Trang nhà / Tri Thức / Triết Học / Với khoa học mới, cần đổi mới nhiều quan niệm triết – thần

Với khoa học mới, cần đổi mới nhiều quan niệm triết – thần

Lm. Hoàng Sỹ Quý SJ.

Những phát minh ở thế kỷ XVI-XVII về thiên văn của Copernic, Kepler, Galilei, và ở thế kỷ XIX về sinh vật học của Lamarck, Darwin đã làm chao đảo niềm tin thiếu sáng suốt của bao kẻ và khởi đầu cho một cuộc ly thân kéo dài đáng buồn của Kytô-giáo với khoa học. Cũng chỉ vì cách hiểu Kinh Thánh quá “nghĩa đen” xưa kia, kèm với sự chai cứng trong thái độ bảo thủ, thiếu cởi mở và mềm dẻo trong cách nhìn thế giới và cuộc sống.

Từ mấy thập kỷ nay, khoa học lại bước vào kỷ nguyên của những phát hiện hoàn toàn mới, chúng làm chao đảo chính những xác tín khoa học của mới đây thôi. Nhưng cùng lúc, Tòa thánh cũng có những cơn đau đầu với bao vấn đề đặt ra cho luân lý, cho phẩm giá con người. Có những vấn đề thấy rõ, như tác biến (manipulation) con người, nhưng chìm sâu phía dưới còn bao vấn đề khác liên quan đến những quan niệm xưa cũ của chúng ta về không gian và thời gian, về vật chất và bản thể, cũng như về sự liên đới của chúng với vĩnh cửu, với các mầu nhiệm đạo, với Thiên Chúa, v.v… Không những đức tin có thể bị thử thách, mà còn bị thử thách chính niềm tin vào khoa học, vào tương lai của nhân loại chúng ta.

 Quan Niệm Về Con Người Và Thiên Chúa

Mất niềm tin vào khoa học ư? Chỉ mới đây thôi, người ta tưởng như khoa học đang thế chỗ Thiên Chúa để biến đổi tất cả và mở ra trước mắt chúng ta viễn ảnh huy hoàng về một thiên đường tại thế. Thế nhưng rồi vào thập niên 70, dấu hiệu về sự cạn kiệt không xa của nguồn năng lượng lỏng khiến khoa học phải giật mình khựng lại. Kế đó, việc phát hiện tầng ozone bị thủng và trái đất nóng dần do sản xuất dồn dập và bừa bãi khiến  phải đặt chấm hỏi trên sự toàn năng của chúng ta. Chiếc đũa thần khoa học hình như đang trở thành đũa quỷ để ta tiêu diệt chính mình mà không hay biết.

Không chỉ tiêu diệt mình ở chỗ là sinh vật, con người có thể tiêu diệt mình ở chỗ là người nữa. Với khoa Di truyền học mới, người ta đang hoàn thiện bản đồ gen và xác định tính năng mỗi gen, nhờ đó  cải thiện và biến đổi các giống loại sinh vật. Biết đâu rồi chẳng đến lượt giống người chúng ta? Thử hình dung những ngân hàng giống (cho người), chuyên chế biến và bảo quản các phôi thai để cung cấp theo đơn đặt hàng những mẫu người khỏe để đánh nhau hay thông minh để nghiên cứu. Con người không còn là mục đích của mình nữa, nó thành công cụ và đồ vật mất rồi!

Thật ra, trước khi sản xuất con người, người ta đã và đang biến chất nó. Không gian phủ ngập sóng thông tin hướng về tiêu thụ và lợi lộc đang làm công tác này. Nó muốn nhào nặn cùng một mẫu người mà với họ, ông Trời là cái bụng và xe đưa là những bản năng hạ đẳng. Mà một kiểu người như thế liệu có còn là người hay không?

Khoa học chắc rồi sẽ có thể làm nên chất liệu bán sinh học và sinh học cho các bộ điện tử, nhờ đó dễ nối mạng máy tính với óc người, qua đó sai khiến con người hoặc tạo ra thứ dây chuyền sản xuất mới với bộ ba Máy-Máy tính-Óc người-Máy, v.v. . .Ô hô con người! Khoa sinh thái học hôm nay chưa giải quyết được gì cho môi trường sống của thân xác, thì nay lại đến lượt môi trường sống của tinh thần bị đe dọa.

Nếu ý thức giới hạn của mình, khoa học thấy cần phải khép mình vào một kỷ luật luân lý nào đó, thì chính sự nhìn nhận thất bại ấy của khoa học cũng đặt ngược lại cho ông chủ của nó câu hỏi về giá trị của cái mà ông ta dựa vào xưa nay để lên mặt với đời. Tôi có ý nói đến lý trí với những khả năng nó mở ra cho chúng ta.

Vâng, vào lúc mà Ðông phương còn yêu tự nhiên đến nỗi coi kỹ thuật là Xảo, thì Tây phương vốn thích phát minh và sáng tạo, đã phát triển nhanh về cả kỹ thuật lẫn khoa học. Theo một nhà tư tưởng Tây phương, thì bởi coi yếu tính của Thiên Chúa là sự toàn năng, nên muốn thành Thiên Chúa, Tây phương đã cố trở nên toàn năng như Ngài. Thế nhưng, để làm chi cũng được, thì cái gì cũng phải biết. Toàn năng và toàn tri đi đôi với nhau.

Từ rất xa xưa, Hy lạp đã đề cao cái biết lý tính. Học Hy lạp, Tây phương cũng say mê cái mà thầy mình đã mê say. Quả thế, Hy lạp thần thánh hóa ý tưởng (idea). Với Platon, thì chỗ ở của ý tưởng là Thiên giới cơ. Không phải ý tưởng phát sinh từ thực tại, mà trái lại, chính ý tưởng mới cung cấp phản ảnh của mình là hình dạng (eidos) cho vật chất, khiến nó thành cái gì, để được biết và hiện hữu. Với Platon, ý tưởng là đối tượng chiêm ngưỡng của Trí (Noũs) khi Trí còn ở Thiên giới. Với Aristote, ý tưởng là đối tượng trực tri của Trí năng (Intellect agent). Còn với Plotin, ý tưởng (=noêton, cái khả tri) vừa là đối tượng trực tri của Trí, vừa là một với Trí, mà Trí này là Hupostasis thứ hai, hay sự bắt đầu hiện thể tí ti từ Nhất thể (En) vốn là Hupostasis thứ nhất, còn u u minh minh, chưa thành chi cả. Cái Trí thần linh nói đó là chi vậy? Ý tưởng, cũng được gọi là cái khả tri, là đối tượng trực tri hay chiêm ngưỡng của nó, là một với chính nó, mà ý tưởng thực ra là sản phẩm của lý trí, nên cái Trí, Noũs hay Logos, chẳng qua là lý trí được thần thánh hóa đó thôi.

Không ai chối cãi rằng, do đề cao Lý trí, ý tưởng phổ biến, tri thức khách quan, mà Tây phương đã đưa chúng ta vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa học và kỹ thuật nó đổi mới tất cả. Thế giới đã thành thế giới thực sự của loài người, mang đầy dấu ấn của bàn tay con người. Con người đã “đặt tên” cho hết thảy (St. 2:20), nghĩa là làm chủ, là đổi thay và quyết định về cái thế giới đã thành nhà của nó. Có điều khoa học (cùng với lý trí) phải nhìn ra giới hạn của mình. Khoa học không giải quyết được mọi vấn đề của cuộc sống, cũng như cái biết lý tính không phải là đỉnh cao nhất của tri thức đâu. Vâng, lý trí không phải là tất cả tinh thần, do đó cũng không phải là một với tinh thần, như Descartes, Kant và Hegel tưởng.

Trung quốc xưa không đặt tinh thần ở cái biết khách quan, nhưng ở một thứ trực giác nội tâm nó làm nên không phải những triết gia cho bằng những hiền triết (sage). Ấn độ không phủ nhận giá trị của lý trí, nhưng họ cho lý trí chỉ là hạ trí, mà họ gọi là manas. Trí ở chỗ cao nhất của họ là buddhi, hay tuệ trí. Chính buddhi mới vượt nổi chiều sâu nội tâm để đạt tới một thứ tri thức huyền bí không khách quan vì không đối tượng, nó giải thoát chúng ta. Vâng, trí giả phương đông không thích cái biết nó hướng ta ra ngoài cho bằng cái biết nó làm phong phú bên trong.

