôi cũng muốn được chuyển đến
ngài Tổng Thư Ký Ban Ki-moon vì lời mời tôi đến thăm trụ sở của Tổ
Chức này và những lời chào mừng dành cho tôi. Tôi chào các vị Đại Sứ
và các Nhà Ngoại Giao từ các Quốc Gia Thành Viên, và tất cả những ai
đang hiện diện nơi đây. Qua quý vị, xin cho tôi gởi lời chào đến
những dân tộc mà quý vị đại diện cho họ nơi đây. Họ hướng nhìn về
đây như một cơ chế thực thi khát vọng nền tảng là thiết lập một
“trung tâm điều hòa những hoạt động của các quốc gia hầu đạt được
những mục đích chung” là hòa bình và phát triển (x. Hiến Chương Liên
Hiệp Quốc, điều 1.2-1.4). Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phát
biểu vào năm 1995, Liên Hiệp Quốc phải trở nên “một trung tâm luân
lý nơi mọi dân nước trên thế giới cảm thấy thân thuộc và là nơi mà
họ phát triển một nhận thức chung là trở nên, như đã từng là, một
‘gia đình của các dân nước’” (Diễn văn trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp
Quốc nhân kỷ niệm lần thứ 50 ngày Thành Lập, New York, 5 tháng Mười
năm 1995, số 14).
Thông
qua Liên Hiệp Quốc, Các Quốc Gia đã hình thành những mục tiêu phổ
quát mà dù cho không trùng hợp hoàn toàn với thiện ích chung tổng
thể của gia đình nhân loại đi nữa, chúng rõ ràng cũng đại diện cho
một phần căn bản của thiện ích đó. Những nguyên tắc căn bản của Tổ
Chức này – khát vọng hòa bình, việc mưu tìm công lý, sự kính trọng
phẩm giá con người, sự hợp tác và trợ giúp nhân đạo – thể hiện những
khát vọng chính đáng của tinh thần nhân loại, và hình thành những lý
tưởng đáng lý phải củng cố những quan hệ quốc tế. Như các vị tiền
nhiệm của tôi là Đức Phaolô Đệ Lục và Đức Gioan Phaolô II đã nêu lên
từ chính bục nói chuyện này, Giáo Hội Công Giáo và Tòa Thánh theo
dõi sát tất cả điều này với sự quan tâm, trong khi nhận thấy nơi
hoạt động của quý vị một điển hình về cách thế làm sao những vấn nạn
và những cuộc tranh chấp liên quan đến cộng đồng quốc tế có thể được
giải quyết theo nguyên tắc chung. Liên Hiệp Quốc thể hiện khát vọng
cho một “mức độ lớn hơn của trật tự quốc tế” (John Paul II,
Sollicitudo Rei Socialis, 43), được linh hứng và hướng dẫn bởi
nguyên tắc phụ đới, và do đó có khả năng đáp ứng các đòi hỏi của gia
đình nhân loại nhờ những qui luật quốc tế hiệu năng và những cơ cấu
có khả năng điều hòa đời sống thường nhật của các dân tộc. Điều này
càng cần thiết hơn trong thời điểm hiện nay khi chúng ta đang cảm
nghiệm một sự nghịch lý hiển nhiên: sự đồng thuận đa phương giữa các
nước tiếp tục bị khủng hoảng vì nó còn phải tùy thuộc những quyết
định của một thiểu số, trong khi những vấn đề của thế giới đòi cộng
đồng quốc tế phải có những cuộc can thiệp dưới hình thức những hoạt
động chung.
Thực vậy, những vấn đề an ninh, các mục tiêu phát triển, sự giảm bớt
chênh lệch trên bình diện địa phương và thế giới, việc bảo vệ môi
sinh, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và khí hậu, đòi mọi vị hữu
trách của đời sống thế giới phải hành động phối hợp với nhau, và
chứng tỏ một sự sẵn sàng làm việc chân thành, trong niềm tôn trọng
công pháp, để thăng tiến tình liên đới tại những miền mong manh nhất
thế giới. Tôi đặc biệt nghĩ đến một số nước tại Phi châu và tại các
đại lục khác vẫn còn ở ngoài lề sự phát triển toàn diện đích thực,
và do đó có nguy cơ chỉ cảm nhận được những hậu quả tiêu cực của sự
toàn cầu hóa. Trong bối cảnh các quan hệ quốc tế, cần phải nhìn nhận
vai trò hàng đầu của các qui luật và các cơ cấu, tự bản chất là nhắm
thăng tiến công ích, và bảo tồn tự do của con người. Những qui luật
ấy không giới hạn tự do, trái lại chúng thăng tiến tự do khi cấm
đoán những thái độ và hành vi đi ngược lại công ích, cản trở sự thực
thi hữu hiệu tự do và vì thế làm thương tổn phẩm giá của mọi người.
Nhân danh tự do, cần phải có một sự tương quan giữa quyền lợi và
nghĩa vụ. Ở đây chúng ta hướng đến cách thức sử dụng những thành quả
nghiên cứu khoa học và những tiến bộ của kỹ thuật. Tuy những tiến bộ
ấy có thể mang lại ích lợi lớn lao cho nhân loại, nhưng một số
trường hợp lại tiêu biểu cho một sự vi phạm tỏ tường trật tự tự
nhiên, đến độ không những chúng trái ngược đặc tính thánh thiêng của
sự sống, nhưng còn tước đoạt căn tính tự nhiên của con người và của
gia đình. Cũng thế, việc bảo tồn môi sinh và bảo vệ những hình thái
khác nhau của sự sống trên trái đất không nên chỉ giới hạn trong
việc sử dụng hợp lý kỹ thuật và khoa học, nhưng còn phải bao gồm cả
việc tái khám phá diện mạo đích thật của tạo vật. Điều này không bao
giờ đòi hỏi một chọn lựa giữa khoa học và luân lý, nhưng đúng hơn là
chấp nhận một phương pháp khoa học thực sự tôn trọng các qui luật
của luân lý khách quan.
Sự nhìn nhận tính hiệp nhất của gia đình nhân loại, và sự chú ý đến
phẩm giá bẩm sinh của mỗi người nam nữ ngày nay được nhấn mạnh trong
nguyên tắc về nghĩa vụ bảo vệ. Điều này tuy chỉ mới được định nghĩa
gần đây, nhưng nó đã hiện diện ẩn tàng nơi những nguồn gốc của Liên
Hiệp Quốc, và giờ đây ngày càng trở nên nét đặc trưng trong hoạt
động của cơ quan này. Mỗi Quốc Gia có trách nhiệm căn bản bảo vệ dân
chúng của mình khỏi những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và kéo
dài, cũng như những hậu quả của các khủng hoảng nhân đạo dù là do
thiên nhiên hay do con người gây ra. Nếu các quốc gia không có khả
năng thực hiện sự bảo vệ như thế, thì cộng đồng quốc tế có nghĩa vụ
phải can thiệp với những phương thế luật pháp đã được dự trù trong
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và trong các văn kiện công pháp quốc tế.
Hành động của cộng đồng thế giới và các cơ chế phối thuộc không thể
bị giải thích như một sự áp đặt bất công, hay một sự giới hạn chủ
quyền quốc gia, miễn là hành động ấy tôn trọng các nguyên tắc nâng
đỡ trật tự quốc tế. Trái lại, chính sự dửng dưng hoặc không can
thiệp mới là điều gây thiệt hại đích thực. Điều cần thiết là một sự
tìm kiếm sâu hơn những cách thế ngăn chặn và đương đầu với những
cuộc tranh chấp qua việc tìm kiếm mọi phương thế ngoại giao khả thi,
chú ý và khích lệ ngay cả dấu chỉ mong manh nhất của đối thoại hay
ước ao muốn hòa giải.