Sự cần thiết nhưng thiếu sót của khoa học và tri thức lý tính đòi chúng phải được bổ túc và dung hòa với những gì sâu xa hơn. Ðây không chỉ là vấn đề đặt ra cho cuộc sống, mà còn là vấn đề đặt ra cho suy tư triết-thần. Sự toàn tri (biết mọi điều, dễ được hiểu như một thứ biết khách quan) hướng Thiên Chúa ra ngoài, và toàn năng (làm được mọi cái) hướng Ngài về mặt phức đa của thế giới, đều không phải là đặc tính cốt yếu của Thiên Chúa Kytô-giáo. Vâng, Thiên Chúa đúng Kytô-giáo không phải là Thiên Chúa toàn tri toàn năng và hướng ngoại, cho bằng Thiên Chúa của đức Ái và bề sâu Cha-Con-Thần khí! Và con đường Ðức Kytô mở ra không phải là sự ngược dòng ý tưởng để đạt tới ý tưởng cao nhất: Agathon (Hảo thiện), mà là vét rỗng những ý tưởng đó để thành bé thơ như chẳng biết gì, nhờ đó Chúa thông đạt cho ta một thứ biết hoàn toàn khác, thứ biết thiên phú của đức tin, mà sự phát triển tối đa sẽ thành huyền kiến (vision) ở đời này và trực tri Thiên Chúa ở yếu tính Ngài trong Cõi thọ. Con đường ấy cũng không phải là lớn lên với sự toàn năng, nhưng là thấp xuống, và Chúa sẽ đợi ta ở đáy sâu thung lũng. Lại nữa, ta chẳng cần ngước mắt lên để tìm Chúa, khi mà ta chỉ tiếp cận bề sâu của Chúa bằng chính bề sâu của lòng mình.

Nói thế không có nghĩa là chúng ta phủ nhận sáng tạo theo Ấn, do đó không nhìn nhận công lớn của khoa học-kỹ thuật, không nhìn nhận những giá trị thế trần chúng là phản ảnh mặt ngoài của Mỹ-Hảo viết hoa. Có điều những giá trị nói trên không thể khép lại trên mình mà không mất luôn ý nghĩa. Do đó, vừa thừa nhận chúng, ta vừa phải có thái độ bất cần đối với chúng. Ðồng thời, trong khi khai triển cái biết lý tính của mình, ta cũng hướng căng về một thứ biết trầm sâu hơn.

Ðây cũng là lúc nên đặt lại vấn đề, xem đâu mới là biểu hiện lớn nhứt của tinh thần, biểu hiện ấy có phải là khả năng tri thức của chúng ta hay không? Quả là người Tây trước kia và thế giới hôm nay thường nghĩ như thế đấy. Lấy tri thức làm niềm tự hào của con người, nay chính con người lại phải nhường ngôi cho máy vi tính cũng vì thứ tri thức xem ra giống thế. Vâng, trí thông minh cực đại của kiện tướng cờ vua Kasparov đã thua máy Deep Blue!

Hẳn là anh có thể bảo: Sự thông minh của cái máy, dù là của siêu máy vi tính trong tương lai, không thể cùng loại cấp với trí thông minh của con người được. Thế nhưng đồng ý với nhau được về một tiêu chuẩn để phân biệt như thế không phải là chuyện dễ đâu. Theo tôi, sự phân biệt rõ nhất giữa con người với cái máy và con khỉ phải tìm ở chỗ khác. Vả nữa, đâu phải chỉ có trí năng mới làm nên tinh thần, nhất là thứ trí năng rất khiếm khuyết là lý trí của chúng ta.

Như chúng ta thấy, hễ là vật chất thì không thể không bị điều khiển từ ngoài bởi quy luật, dù đó là quy luật lý hóa hay sinh lý, tâm sinh lý. Do đó  cơn bão, con cọp hay robot không hề có trách nhiệm về những phá hoại của mình. Cả cảnh sát và Tòa án đều thấy rõ như vậy. Vâng tác giả thực của công việc khi ấy là quy luật, là bản năng, là kẻ lập trình cho máy vi tính cơ. Cũng vì thế, nắm được quy luật, con người có thể điều khiển tất cả dù nó không mạnh bằng con voi và “suy nghĩ” nhanh như máy tính.

Sở dĩ chỉ con người mới làm chủ được sự vật, là vì nó làm chủ được chính mình và hành động của mình. Ở chỗ là thân xác, con người bị vây bọc bởi cả một mớ bòng bong những quy luật, nhưng không ai dám chắc, trước một biến cố nào đó, anh nhất định sẽ phản ứng ra sao. Bởi lý do rất đơn giản, là anh có khả năng cưỡng lại sức ép của cả quy luật lẫn bản năng bên trong. Hơn thế, anh còn có thể nương theo sức đẩy của bản năng và quy luật để lái con thuyền buồm cuộc sống theo hướng đi đã chọn.

Sở dĩ con người là Chủ, vì nó bắt đầu từ chính mình (tức từ quyết định của mình), chứ không bắt đầu từ ngoài mình (tức bị quyết định bởi cái không phải là mình). Nghĩa là con người nắm được mình bằng tự thức (auto-conscience), bằng cân nhắc suy tư, và bằng tự định (auto-détermina­tion). Sở dĩ được như thế, là vì con người có riêng một không gian nội tâm, và nó — vâng, một mình nó — làm chủ trong ngôi nhà của mình. Người khác có thể tác động vô đó từ ngoài, chứ không thể thay thế tôi trong đó. Trong đó, do rối loạn tâm thần, tôi có thể lầm tôi với một người khác (lầm về bản tính, quen gọi nhân cách), nhưng tôi vẫn còn đó, ở thế đối diện với tất cả những gì không phải tôi.

Chính vì nắm được mình từ trong bằng tự thức, nên tôi mới bẻ gập được mình (re-flectere) để nhìn mình đang tri, hành, cảm. Thấy được mình đang tri thức, tôi cũng tách riêng được ý tưởng (nhờ nó tôi tri thức) để làm việc với nó, và đây là tư duy, suy luận (ré-flexion). Tư duy hay suy luận chính là bẻ gập mình để làm việc trong nội tâm mình với những ý tưởng (hoàn toàn trừu tượng) của mình. Chính nhờ khả năng suy luận này, mà từ (ý tưởng về) một thực tại khả giác, tôi có thể vượt tới những gì siêu giác, như thực tại siêu hình, những quy luật và nguyên tắc vốn tổng quát, thậm chí những thể thiêng liêng. Và đó là giải thích cho khả năng khoa học, kỹ thuật, giải thích cho văn hóa và văn minh, giải thích cho đặc tính rất dễ nhận thấy của con người: đặc tính tiến bộ và tiến bộ không ngơi nghỉ. Mà nguồn gốc và nền tảng là đặc tính Làm chủ nói trên!

Vâng, chỉ có con người là Chủ, là Chủ thể hay Chủ vị (le sujet, âtman, tức chính mình). Một mình nó xưng Tôi và đứng thẳng lên, đối diện với tất cả. Chứ máy vi tính, dù nhớ nhanh, tính chuẩn và lô dích đến đâu, cũng vẫn là công cụ, chỉ vận hành theo lập trình của con người. Tất cả chỉ vì, dù xem như “suy tính,” nó không thể gập mình nhìn vô trong mình được: nó không có không gian nội tâm! Bởi không có bề sâu như thế, nên nó chỉ hướng ra ngoài về phía “đối tượng” là công việc và đường đi là lô dích thôi. Dẫu sau này nó có thể trở nên vạn năng, thành con thú xổng chuồng mà ông chủ là con người không khống chế nổi nữa, thì nó vẫn là máy, một cái máy hay nhưng bất kham, như con ngựa hay và bất kham. Máy điện toán là cái “vị tha” (pro-alio, cái hiện hữu vì cái khác), chỉ con người do bề sâu và tư cách Chủ mới là cái vị thân (pro-se, le pour-soi) thôi.

Chẳng những vượt trên máy vi tính, con người cũng vượt hẳn những sinh vật khác. Sự vượt loại này phải chăng chỉ là do tiến hóa bằng những bước nhảy vọt? Nghiên cứu sự phát triển giải phẫu học từ chủng thấp lên chủng cao, đặc biệt nơi hệ thống gen và khối óc, nghiên cứu bước tiến rút gọn ấy từ nòng nọc sang cóc, và ở một vài dấu vết còn sót nơi bào thai con người, khoa học có tạm đủ lý do để nói tổ tiên chúng ta là khỉ vượn. Vâng, ít là về thân xác, chúng ta không ngồi lên trên thế giới, bởi chúng ta cũng thuộc về thế giới ấy. Và nếu nhìn nhận tôi cũng là thân xác (chứ xác không chỉ là chiếc áo khoác của tôi), thì tôi không thể coi vạn vật là công cụ suông, nhưng bạn đồng hành nữa. Vâng, đồng hành trên cùng một chuyến tàu. Ðồng hành cả trong cuộc sống tại thế lẫn trong hành trình hướng về Trời đất mới (x. Rom 8:21; 2P 3:13…). Một vũ trụ quan đầy tính sinh thái, phải không?

Cả con đường tiến hóa, đang được hầu hết công nhận, từ Quantum sơ thủy tới con người hôm nay, cũng phải làm thay đổi cách chúng ta quan niệm xưa nay về sáng tạo, về phương thức sáng tạo của Thiên Chúa.

Theo Kinh Thánh, thì Thiên Chúa đã sáng tạo bằng Lời. Phải chăng Lời đóng vai trò nguyên nhân tác thành của thế giới? Phải chăng Thiên Chúa là Ðộng cơ đầu (pri­mum movens) như Aristote nghĩ và thánh Tôma nghĩ theo?

Thật ra, nếu lấy cái Quantum thô sơ thời ấy mà đặt bên thế giới muôn mầu hôm nay, ắt là ta phải ngỡ ngàng không sao hiểu nổi, không thể tin rằng cái quả lớn kia lại do cái cây tí teo này. Thứ nhất vì xem ra “không ai cho cái mình không có” (Nemo dat quod non habet). Chính khoa học cũng được xây trên nguyên tắc: Mỗi hiện tượng (quả) phải có nguyên nhân tương xứng cơ mà. Thứ hai, vì đây là một Tiến hóa về phía…, mà chỉ tinh thần mới thực sự nhắm trước, nghĩa là hành động vì một mục đích đặt ra. Thứ ba vì, như giáo sư Trịnh xuân Thuận quả quyết, ngoại trừ Thiên Chúa (vốn là Tinh thần tuyệt đối), không một thiện xạ nào có khả năng bắn trúng hồng tâm 1cm của cái đích đặt xa 15 tỷ năm ánh sáng. Vì chỉ cần lập trình hay tính sai tí ti ở bất cứ điểm nào trên đường dài vô tận ấy — vâng, chỉ cần chút xíu đổi thay như ở một trong những hằng số (thí dụ hằng số tốc độ ánh sáng) — thì đã chẳng có gì chuyển tiếp, chẳng có thế giới tuyệt vời này cùng với sự sống ở giữa, với con người là cái hồng tâm.

Và như thế, sự kỳ diệu của nguyên nhân (tác thành) đã chuyển sang cho cái đích: từ sự hướng đích trong thiên nhiên đến sự nhắm đích thần kỳ của một Tinh thần. Sự vật có làm gì cũng bị đẩy (từ sau lưng) mà làm, đẩy bởi nguyên nhân và đẩy bằng quy luật mà nó không thể cưỡng. Ðộng vật xem như tự do hơn, nhưng thực ra có làm gì nó cũng làm do sức ép của bản năng cả. Chỉ con người mới đứng thẳng để nhìn về phía trước, nghĩa là làm gì cũng làm vì một mục đích nhắm trước. Vâng, chính vì mục đích có nhà để ở, tôi mới tìm người vẽ mẫu, tìm thợ xây nên, nghĩa là tìm những trung gian, đặt những nguyên nhân (tác thành). Như thế, mục đích đúng là nguyên nhân và nguyên nhân lớn nhất, bởi chính nó tác động trước và mạnh vào các nguyên nhân trên vốn chỉ được coi như phương thế thôi. Có điều con người là tinh thần khiếm khuyết, nên với mục đích suông, nó không thể thực hiện ước mơ của mình. Nó không thật sự sáng tạo. Chỉ Thiên Chúa mới từ không làm ra có, mà chẳng cần phương tiện, trung gian. Muốn có vũ trụ, Ngài có liền nếu muốn. Nghĩa là chỉ cần đích nhắm (mục đích) thôi. Có điều Ngài đã muốn dùng trung gian, chứ không trực tiếp làm nên từng loại một, như tác giả Sáng thế thư nghĩ.

Tuy dùng trung gian, tạo nên những nguyên nhân tác thành, nhưng: “không phải do quân nhiều mà trận thắng, chiến thắng là do sức mạnh từ Trời,” Thiên Chúa đã dùng cái chẳng đáng gì để làm nên điều vĩ đại. Vâng, Thiên Chúa đã tạo nên vũ trụ vô cùng lớn và muôn màu này chỉ từ một Quantum sơ thủy chưa nên dạng nên hình. Thiên Chúa chỉ đặt vô đó một ý muốn, cũng là một đích nhắm và một tiếng gọi. Tôi nói tiếng gọi, vì với cái đích mà Ngài làm chủ, Ngài chỉ cần gọi ra từ hư vô. Và cũng vì cái đích cuối là con người có ý thức và tự do, nên Thiên Chúa chờ ở đó một lời đáp (nhân danh tất cả) để hoàn thành tác phẩm và hoàn tất công việc. Nghĩa là đến con người rồi, thì chưa phải là bức họa đã vẽ xong. Con người có sứ mệnh hoàn thiện nó bằng việc làm và đời sống của mình. Làm và sống theo cái thiên mệnh đã chiếu in thành Tính nơi lương tri ấy.

Chính do tiếng gọi và sự nhắm đích toàn năng nói trên, mà có những bước nhảy vọt, để cái cực bé đẻ ra cái cực lớn. Vì cùng đẻ, không phải chỉ có nguyên nhân tác thành, mà trước hết và trên hết còn có nguyên nhân mục đích của đấng mà ý muốn là nguồn gốc duy nhất của thực tại. Ý muốn ấy không chỉ có mặt ở lúc khởi động, mà trong suốt tiến trình. Và như thế phép lạ diễn ra trong suốt tiến trình, khi mà ở mỗi bước của tiến trình, không chỉ có nguyên nhân gọi là tự nhiên. Vâng, nơi nguyên nhân, đã có cái vượt trên nguyên nhân là ý Chúa, cũng là cái đích mà Chúa nhắm.

Cách giải thích sáng tạo bằng mục đích hơn là bằng nguyên nhân này tránh được cái nhìn về con người như một liên minh giữa hồn và xác. Kytô-giáo xưa nay miệng thì nói: Con người là một bản tính dù với xác chất và hồn linh, nhưng trong thực tế, họ mặc nhiên nghĩ khác khi chủ trương: Linh hồn là do Thiên Chúa sáng tạo trực tiếp mỗi lần. Như thế có khác chi bảo rằng: Thiên Chúa chờ cho cơ thể phát triển đến một mức nào đó, rồi mới tạo từ ngoài một linh hồn để đút vô. Ðể rồi khi chết, lại nghĩ “hồn lìa khỏi xác,” chờ sau “phán xét” mới có xum vầy. Thánh Tôma chỉ chỉnh tí ti khi cho rằng, tuy lìa đấy, mà hồn vẫn giữ một “liên hệ siêu việt (relation transcendantale)” nào đó với xác thân.

Vậy muốn giữ cho con người đúng một thể, một tính, thì phải giải thích tạo, sinh và tử sao đây? Nếu Chúa trực tiếp can thiệp lần đầu (với nguyên tổ), Chúa sẽ phải tiếp tục làm thế, cả triệu lần mỗi ngày, mỗi khi có ai sinh ra. Nhưng nếu Chúa không tạo sinh linh hồn để đút vô, chả hóa con người là con của chú khỉ? Quả thật, nếu nhìn sáng tạo như sự đun đẩy (từ phía sau) của những “động cơ” hay nguyên nhân (tác thành), thì có lẽ ta phải cam phận với tư cách thấp hèn ấy đấy. Chứ nếu nhìn sáng tạo dưới ánh sáng của nguyên nhân mục đích, do sức hút và tiếng gọi từ phía trước bởi một Tinh thần, thì ta sẽ là “con” của Tinh thần ấy hơn là của nguyên nhân (con khỉ) kia. Mà nhìn như thế là đi vào đúng hướng nhìn của khoa học hôm nay. Với khoa học hôm nay, sự tiến hóa từ bình diện sinh vật đã mở bung đến tất cả, vâng, từ cái Quantum duy nhất ấy. Nơi cái Quantum này, Thiên Chúa đã đặt vô một ý định, cái ý định hay Thiên mệnh nó biến thành đích nhắm của Quantum, hay, nói cho đúng hơn, đích nhắm của nhà Thiện xạ nơi Quantum. Mà cái đích nhắm ấy là con người. Và con người ấy là xác-thần (tinh thần) hai mặt. Kinh thánh đã nói đúng khi nói Thiên Chúa sáng tạo con người vừa bằng bùn đất vừa bằng thần khí hay hơi sống (ruah) của mình.