Nguyên tắc của “trách nhiệm bảo vệ” đã được xem xét bởi luật dành
cho các dân nước (ius gentium) thời xưa như nền tảng cho mỗi hành
động của quan chức chính quyền liên quan đến người dân do họ cai
trị: vào thời điểm khi khái niệm chủ quyền Quốc Gia đầu tiên được
biết đến, Sư huynh Francisco de Vitoria, người đáng được gọi là vị
tiền hô cho ý tưởng Liên Hiệp Quốc, đã mô tả trách nhiệm này như một
khía cạnh của lý trí tự nhiên được chia sẻ bởi mọi dân nước, và như
thành quả của một trật tự quốc tế có nhiệm vụ điều hoà quan hệ giữa
các dân tộc. Ngày nay, cũng như vào thời đó, nguyên tắc này phải gợi
lên ý tưởng con người như là hình ảnh của Đấng Tạo Hóa, gợi lên ao
ước về sự tuyệt đối, và yếu tính của tự do. Như chúng ta biết, việc
thành lập Liên Hiệp Quốc trùng hợp với những biến động sâu xa mà
nhân loại đã trải qua khi những gì liên quan tới ý nghĩa của siêu
việt tính và lý trí tự nhiên bị loại bỏ, và hệ quả là, tự do và nhân
phẩm đã bị chà đạp nghiêm trọng. Khi điều này xẩy ra, nó đe dọa
những nền tảng khách quan của những giá trị đang linh hướng và chi
phối trật tự quốc tế và nó làm suy yếu đi tính chất thuyết phục và
những nguyên tắc bất khả vi phạm được Liên Hiệp Quốc hình thành và
củng cố. Khi đối diện với những thách đố mới và dai dẳng này thật là
sai lầm khi quay trở về với sách lược thực dụng, giới hạn vào việc
xác định “nền tảng chung”, nghèo nàn về nội dung, và chẳng đưa lại
hiệu quả gì.
Việc tham chiếu đến phẩm giá con người này, là nền tảng và là mục
tiêu của trách nhiệm bảo vệ, dẫn chúng ta tới chủ đề chúng ta đang
đặc biệt chú trọng trong năm nay là năm đánh dấu 60 năm Bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Văn kiện này là thành quả của một sự hội tụ
những truyền thống tôn giáo và văn hóa khác nhau, tất cả được tác
động bởi một ước vọng chung là đặt con người vào tâm điểm của các cơ
cấu, luật lệ và những hoạt động của xã hội, và coi con người là
những gì chính yếu đối với thế giới văn hóa, tôn giáo và khoa học.
Nhân quyền ngày càng được trình bày như là ngôn ngữ chung và là nền
móng đạo lý trong các mối liên hệ quốc tế. Đồng thời, tính cách phổ
quát, tính cách bất khả phân ly và tính cách liên thuộc của nhân
quyền tất cả giúp vào việc bảo đảm nhân phẩm. Cũng hiển nhiên là các
quyền được nhìn nhận và trình bày trong bản Tuyên ngôn được áp dụng
cho tất cả mọi người, vì nguồn gốc chung của con người, vốn là cao
điểm trong ý định sáng tạo của Thiên Chúa đối với thế giới và lịch
sự. Các quyền ấy có nền tảng nơi luật tự nhiên được ghi khắc trong
tâm can con người và hiện diện trong mọi nền văn hóa và văn minh
khác nhau. Tách rời các quyền con người ra khỏi bối cảnh ấy có nghĩa
là thu hẹp phạm vi của chúng và chiều theo một quan niệm duy tương
đối, theo đó ý nghĩa và sự diễn dịch các quyền con người có thể thay
đổi, và đặc tính phổ quát của các quyền ấy có thể bị phủ nhận nhân
danh những quan niệm khác nhau về văn hóa, chính trị, xã hội và cả
tôn giáo nữa. Sự dị biệt bao la giữa các quan điểm không được phép
làm lu mờ sự kiện là không chỉ có các quyền là phổ quát, nhưng cả
con người, chủ thể của những quyền ấy cũng là phổ quát.
Cuộc sống của các cộng đồng, cả quốc nội và quốc tế, minh chứng rằng
sự tôn trọng các quyền, và những bảo đảm đi kèm, là những thước đo
của thiện ích chung, được dùng để đánh giá quan hệ giữa công lý và
bất công, giữa phát triển và nghèo đói, giữa an ninh và tranh chấp.
Việc đề cao nhân quyền vẫn là phương sách hiệu quả nhất để loại trừ
bất bình đẳng giữa các quốc gia và các nhóm xã hội, và để tăng cường
an ninh. Thật vậy, những nạn nhân của lầm than và thất vọng, những
người mà nhân phẩm bị tha hồ chà đạp, dễ trở thành mồi ngon cho lời
mời gọi bạo lực, và rồi họ trở thành những kẻ phá hủy hòa bình. Tuy
nhiên, thiện ích chung mà nhân quyền giúp hoàn thành không thể có
được bằng cách đơn giản là áp dụng cách máy móc những thủ tục, hay
thậm chí tệ hơn là chỉ mong đạt đến sự quân bình giữa các quyền lợi
đối kháng. Điểm son của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là nó cho phép
các nền văn hóa, các diễn đạt luật pháp và các mô thức cơ chế khác
nhau hội tụ chung quanh một nhân tử căn bản các giá trị, và do đó là
các quyền. Tuy nhiên, ngày nay, những nỗ lực cần được tái nhân lên
gấp đôi trước áp lực đòi diễn dịch lại những nền tảng của Tuyên Ngôn
này và tương nhượng sự hiệp nhất bên trong của nó hầu tạo thuận lợi
cho việc dịch chuyển từ việc bảo vệ nhân phẩm sang việc thỏa mãn
những ích lợi đơn giản, thường là những ích lợi đặc thù. Tuyên Ngôn
đã được chấp nhận như một “tiêu chuẩn thành tựu chung” (Tiền Đề) và
không thể được áp dụng từng phần, theo những xu hướng hay những lựa
chọn chỉ đem lại hiểm họa đối nghịch lại với sự hiệp nhất của con
người và từ đó dẫn đến sự đối nghịch với tính cách bất khả phân ly
của các quyền con người.
Kinh nghiệm cho thấy rằng luật pháp thường lấn lướt công lý khi việc
nhấn mạnh trên những quyền này làm cho người ta lầm tưởng rằng những
quyền ấy là hệ quả của những tiến trình luật pháp hay những quyết
định được đưa ra bởi những cơ quan quyền lực khác nhau. Khi bị trình
bày thuần tuý trên phương diện pháp lý, nhân quyền có nguy cơ trở
thành những đề đạt yếu ớt tách rời khỏi chiều kích luân lý và hợp lý
là căn bản và mục tiêu của chúng. Bản Tuyên Ngôn, trái lại, đã củng
cố xác tín rằng việc tôn trọng nhân quyền bắt nguồn cơ bản từ công
lý bất biến, cũng là cơ sở cho quyền lực bắt buộc của những tuyên bố
quốc tế. Khía cạnh này thường bị xem nhẹ khi người ta mưu toan tước
đoạt đi những quyền con người nhân danh một viễn kiến độc tài hẹp
hòi. Vì quyền lợi và nghĩa vụ luôn đi đôi với nhau một cách tự nhiên
trong ứng xử con người, người ta dễ dàng quên đi rằng chúng là hoa
trái của một nhận thức chung về công lý được xây dựng chủ yếu trên
tình liên đới giữa các thành viên trong xã hội, và do đó có giá trị
ở mọi thời đại và cho mọi dân tộc. Trực giác này đã được diễn tả rất
sớm ít nhất là vào thế kỷ thứ Năm bởi thánh Augustinô thành Hippo,
một trong những bậc thầy của di sản tri thức của chúng ta. Ngài dạy
rằng câu ngạn ngữ: Đừng làm cho kẻ khác điều mà bạn không muốn người
ta làm cho mình “nhất thiết không thể thay đổi theo những nhận định
khác nhau nổi lên trên thế giới” (De Doctrina Christiana, III, 14).
Như thế, nhân quyền, cần phải được tôn trọng như một biểu hiện của
công lý, chứ không chỉ đơn giản vì chúng được có hiệu lực nhờ ý muốn
của các luật gia.
Thưa quý vị,
Theo dòng lịch sử, những tình huống mới phát sinh, và cố gắng đã
được đưa ra để liên kết những tình huống này với những quyền mới. Sự
sáng suốt, nghĩa là khả năng phân biệt thiện ác trở nên cần thiết
hơn trong bối cảnh của những đòi hỏi liên quan đến chính những sinh
mạng và hành vi của con người, của các cộng đoàn và các dân tộc. Khi
đề cập đến chủ đề quyền con người, vì liên quan đến những tình huống
quan trọng và những thực tại sâu xa, sự sáng suốt là một nhân đức
vừa thiết yếu vừa đem lại lợi ích.