Nếu con người là một dưới hai mặt xác-thần, thì thần không thể hiện hữu mà không còn xác. Nhưng nếu vậy, giải thích sao đây cái chết như một “hồn lìa khỏi xác?” Thật ra, không có “hồn lìa khỏi xác,” như Karl Rahner nghĩ.1 Nghĩa là khi con người còn ở dương gian, xác nó bị giới hạn trong một khối nhỏ vật chất, trong vật chất dưới mặt số lượng và phức đa của nó. Nhưng vật chất không chỉ có mặt phức đa, mà còn mặt nhất tính nữa. Khi xác chết, hồn chỉ lìa xác dưới mặt phức đa, do đó biến dịch đó thôi. Hồn vẫn là sự hiển định (entéléchie, entelekheia) của xác, nhưng bây giờ thì sự hiển định hướng về vật chất dưới mặt nhất tính của nó. Có nghĩa là hồn mô thức hóa (informer) (toàn) vật chất thành xác riêng của mình, để rồi xác vinh phúc sẽ là “biểu hiện tinh thuần của tương quan với toàn vũ trụ mà bản vị được vinh phúc hóa có. 2

Ðể chứng minh vật chất có diện Nhất nói trên, Rahner phải nại đến hiện tượng Thần giao cách cảm: hai kẻ cách cảm được với nhau thì dù ở kế bên hay xa ngàn dặm vẫn hiểu được ý nghĩ của nhau. Thế mà ở thế giới phức đa này thì cường độ sóng (dù sóng đàn hồi hay sóng điện từ) luôn tỷ lệ nghịch với khoảng cách. Ngày nay, với khoa vật lý mới, chúng ta thừa hiểu rằng vật chất có một gốc nguồn và nền tảng vô cùng đơn, cái mà biểu hiện của nó vừa là sóng vừa là hạt, khi năng lượng khi khối lượng (masse) bất phân. Vậy nếu con người chết chỉ là xác chết về mặt phức đa, thì tận thế cũng chỉ diễn ra với mặt phức đa của vật chất đó thôi. Còn Trời mới đất mới, theo tôi nghĩ, sẽ là sự ăn theo của vật chất đã được thiêng liêng hóa cách nào đó, để thành cái Chất “một” vĩnh cửu và sáng láng mà mỗi hồn hiển định thành xác riêng, tùy độ lành thánh và bản sắc của mình. Vật chất khi ấy không còn là nguồn gốc của sự phân cách giữa chúng ta nữa, nhưng nền tảng của sự hiệp thông giữa chúng ta.

Quan Niệm Về Bản Thể

Với khoa vật lý mới, quan niệm xưa về Bản thể (Ousia của Aristote theo ý nghĩa Căn bản, hay Substantia của kinh viện) cũng bị lung lay.

Hãy nhìn một đống cát, nó vừa là cát vừa đống cát. Thử hỏi cái gì là gốc (bản) của cái gì đây: gốc là cát hay đống cát? Ai cũng biết cát chỉ thành đống do con người vun lại, và do trái đất hút lấy (thật ra trái đất và cát cùng hút lẫn nhau) khiến cát có trọng lực và đè lên nhau. Nên nếu đưa cát ra khỏi hấp lực (trái đất), thì cũng hết đống luôn. Hấp lực chỉ đặt cát bên nhau, chứ chúng không nên một với nhau từ bên trong. Do đó, gốc của đống là ở các hạt cát: đống không có gốc ở nơi mình.

Chính hạt cát cũng không có gốc ở nơi nó. Cát chỉ thành hạt do nhiều phân tử khoáng dính kết, nén lại với nhau: sức mạnh thống nhất nằm ở ngoài hạt, và mỗi phân tử khoáng độc lập hoàn toàn nơi mình. Vậy xem như chỉ có bản thể và cá thể ở phân tử thôi

Thế nhưng, xin mời bạn hãy nhìn vào bên trong phân tử. Phân tử là do một số nguyên tử họp thành. Họp như thế nào? Họp qua trung gian của những electron, mà cách làm trung gian của electron lại có hai cách; do đó sinh ra  hai loại phân tử: loại giả và loại thực. Trong phân tử giả, các nguyên tử trao chuyển với nhau một số electron, nghĩa là có bên mất electron và bên thêm electron. Do đó thiếu quân bình, sinh phân cực (polar, polarisé) và kém ổn định. Phân tử thật thì ổn định hơn, bởi các nguyên tử trong đó có chung với nhau một số electron. Electron này tác động như một sợi xích nó thắt buộc các nguyên tử lại với nhau. Như thế, phải chăng đây là một xâu tù nhân trong đó chỉ từng tù nhân mới là cá thể và bản thể? Thực ra, chính phân tử mới làm nên các thực thể trong điều kiện vật lý của trái đất chúng ta. Nên chúng không thể không là bản thể một cách nào đó, dầu các thành phần của chúng vẫn độc lập, vẫn còn tư cách cá thể. Vâng, nguyên tử và phân tử là những bản thể chồng chéo nhau. Mỗi cái là bản thể về một mặt nào đó và trong tương quan với một cái gì đó. Như phân tử hữu cơ tinh bột, chúng là bột bánh hay thức ăn đối với loài người chúng ta. Và đấy là trên bình diện trung mô, chứ trên bình diện siêu vi mô hay siêu vĩ mô, thì vấn đề lại khác. Y như người trên trái đất sống một trăm tuổi, trong khi người trên phi thuyền bay nhanh (với tốc độ gần bằng của ánh sáng) có thể chưa đọc xong một bản tin. Vũ trụ này tương đối mà! Mà đã tương đối, thì mỗi cái chỉ là gì đó trong tương đối (hay tương quan) với một cái gì khác.

Và cũng thế nếu từ nguyên tử ta đi xuống những nguyên tố cấu thành. Và đây là hạt nhân với những electron xoay quanh. Electron thì điện âm, nên nhân điện dương hút nó và đặt nó trong quỹ đạo. Thật ra điện dương của nhân là do proton, mà bên cạnh proton thường có cả neutron nữa. Proton là gì và neutron là gì? Gần như chúng chẳng đáng là gì, khi mà ta có thể biến một neutron thành proton hay nguợc lại chỉ bằng cách thêm vào nó hay bớt đi từ nó chỉ một electron. Lại để cho hai thứ hạt trung tính và dương tính ấy dính lại với nhau thành nhân, chúng chỉ việc “chi ra” ít nhiều năng lượng để làm công tác đó. Những sự nối kết từ ngoài và những ràng buộc quả là rất hời hợt. Và đấy là bản thể hay cá thể của nguyên tử, của hạt nhân, của những nguyên tố làm nên hạt nhân!

Xem như thế, cái bản thể hay cá thể trong khoáng chất, cái mà triết học định nghĩa là “vô phân nơi mình và phân với mọi cái khác” chỉ là những cái MỘT rất mờ nhạt, tương đối. Phân tử và những hạt trong đó không hiện hữu nơi mình (in-se) bằng nơi cái khác (in-alio). Hơn thế, cái gốc (bản, sub-strat, substantia) cuối cùng của chúng lại là cái chẳng ra…gì, lấp lửng giữa hạt và sóng, giữa khối (masse) và năng lượng.

Với thứ bản thể như vậy, chúng ta phải hiểu thế nào về những khái niệm như Biến thể (trans-substantiatio) của thần học (kinh viện) đây? Trước đây, khái niệm ấy chỉ gặp khó khăn với triết học, nay lại thêm khó khăn về phía triết-khoa học nữa.3 Nếu bản thể bánh rượu khó xác định, thì sao nó mất chỗ được khi mà gần như nó chẳng là gì cả. Một thần học gia kia đã đề ra một cách giải quyết: Nếu bánh rượu không là bản thể xét về phía chúng (quoad se), thì chúng vẫn là bánh rượu bản thể đối với con người (quoad me, hominem).

Theo tôi nghĩ, vấn đề không phải là từ ngữ, mà nội dung của niềm tin Thánh Thể, cũng là cái mà Giáo hội muốn chỉ qua những từ ngữ nói trên. Nội dung ấy là mầu nhiệm, khiến những giải thích lý tính chỉ tiếp cận thôi, chứ đạt tới thì không thể bao giờ. Tuy tiếp cận, mà vẫn tiến tới mãi, nghĩa là điều được xác định hôm nay, mai ngày có thể được chỉnh lại bằng một lối diễn tả khác, ít là bằng một cách hiểu sâu xa hơn từ những từ ngữ cũ xưa.

Tất cả đã diễn ra như vậy với phép Thánh Thể.

Ngay thời các tông đồ, ai nấy đều hiểu rằng bánh và rượu, đó là chính mình và máu Chúa (1Cor 10:16). Sự thật ấy rồi sẽ được triết lý hóa một tí trong tiếng Praesentia realis, mà lm. Hiến Minh dịch là Thực diện. Thực ra, Prae­sentia realis có nghĩa Praesentia rei, sự có mặt của chính thực thểû, tức Hiện diện hữu tính (présence ontique). Hiện diện thực thể rồi sẽ được giải thích thêm bằng khái niệm Conversio và Transformatio, tức Biến đổi.

Vào thời trung cổ, niềm tin bị chao đảo giũa hai luồng  học thuyết cực đoan: một đằng giải thích thực diện một cách thô thiển, vật chất; đằng kia lại quá thiêng liêng, kiểu như nghĩa bóng vậy. Tiêu biểu về loại này có Bérenger vào thế kỷ XI. Thần học kinh viện (théologie scholastique, thần học nhà trường) với việc khám phá Aristote và Mười phạm trù của ông, đã đưa ra một khái niệm mới: Trans-substantiatio, Biến thể hay chuyển đổi bản thể, để đưa vấn đề sang lãnh vực thuần túy siêu hình, và giải thích tại sao vẫn còn bề ngoài (tùy thể) của bánh rượu, mà bên trong và nền tảng đã là Mình Máu Chúa Yêsu

Tiếng Substantia này, người ta dùng để dịch tiếng Ousia của Aristote theo ý nghĩa thứ nhất: cái chủ thể hay nền tảng (hupokeimenon) nó đón nhận cái Ousia theo ý nghĩa thứ hai là yếu tính, cũng như đón nhận các thuộc thể tùy phụ. Khái niệm Chuyển đổi bản thể, một sáng tạo thời đó để giải quyết nhiều khó khăn và đưa thực diện thoát ra khỏi cách hiểu thuần hình lý (physique); nhưng theo Peter Eicher trong Dictionnaire de Théologie, nó cũng “tạo ra nhiều vấn đề; những vấn đề này phát sinh không từ thực tại tính của mầu nhiệm đức tin, nhưng từ một hệ thống triết học nào đó” (tr. 215a).

Sau thánh Tôma, sự phân ly hình lý với siêu hình lý không được giữ vững nữa, và sự chống đối khái niệm Biến thể của khối Tin lành khiến công đồng Trentô càng kiên giữ khái niệm đó của thánh Tôma. Gần đây, giáo phái Luther đã chính thức xích lại với Công giáo khi họ nhìn nhận rằng, trong lễ Tạ Ơn, Chúa Yêsu quả có mặt “vere et substantialiter” (thật sự và bằng bản thể) bên dưới hình thức bánh và rượu (CA 10; Ap 10). Như thế hẳn đã đủ. Vì hẳn đây là điều mà Kytô-hữu từ muôn xưa vẫn tin, mà huấn quyền có ý nhắm dù trong khái niệm Biến thể.

Ngày nay, khoa vật lý mới cho ta thấy tính mờ nhạt và chồng chéo nhau của các bản thể khoáng chất. Biết đâu vì thế mà Chúa Yêsu đã chọn bánh rượu thay vì sinh vật, nơi mà bản thể tính hay cá thể tính đã rõ và vững rồi. Vả lại, con người vinh phúc của Chúa có còn là bản thể như mọi bản thể tự nhiên khác hay không, hay phải được quan niệm như một siêu bản thể? Theo K. Rahner, những phạm trù của một triết lý chỉ giúp hiểu phần nào các mầu nhiệm của đạo thôi. Và chính công đồng Trentô cũng nhìn nhận: “từ ngữ của chúng ta chỉ diễn đạt được phần nào” về “hiện diện huyền tích của Chúa trong lễ Tạ Ơn” (DS 1636).

Ngoài ra, quá nhấn vào Hiện diện và quá khách quan hóa Hiện diện đó, chúng ta dễ rơi vào một quan niệm tĩnh (static) về lễ Tạ Ơn,4 cũng tĩnh như khi trong cầu nguyện, lắm người thờ kính Thánh Thể ngoài thánh lễ mà không quy hướng về thánh lễ. Thánh lễ ấy là một hành vi về phía chúng ta: tưởng niệm (anamnêsis) và hiệp thông (koinô­nia). Và một hành động về phía Chúa: tự hiến tế mình và tự hiến thân làm thức ăn nuôi dưỡng. Tự hóa bánh thành mình như thế, Ngài đang biến đổi ta trong Ngài, đồng thời biến đổi cả thế giới, về hướng cánh chung. 5

Thêm vào đấy, tiếp theo thần học gia Tin lành F. Leen­hardt, Schoonenberg đưa vô Thực diện một cái nhìn sinh động hơn nữa: Chính tương quan và ý nghĩa làm phát sinh sự Thực diện này. Tương quan và ý nghĩa mà làm nên hiện hữu ư? Thì những khám phá vật lý mới cũng cho thấy như thế đó. Thực tại thiên hình vạn trạng của thế giới mà ta thấy hôm nay chỉ là do hơn trăm nguyên tử giao đan với nhau (bằng những cách giao đan khác nhau) mà làm nên tất cả. Và nền tảng hơn nữa, do sự giao đan của vài chục  hạt cơ bản, nặng hadron và nhẹ lepton. Và điều này, các triết gia cổ đại như trong Sâmïkhya đã thoáng thấy: mọi thực tại vật chất chỉ từ ba phẩm chất (tri-gunïa): âm (ta­mas), dương (sattva), lực (rajas) chúng liên kết trong những tỷ lệ khác nhau mà thành. Hay như trong Kinh Dịch với học thuyết âm dương và tám quẻ .

Vậy theo Schoonenberg, bởi lẽ tương quan quyết định hiện hữu, nên dù bản thể cũng không phải là cái vững mãi nơi mình. Mỗi biến cố hay sự vật đều ngỏ cửa sẵn cho những tương quan định ý (de signification) mới, mà qua đó chúng được biệt định lại, và thế là có Biến thể. Vâng, không phải chỉ có Biến ý (trans-signification) suông trong thánh lễ, mà cùng với Biến ý cũng diễn ra một Biến thể nữa,6 khi mà bữa ăn Chúa mời dự đã nên “dấu hiệu hữu hiệu” của hiệp thông với Chúa và hiệp thông với nhau. Sự trao ban bánh rượu trong một tương quan hoàn toàn mới như thế, đã chuyển sang một ý nghĩa mới cùng với chức năng mới của ký hiệu, nhờ đó diễn ra trong pháp lực Thánh Thần một chuyển biến tận gốc (substantialiter). 7

Quan Niệm Về Thời Gian Và Vĩnh cửu

Không một ý tưởng nào xuất hiện mà không có một ảnh tượng tâm lý nâng đỡ. Và không một cái gì được hình dung mà không cùng với vị trí của nó trong không gian và thời gian. Không gian và thời gian, đó là hai mô thức (form), khuôn thước cần thiết thuộc cảm năng (sensibility). Chúng có tên trong danh sách Mười phạm trù (kategorias) của Aristoteles. Chúng được E. Kant gọi là hai ý niệm (concept) của cảm năng.

Không gian và thời gian được con người hình dung thế nào? Không gian được hình dung như một thứ hộp rỗng, tĩnh, mà thành hộp lùi xa đến vô tận. Trong cái khoảng không rỗng, tĩnh và cố định ấy, mỗi sự vật đến chiếm một vị trí và trương độ (étendue, extension) nhất định. Còn thời gian là đường thẳng một chiều, kéo dài đến vô tận cả về quá khứ lẫn tương lai. Ðể rồi mỗi hiện tượng sẽ ghi dấu của nó ở điểm không bề dày là hiện tại, và xuôi dòng bó buộc về phía sau. Vâng, con đường một chiều ấy là không thể lật ngược đối với đầu óc chúng ta. Nghĩa là không ai quan niệm nổi một thời gian chạy ngược.

Không gian và thời gian kiểu ấy được gọi là Không gian tuyệt đối (absolute, absolu) và Thời gian tuyệt dối. Tuyệt đối, nghĩa là không tùy thuộc (tương đối với) bất cứ gì.

Thế nhưng khoa vật lý lượng tử, hạt cơ bản và thiên văn đã đánh bật cái nhãn Tuyệt đối ấy để thay bằng nhãn Tương đối. Tương đối, nghĩa là Tùy: tùy quan sát viên và tùy vận tốc.

Chúng ta hãy bắt đầu với thời gian. Thời gian ấy được tính lại theo công thức của Einstein.

Như thế, khi vận tốc v của anh và tôi quá nhỏ so với vận tốc c của ánh sáng, thì thời gian t của anh và tôi coi như thời gian chung, bởi lẽ chúng bằng nhau. Chứ nếu tôi di chuyển quá nhanh (trên một phi thuyền siêu tốc chẳng hạn), thì khi trở về tôi chưa đọc xong tờ báo đã thấy anh già đi cả mấy năm. Vâng, thời gian không phải bên ngoài những biến đổi của mỗi thực tại. Nó không có hiện hữu riêng, bên ngoài những biến đổi ấy.

Tuy khám phá được tính tương đối của thời gian, các nhà khoa học vẫn tưởng như thời gian là một thực thể, giống con sông, để người ta ngược dòng bằng cách vượt qua tốc độ ánh sáng. Các phim như Star trek đã “viễn tưởng” điều ấy. Ðạt tốc độ siêu ánh sáng ư? Ðó là điều có thể, trước hết nhờ “Hiệu ứng đường hầm,” theo đó thì khi một nắm hạt cơ bản được phóng xuyên một vật thể, một số (rất ít) hạt thực sự xuyên như qua một đường hầm, và khi ấy vận tốc của chúng vượt ngưỡng (cửa) ánh sáng. Có điều đây là hạt cơ bản, và chỉ một số hạt thôi, chứ không phải con người anh để anh ngược dòng (thời gian). Và cũng thế đối với trường hợp các “lỗ đen,” mà khi đến gần, dù ánh sáng cũng bị hút vô vớt tốc độ siêu ánh sáng (khiến lỗ thành đen vì không có ánh sáng từ đó tới được chúng ta). Vâng, nếu muốn chui qua lỗ đen bằng phi thuyền, thì dù cho phân tử, nguyên tử cũng tan rã, nói chi phi thuyền với những ai đi trên đó.