Sự sáng suốt chỉ ra rằng giao phó hoàn toàn cho mỗi Quốc Gia, với
luật pháp và các cơ chế của họ, trách nhiệm chung cuộc thỏa mãn các
khát vọng của con người, của các cộng đồng và toàn thể dân chúng,
đôi khi có thể đem lại những hệ quả loại trừ khả năng của một trật
tự xã hội tôn trọng phẩm giá và các quyền con người. Mặt khác, một
viễn kiến đời sống bám víu chặt chẽ nơi chiều kích tôn giáo có thể
đạt được điều này, vì sự nhìn nhận các giá trị siêu việt của mỗi
người nam nữ làm thuận lợi cho việc hoán cải con tim, là điều dẫn họ
đến dấn thân chống lại bạo lực, chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh,
đề cao công lý và hòa bình. Điều này cũng đem lại bối cảnh thích hợp
cho cuộc đối thoại liên tôn trong những lãnh vực khác của hoạt động
con người. Đối thoại cần được nhìn nhận như phương thế qua đó những
thành phần khác nhau của xã hội có thể nêu lên quan điểm của họ và
xây dựng sự đồng thuận chung quanh sự thật liên quan đến những giá
trị hay những mục tiêu đặc thù liên quan. Khi được tự do thực hành,
các tôn giáo theo bản chất của mình có thể tự động dẫn đến một cuộc
đối thoại giữa tư duy và cuộc sống. Nếu cả trên bình diện này, bầu
khí tôn giáo cũng được tách biệt với hoạt động chính trị thì cá nhân
và các cộng đồng sẽ được hưởng những lợi ích lớn lao. Mặt khác, Liên
Hiệp Quốc có thể trông cậy vào những thành quả của việc đối thoại
giữa các tôn giáo, và gặt hái được hoa trái nơi việc các tín hữu sẵn
sàng mang kinh nghiệm của mình ra phục vụ cho công ích. Nghĩa vụ của
họ là đề ra một nhãn quan đức tin không theo đường hướng bất khoan
dung, kỳ thị và xung khắc mà là theo một đường hướng hoàn toàn tôn
trọng sự thật, sự sống chung, quyền lợi và hòa giải.
Dĩ nhiên các quyền con người cũng phải bao gồm cả quyền tự do tôn
giáo, được hiểu như một sự diễn tả chiều kích vừa cá nhân và cộng
đoàn – một viễn tượng vừa làm nổi bật sự hiệp nhất của con người,
đồng thời lại phân biệt rõ ràng giữa chiều kích công dân và chiều
kích tín hữu. Hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong những năm gần đây
đã bảo đảm rằng cuộc tranh luận công cộng phải có chỗ cho những quan
điểm được linh hướng bởi một nhãn quan tôn giáo nơi tất cả mọi chiều
kích của nó, bao gồm cả chiều kích lễ nghi, phụng tự, giáo dục, phổ
biến thông tin và quyền tự do tuyên xưng đức tin và chọn lựa tôn
giáo. Vì thế, không thể tưởng tượng được việc các công dân buộc phải
đè nén một phần của chính mình, tức là niềm tin của họ, ngõ hầu có
thể là những công dân tích cực. Không bao giờ cần phải chối bỏ Thiên
Chúa để được hưởng các quyền của mình. Những quyền liên quan đến tôn
giáo là những quyền cần được bảo vệ hơn hết nếu những quyền ấy đối
nghịch với một ý thức hệ thế tục đang thịnh hành hoặc với những lập
trường tôn giáo của đa số có tính chất loại trừ tôn giáo khác. Sự
bảo đảm hoàn toàn tự do tôn giáo không thể bị thu hẹp vào việc tự do
phụng tự, nhưng còn phải để ý đến chiều kích công cộng của tôn giáo
và làm sao để các tín hữu có thể tham gia vào việc xây dựng trật tự
xã hội. Cố nhiên họ đang thực sự thi hành điều đó, chẳng hạn qua sự
dấn thân có tầm ảnh hưởng và quảng đại trong một mạng lưới rộng lớn
các sáng kiến, từ các Đại Học, các học viện khoa học và trường học,
cho đến các cơ sở chăm sóc y tế và các tổ chức bác ái, phục vụ những
người nghèo khổ nhất và những người bị bỏ rơi. Từ chối nhìn nhận sự
đóng góp cho xã hội ăn rễ nơi chiều kích tôn giáo và trong sự tìm
kiếm Đấng Tuyệt Đối – mà tự bản chất của nó thể hiện một sự hiệp
thông giữa con người với nhau - có nghĩa là dành ưu tiên cho thái độ
cá nhân chủ nghĩa và như thế là làm băng hoại sự hiệp nhất của con
người.