Giả như mai ngày anh đủ kỹ thuật để vượt an toàn ngưỡng ánh sáng, hỏi dòng thời (gian) có để anh bơi ngược hay không? Bơi ngược, có nghĩa là đang già hóa trẻ, sắp chết thành mới sinh ra. Ừ thế cũng được đi, chứ con mà sinh trước bố, cháu đẻ trước ông bà, thì ôi thôi! Nói gì thì nói, liệu có hợp lý khi hiệu quả đi trước nguyên nhân hay không, nghĩa là cứ ăn trái đi, rồi sau mới trồng cây ăn trái?

Phản chứng minh rõ nhất có thể tìm thấy ở giây phút liền sau tiếng nổ Bigbang, lúc mà sóng và hạt bung ra với tốc độ siêu siêu quang, khiến ánh sáng hôm nay chỉ còn là hóa thạch (fossile), không tăng vận tốc nghĩa là không còn sức. Vâng, với tốc độ siêu siêu quang ấy, sóng và hạt hẳn phải siêu siêu giật lùi, về phía bắt đầu, nghĩa là về phía… không có gì cả, chứ tiếp tục tiến hóa về phía các con người muốn ngược dòng hôm nay sao được. Phản chứng minh tiếp theo là ở chính ánh sáng. Theo đúng công thức Einstein, thì chính ánh sáng, bởi di chuyển bằng tốc độ ánh sáng, sẽ khiến thời gian di chuyển bị triệt tiêu. Thế có nghĩa là ánh sáng không mất một giây nào để đi bất cứ đoạn đường nào, điều ấy mâu thuẫn với hằng số: 300.000 km/giây tốc độ của nó. Và cũng thế khi anh di chuyển với tốc độ ánh sáng, anh sẽ đồng thời có mặt ở cả điểm tới lẫn điểm ra đi, do đó có mặt ở mọi nơi nếu anh muốn. Mà như thế, thì từ trái đất xuất phát, anh vẫn ở nguyên trên trái đất bên cạnh những người thân không đi: anh thì yên đấy, còn người thân lại cứ đổi thay và di chuyển, kết cuộc thì chính họ đi, chứ anh không đi.

Những nghịch lý nêu trên khiến phải nhận ra rằng, nếu vũ trụ vĩ mô của Einstein đẩy các công thức vật lý cũ xuống thành trường hợp đặc biệt cho mấy công thức của ông, 8 thì công thức của ông vốn dựa vào những định đề, như tốc độ ánh sáng là tuyệt đối và giới hạn, cũng không còn đứng vững khi tốc độ đạt tới ngưỡng (seuil) hay vượt ngưỡng đó, để trở thành trường hợp đặc biệt của những công thức bao quát hơn.

Việc tìm hiểu và phân tích thời gian tương đối của Einstein rất hữu ích để giúp ta thoát ra khỏi cái quan niệm thâm căn cố đế về thời gian. Thật ra, thì thời gian dù tương đối cũng chẳng có, khi mà chẳng có thời gian như một thực thể riêng biệt, thậm chí như một bản thể. Cái có thực chỉ là từng con người và từng sự vật cùng với những biến đổi liên tục của chúng. Biến đổi, đó là có gì đó đang mất đi, và có gì đó đang hiển định. Nghĩa là chỉ có Ðang được kêu là Hiện tại, Không còn bị xếp vô ngăn quá khứ, Chưa có đặt vô nhóm Tương lai. Với quá khứ tồn tại đây bằng hậu quả và kỷ niệm, với tương lai đã có đây trong ý định, sắp đặt hay nguyên nhân. Tất cả chỉ có thế, nghĩa là có nền tảng cho ý niệm thời gian ở thực tại, chứ chính thời gian thì không, không cho thời gian tuyệt đối của vật lý cũ, không cho cả thời gian tương đối của Einstein. Còn ý niệm tiên nghiệm (a priori, transcendantal) Thời gian của Kant? Không có ý niệm hay khuôn khổ sẵn có của cảm năng tự nhiên đâu, chắc thế. Nghĩa là do bản tính xác-thần quy nhất, mà con người có sẵn trong cảm năng một khả năng, để với kinh nghiệm ngàn vạn đời tích góp, nó hình thành cho mình một ý niệm, ý niệm về một thời gian tuyệt đối như ta có hôm nay. Và như thế, Thời gian là vấn đề thuộc văn hóa hơn bản tính.

Nắm được Thời gian như thế rồi, ta sẽ hiểu dễ hơn  Vĩnh cửu. Vĩnh cửu không phải Thời gian, cũng chẳng  Không-thời gian, bởi lẽ với định nghĩa như thế, ta đã dựa vào thời gian để hiểu và đo lường Vĩnh cửu. Ngay những từ Vĩnh và Cửu cũng nói lên điều ấy. Nếu thời gian chẳng qua là Biến đổi, thì Vĩnh cửu thực ra chỉ là bên trên những biến đổi, thế thôi. Bên trên nbững biến đổi cũng không thể hiểu là Tĩnh hay một Hiện tại kéo dài được. Vâng, tích cực đó là gì, thì sao ta hiểu nổi, huống nữa hình dung.

Nằm giữa vĩnh cửu và thời gian, còn ý niệm Huyền nhiệm (mystique). Là huyền nhiệm, cái vừa ở trong thời gian vừa vượt trên thời gian. Như Thập giá vừa là biến cố lịch sử, vừa không chấm hết với quá khứ, để thành hiện tại trong thời gian bất cứ đâu và lúc nào có người “làm cái này mà tưởng nhớ Thầy” thích hợp. Nhờ khoa học mà thoát ra khỏi thời gian ở chỗ nó là thực thể và thực thể chung, ta dễ hiểu hơn cái đang có đó cũng là cái đã có rồi.

Quan Niệm Về Không Gian Với Toàn Tại

Cũng như thời gian, không gian Euclide và Newton là tuyệt đối, một ý niệm trừu tượng nhưng với nền tảng nào đó ở thực tại. Không gian Einstein trái lại, là không gian hình cầu và đóng kín, không phải ba chiều nhưng bốn, và đó là liên khối không-thời gian (space-time continuum). Do đó không có đường thẳng thật, và mọi chiều kích đều biến đổi với vận tốc, chứ chẳng gì cố định và xác định cả.

Như thế, cũng như thời gian, không gian không phải là một thực thể riêng. Nó là một với trương độ và vị trí của mỗi vật, mà cả hai đều tương đối hết. Và nếu thời gian nói lên đổi thay, thì không gian lại làm nên bởi nhiều đơn vị; do đó cả hai đều diễn tả cái mặt phức đa và số lượng của vật chất, ít là vật chất dưới bộ mặt phức đa và số lượng của nó. Cho nên, dưới bộ mặt đơn nhất của nó nếu có như K. Rahner nghĩ, thì không gian và thời gian cũng tiêu luôn. Ðây hẳn là trường hợp của Trời mới đất mới. Và ở đây không còn thay đổi, cũng chẳng có bên dưới bên trên tuy rằng người ta vẫn nói lên Trời và xuống Ðịa ngục. Thật thế, ngay cả một số trí giả vô tín cũng rêu rao: Hỏa tiễn lên trời rồi, mà Thiên chúa chẳng thấy đâu. Thật ra, Trời của tôi đâu phải một không gian, Trời của tôi là Thiên Chúa Ba Ngôi đó.

Còn tính Toàn tại của Thiên Chúa? Thiên Chúa toàn tại không phải Ngài ở khắp mọi nơi, cũng như Thiên Chúa hằng cửu không hề thuộc mọi thời. Ngài có mặt với mỗi cái và tất cả từ điểm quy nhất của thế giới. Ngài có mặt như nguồn và đích của mọi hiện hữu, như Chúa của mọi thụ tạo. Với tạo thế, Ngài cho tất cả “hiện hữu và sống động trong (Ngài),” nhưng vẫn ngoài nội tâm của Ngài. Nội tâm ấy, với mầu nhiệm Ba Ngôi, chỉ những con người được tái tạo siêu nhiên mới được gọi vô để chia sẻ.

Chú thích

(1) Ecrits theologiques 3 tt.113-121.

(2) Ibidem, tr.121.

(3) Phải chăng vì những khó khăn đó mà Vatican II đã tránh tiếng Biến thể?

(4) Sacramentum Mundi II, tr.260a: “… the bodily person of Jesus is present in the supper, not however in a static manner of being a thing…” (Johanned Betz).

(5) Xem thêm Dict. de théologie, tt.216a, 214a, 213a.

(6) Rõ ràng Schonenberg không cùng phe với những người chủ trương chỉ có Biến ý hay Biến dịch, nghĩa là chỉ có Hiện diện theo nghĩa bóng thôi.

(7) Xem thêm Dict. de théologie, tt.216b

(8) Như thời gian của chúng ta trên mặt đất, với di chuyển tương đối chậm, thì ta nào cũng bằng t, t thành thời gian chung cho tất cả, thời gian này là trường hợp đặc biệt (khi v quá nhỏ sơ với c) của t tính theo công thức Einstein.

Một bình luận

  1. Thưa cha! Đọc bài của cha,con xin có vài điều chia sẻ sau:
    Cha và con đồng đạo, con thích trao đổi các chuyện trong đạo vì thấy còn nhiều vấn đề phải bàn; con muốn trao đổi từ việc dễ có tính phổ quát,dứt điểm được nó rồi; tiếp lên cái khó hơn,lớn hơn…giống như bước được cầu thang thấp nhất rồi, ta mới bước lên cái thứ hai….lên được..cái trên cùng càng hay; vậy con xin trao đổi với cha vài việc sau:
    Cha ạ,chỉ so với loài người cách nay ..1000 năm thôi! Thì loài người chúng ta con thấy như mới được..lột xác..đó cha ạ! nếu cả thế giới phải cúp hết toàn bộ điện lực các dạng lớn,nhỏ..toàn bộ máy nổ to nhỏ..chỉ đúng có một tháng thôi!con nghĩ:sẽ xảy ra đại họa ảnh hưởng nhiều mặt cho thế giới!chẳng hạn, sau 1 tháng chắc phải đến hằng trăm triệu..xác chết gồm người,gia súc gia cầm,các thú nuôi khác…Trong khi điện và máy nổ mới chỉ được phát minh quá muộn màng mới đây so với tuổi của loài người!đó mới chỉ là hai thứ góp phần giải phóng loài người thoát ra khỏi bóng tối nhiều ngàn năm sống trong nghèo khổ,lạc hậu.Vì cốt chỉ để cho đồng loại sống ấm no hơn,hạnh phúc hơn,văn minh hơn…nên khoa học( của chính con người) phải gồng sức tìm tòi và chỉ mới manh nha khai thác tài nguyên độ một thế kỷ nay thế mà đã bị..cạn kiệt, gây sự cố này nọ..( là điều tất yếu) đã xảy ra như cha đã nêu! Theo cha thì..lòi..sự toàn năng con người ở đâu? Còn con lại thấy lòi một trái đất là mục đích nhắm bởi nhân loại lại quá nhỏ nhoi! quá khiếm khuyết đủ điều.. như diện tích lục địa đã ít lại bị sa mạc nhiều, hai cực rộng lớn chẳng ở được, ruột lại nóng bỏng sinh ra núi lửa,động đất,sóng thần.. như hình với bóng với loài người!Con cứ ước chi trái đất to gấp..triệu triệu lần!ở thể địa tâm chẳng những với thái dương hệ mà đối với vũ trụ nữa! rõ phải hay hơn chịu cảnh nhật tâm; ngôi nhà chung của loài người mãi đời đời là số phận một con..ong mén phải cùng bay với một đàn hàng ..tỉ con ong lớn nhỏ khác,các loài thú có cánh khác… quả là phận lép tí xíu,cô đơn không có bà con láng giềng! ngờ đâu, ngôi nhà nhân loại đã từng chỉ là một miếng đá nhỏ bị văng bể từ một tinh cầu to gấp… tỉ lần!. Nhiều ngàn năm cho đến nay, con người luôn tranh chấp nhau từng tấc đất để ở mà mãi phải luôn gây chém giết nhau,hận thù nhau!
    Cho nên lãnh vực nhân sinh quan,vũ trụ quan cũng vậy; khoa học(cũng chính là con người) chưa thể trả lời khóa chốt ngay được trong thế kỷ này! mà phải có thời gian? Chúa còn cho nhân loại sống..nhiều.. triệu năm nữa mà cha!
    Mới chỉ một năm! con virus Covid-19 nó chỉ nhỏ bằng 1/1000 đường kính sợi tóc! Học về nó mới biết nó hết sức kì diệu! kì diệu gấp cả tỉ lần so với viên kim cương vì kim cương vô tri vô giác không có sự sống nội thân như con Virus này,khoa học cho biết: gom toàn bộ con Virus Covid-19 toàn thế giới thì nhốt vừa vào một lon Côcacôla 330ml!thế mà chúng đã và đang gieo rắc nhiều khốn đốn khổ đau mọi mặt cho dân Việt nam nói riêng và toàn thể nhân loại! mới chỉ .. một năm; chỉ riêng về mặt nhân mạng,nó đã giết chết trên 2,5 triệu người! Ôi!ghê gớm quá! Vì do tiến hóa,chứ có lẽ..tổ tiên của chúng cũng có một lượt với người cũng nên!Vậy ai sinh ra chủng Vỉrus đại khốn nạn này? 1/ Chúa, 2/ Qủi và 3/ Tự nhiên?Con nghĩ,cả Giáo hội và mỗi tín hữu ..hẳn có lắm trả lời trái chiều!rồi nào là không trả lời! không thừa nhận.. v…v…
    Loài Virus là dạng ẩn hình chứ qua dạng có hình mắt trần thấy được như loài sán xơ mít trong cơ thể người có khi dài đến 12 mét.., nếu không uống thuốc, nó có thể sống trên dưới 25 năm!Nếu không phải tiến hóa thì phải công nhận lớp khởi thủy của chúng là phải đút vô miệng thủy tổ loài người!vì chúng đâu sống được dưới đất! và cũng gặp vấn nạn nếu đặt câu hỏi như trên? chứ nếu hỏi..con gà ai sinh ra…thì..khỏi phải hỏi! phải thế không cha!
    Máy tính do bộ óc của hằng trăm nhà khoa học chung sức làm nên;cho nên một người phải thua nó là tất nhiên phải không cha!
    Cha nói đúng việc không nên hiểu Kinh thánh theo nghĩa đen thái quá,giáo lý cũng dạy vậy, Vì thế cách nay độ 4 tháng,có 2 cha bổn dòng trả lời cho con về Tai họa 10 rằng:- Không có chuyện Đức Chúa trong một đêm giết chết hết con đầu lòng của cả nước Ai cập đâu! Mà cốt để nói lên tính dũng mạnh,oai phong của Chúa mà thôi! Nếu theo cắt nghĩa vậy,chẳng lẽ Đức Chúa đã có các hành xử,lời phán.. sau đây cũng là để tỏ dũng mạnh,oai phong nơi Ngài sao?
    -Chỉ vì giơ tay đỡ hòm bia của Chúa kẻo đổ,Đức Chúa liền giết chết lập tức ông Út da.( 1Sb 13,4-11)
    – Chúa sai bầy sư tử đến giết nhiều người của phía vua Át-sua.(2V,24-25)
    -Đức Chúa giết 70 người Bết-se-mét vì họ đã nhìn vào Hòm bia Đức Chúa.( 1Sm6,18-19)
    -Đức Chúa phán với các Tư tế:-Ta sẽ ném phân lên mặt các ngươi chính phân của các ngươi trong ngày các ngươi hành lễ.(Ml 2,1-4)
    -Đức Chúa phán:-Ta là một vị thần hay ghen tương.(Xh20,5).
    -Đức Chúa phán:-Ta là Đấng hay trừng phạt.(Ed7,9)
    ( theo con:- tất cả những gì đã có trong Kinh thánh do Gíao hội in đều đáng được kể ra khi cần thiết,không gì phải kị, phải sợ hãi, phải bưng bít cả!..tai họa 10 còn “ ác,dữ” hơn nhiều đó sao!) Còn nhiều hành xử và lời phán của Đức Chúa tương tự vậy có trong Cựu ước. Còn Tân ước,con đan cử vài bài cũng chẳng lẽ Chúa Giêsu cốt hành động để tỏ oai phong của Ngài sao?
    -Cây vả bị Chúa Giêsu phạt vì Chúa đói bụng mà vả lại trong thời kỳ trái mùa nên không có trái, phải héo tức khắc trước mặt các môn đệ (Mt21,18-20)
    -..Hãy dẫn chúng lại đây!và giết chúng trước mặt Tôi!(Lc19,24-27)
    -Chúa Giêsu đánh,đuổi,lật bàn,xô ghế…của những kẻ buôn thúng bán mẹt…(Mt21,12); …
    Kinh thánh cho thấy nhiều ngàn năm thời Cựu ước,Đức Chúa không hề phán chính mình có Ba Ngôi! là một mặc khải hết sức quan trọng hơn cả việc ban bố 10 điều răn! Đằng này lại phán rõ ràng những điều tầm thường kể trên? Nghĩa là sao?
    Cũng việc không nên tin theo nghĩa đen việc E-và hái trái..ngon ngọt rồi cho A-đam cùng ăn.. .Nên Giáo hội dạy việc quan trọng là phải tin tổ tiên đã nghe lời dụ dỗ của( ma)Qủi mà không vâng lời Đức Chúa.
    Con nghĩ: Tổ tiên sơ khởi chỉ là lũ đàn con thơ dại trước mặt Chúa! Nên dẫu có tự ý phạm tội thì Chúa phải tha ngay,không chấp không phạt. Rõ ràng tổ tiên loài người là nạn nhân của Qủi! do Qủi gian ác dụ dỗ thì làm sao tổ tiên không vướng vào bẫy của chúng! Tội lỗi nhập vào thế gian là tội của Qủi phải gánh! Loài người chỉ là lũ con đáng thương! Còn những thứ tội lỗi luôn theo con người như hình với bóng như ăn cắp, ngoại tình, giết nhau…đó là qui luật chung của động vật :-loài người thượng đẳng thì gây nhiều loại tội, tội nặng,còn loài vật hạ đẳng gây”tội” ít hơn,nhẹ hơn! nhưng cũng giết nhau đấy chứ !