Sự hiện diện của tôi giữa Đại Hội Đồng này là một dấu chỉ nói lên
lòng quí chuộng của tôi đối với Liên Hiệp Quốc và có ý bày tỏ mong
ước rằng tổ chức này ngày càng trở nên một dấu chỉ đoàn kết giữa các
Quốc Gia và là một dụng cụ phục vụ toàn thể gia đình nhân loại. Sự
hiện diện này cũng biểu lộ thiện chí sẵn sàng của Giáo Hội Công Giáo
đóng góp vào những quan hệ quốc tế trong cách thế sao cho mọi người
và toàn thể các dân tộc cảm thấy tầm quan trọng của họ. Trong cách
thế nhất quán với đóng góp của mình trong lãnh vực luân lý và đạo
đức và với hoạt động tự do của các tín hữu, Giáo Hội cũng hoạt động
cho việc nhận ra những mục tiêu này thông qua các hoạt động quốc tế
của Tòa Thánh. Thật thế, Tòa Thánh luôn luôn có một chỗ tại Đại Hội
Đồng các Quốc Gia, qua đó thể hiện đặc thù của mình như một chủ thể
trên trường quốc tế. Như Liên Hiệp Quốc gần đây đã xác nhận, Tòa
Thánh đưa ra những đóng góp của mình theo những thiết định của công
pháp quốc tế, giúp xác định công pháp và đưa ra thỉnh cầu với luật
quốc tế này.
Liên Hiệp Quốc tiếp tục là một nơi ưu tiên trong đó Giáo Hội cố gắng
chia sẻ kinh nghiệm của mình về “tình nhân loại”, vốn đã được phát
triển qua bao thế kỷ giữa các dân tộc thuộc mọi chủng tộc và văn
hóa, và dành kinh nghiệm ấy cho mọi thành phần của cộng đồng quốc
tế. Kinh nghiệm và hoạt động này, nhắm đạt được tự do cho mọi tín
hữu và cũng nỗ lực làm cho các quyền của con người được bảo vệ một
cách hữu hiệu hơn. Những quyền lợi này được đặt căn bản và được hình
thành bởi bản tính siêu việt của con người, một bản tính giúp con
người có thể theo đuổi hành trình đức tin của họ và việc tìm kiếm
Thiên Chúa trên trần gian này. Việc nhìn nhận chiều kích này cần
phải được củng cố nếu chúng ta còn muốn nuôi dưỡng niềm hy vọng của
nhân loại về một thế giới tốt đẹp hơn, và nếu chúng ta còn muốn tạo
được những điều kiện cho hòa bình, phát triển, hợp tác và sự bảo đảm
về các quyền lợi cho các thế hệ tương lai.
Trong Thông Điệp gần đây của mình là Spe Salvi, tôi đã xác định rằng
“mọi thế hệ đều có nhiệm vụ tham gia một cách mới mẻ vào việc miệt
mài tìm kiếm con đường đúng đắn để sắp đặt trật tự công việc con
người” (số 25). Đối với các Kitô hữu công việc này được tác động bởi
niềm hy vọng được kín múc từ công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.
Đó là lý do tại sao Giáo Hội vui mừng được liên kết với hoạt động
của Tổ Chức ưu tú này, một tổ chức có trách nhiệm cổ võ hòa bình và
thiện chí khắp trái đất. Các Bạn thân mến, tôi xin cám ơn quý vị về
cơ hội được ngỏ lời cùng các bạn hôm nay đây, và tôi hứa với các bạn
sự hỗ trợ của tôi qua lời cầu nguyện khi các bạn theo đuổi thực hiện
công cuộc cao quí này.
Trước khi rời Đại Hội Đồng này, tôi muốn gửi lời chào của tôi bằng
những ngôn ngữ chính, đến tất cả mọi Quốc Gia được đại diện ở nơi
đây.
Bình an và thịnh vượng với sự phù trợ của Thiên Chúa!
Peace and Prosperity with God’s help!
Paix et prospérité, avec l’aide de Dieu!
Paz y prosperidad con la ayuda de Dios!
سَلامٌ وَإزْدِهَارٌ بعَوْن ِ الله ِ!
因著天主的幫助願大家 得享平安和繁榮 !
Мира и благоденствия с помощью Боҗией!
Thank you very much.
Cám ơn các Bạn