    Và, việc quan trọng là cần phải xét thể này:
    Linh hồn loài người dữ,Chúa phạt nhốt đời đời vào Hỏa ngục,không ban quyền lực nào;không cho trở về trái đất để quấy rối ai nữa!Lũ Qủi cũng vậy, lũ chúng là lớp tù chung thân mẻ đầu trong Hỏa ngục.Thì làm gì có việc Đức Chúa tiếp tục ban cho chúng quyền lực ( mà lại để tiếp tục chống lại Chúa nữa: cho chúng triền miên đến trái đất tận hôm nay để kéo loài người về phe chúng,tức làm hại Chúa trước rồi đến hại loài người sau! thậm chí chúng chủ động cám dỗ chính Đức Chúa là cha đẻ của nó :- cám dỗ Chúa Giêsu trong rừng vắng những 40 ngày; kéo Chúa Giêsu lên trên nóc đền thờ Giêrusalem; kéo Chúa lên đỉnh núi để thách đố, hù dọa…mà cha Hoành Sơn có nói trong quyển Tín Lí Tinh Yếu-1996 thì những vụ việc này rõ không phải nghĩa bóng mà đến nay Giaos hội vẫn chưa tìm được lời giải đáp?sự thực có đâu mà kể với nói được!Qủi mà hành hạ Chúa chẳng khác chi ông chủ thợ nặn đồ gốm nọ lại xuất chiêu cho phép cái chén,cái bát..bay lên đập vào đầu mình túi bụi? Theo con: cả cựu và tân ước còn có lắm chyện sai!không thể có chuyện Thiên Chúa lại bị( tức là cho) Qủi cám dỗ chính mình! chúng ta phải dốc cao suy tư nghĩ thật kỹ! đừng bảo rằng:-vì Chúa Giêsu..làm người nên vẫn phải bị Qủi cám dỗ, quỉ nhập…! xác Ngài là người; nhưng trong”ruột” là Đức Chúa Trời!lớp cổ dân Do thái..làm như thể Qủi ngang bằng;thậm chí đã cao tay hơn Đức Chúa vậy!Qủi là cái thá gì? Là “phạm nhân”tù chung thân kia mà!chúng ta phải tỉnh thức lại;phải không cha!Gía như nói thánh Mahômet bị Qủi cám dỗ thì còn nghe được,vì ông không là Thiên Chúa. Xét Qủi là thủ phạm ở vụ nguyên tổ, thì Ngôi Hai cũng chẳng phải xuống thế chuộc tội thay thế loài người về sau này vậy !
    Giáo lý Hội thánh và nhiều sách vở đạo,nhiều cha, giáo lý viên..dạy rằng:- Thiên Đàng Là Chốn Hạnh Phúc Tối Thượng Vĩnh Cửu luôn có Chúa hiện diện cùng với các Thiên thần,các Thánh-thánh thiện..nơi để chầu kính Thiên Chúa.Vâng! Nước Thiên đàng là phải như vậy; đâu phải như nước ở trần gian có chuyện quân,quan làm phản,kéo bè gây phái..chống lẫn nhau,chống lại nhà vua!
    Vậy mà khi cắt nghĩa nguyên nhân có Qủi thì lại bảo do lúc xa xưa… bỗng có một tên Thiên thần Luxiphe cao trọng, kiêu ngạo tự cho mình bằng Chúa, rồi lôi kéo thêm nhiều Thiên thần khác đánh nhau với phe Thiên thần Gabiel cầm quân, sau khi phe Luxiphe thua, liền bị Đức Chúa phạt giam ở Hỏa ngục, lũ chúng là một cơ binh( không đếm được) khi chúng trả lời với Chúa Giêsu trước khi cho chúng nhập vào 2000 con heo của một trang trại;thành ra Thiên thần bị mất một nửa ! phe nào cũng hô là một cơ binh!
    Cha có thấy tréo cẳng ngỗng không? Chuyện sai cả thể sao Giaos hội cứ để vậy? Không thể có chuyện Thiên Thần Thánh Thiện làm loạn trên Thiên quốc! ai thấy? Chúa bất lực “đứng mà xem” à? Có cha bổn dòng còn giảng:- Thiên thần phải sau khi lập công thì mới được thấy Chúa,chứ trước đó thì không; rồi cơ binh Thiên thần chỉ bị mất 1/3 mà thôi! Dựa vào đâu ra con số 1/3? Nước Thiên đàng mà vậy thì còn gì là Thiên đàng thánh thiện nữa! và đúng như cha Hoành Sơn nói trong quyển Tín Lí Tinh Yếu rằng:-Thời tiền cổ thạch khí,cổ dân nhiều vùng đã có quan niệm về Qủi thần,đoạn3,trang55./ nên con hiểu về sau dân gian dần dà hình thành truyền thuyết thần thoại để lí giải do đâu mà có Qủi; do đâu mà..Adam-Eva vấp tội trong Cựu ước của đạo Do thái để rồi đến thời Kitô giáo cũng dựa y nguyên đó mà rập khuôn thôi.
    Thưa cha!sai là phải sửa,phải bỏ!muốn một cây đẹp là phải cắt bỏ các cành thừa,cành sâu,cành khô!Giaos hội trước đây đã mạnh dạn bỏ những cái sai; chẳng hạn sai lớn như quan niệm về Địa tâm! Tín hữu chúng ta đang sống ở thế kỷ 21; còn những quan niệm,chuyện thần thoại trên đã có cách nay những..chục ngàn năm rồi! rõ sai đó,sao chúng ta cứ ôm,cứ nâng niu cơ chứ? Chưa giáo hội nước nào xét ;thì Giaos hội Việt nam chúng ta xét,duyệt,đề nghị; Đúng! sớm muộn gì thì Giaos triều Vatican cũng thấy đúng mà tán thành theo thôi!
    Cha bảo: Chúa không từng ngày sáng tạo hằng ngàn cái Linh hồn mới toanh để đút vô cho từng ấu thai trên khắp thế giới! Là sao? Chẳng lẽ cứ hễ có con trùng người nam nhập vô cái noãn người nữ là có.. mầm.. linh hồn cùng chui vô một lượt?hay đã..sẵn có..từ..trước phảng phất đâu đó..mà kịp dính liền với ấu thai đó? Chúa cứ..để mặc kệ..như không biết?.Chuyện này cha bảo đã do Chúa nhắm đích trước! vậy nhắm trước từ thuở nào? Mỗi năm trên thế giới khoa học cho thụ thai trong ống nghiệm cả..ngàn ống để có ..ngàn người với nhiều lí do tốt có,xấu có..cũng do Chúa đã nhắm đích trước? rồi khi họ chỉ muốn có một thai nào ngờ thụ một lần lại sinh thành 2..3..thai..( sự cố khoa học)..lại cũng do Chúa đã nhắm đích?nhắm thì chỉ nhắm một linh hồn, mà..jừ hậu quả thể này thì liệu sao đây? Chúa..đã nhắm đích trước cho quái thai người không đủ người..? thai dị tật chỉ một đầu,hai thân..?Chúa nhắm đích trước ở trường hợp con trùng của người cha ruột nhập vô noãn con gái ruột( đã từng có nhiều) để có thai cộng với.. linh hồn khốn nạn?…Chẳng lẽ linh hồn chỉ là một “ tế bào mầm”do (vật chất 1+1)>>”tế bào mầm” kiểu như tế bào mầm sau này thành trái tim của thai nhi?
    Cha có nghĩ Linh Hồn… Chúa khi nhập vô dạ cô Mari liền nẩy mọc một ấu thai để núp vô? Vì không có trùng nam nên chẳng cần cái noãn nữa mà! Nên việc thành thai Chúa lại ngược hẳn so với sự hình thành ấu thai ở loài người!
    Thiên đàng, Ngục tổ tông,Luyện ngục,Hỏa ngục không thiết lập trên bề mặt trái đất.Con người khi chết,xác ở vỏ trái đất; vì 4 chốn kia không ở vỏ trái đất nên linh hồn bắt buộc phải rời xa vỏ trái đất để đi đến một trong bốn nơi đó;không cần biết là đi “lên” hay đi”xuống”( truyền thống hồn lìa khỏi xác)…Còn theo cha thì hồn vẫn.. lơ lững gần gần sát sát..với xác dù xác đã hư nát?( không có chuyện hồn lìa khỏi xác) .Chúa Giêsu tắt thở,linh hồn liền..đi vô ngục Tổ tông; rồi..đến Thiên đàng; rồi lại trở lại vỏ trái đất; rồi đến Thiên đàng đó mà cha! Bốn chốn linh thiêng kể trên,theo con phải có giới hạn riêng,chứ nếu không có giới hạn thì chúng sẽ trồng( chồng) lên nhau là cái chắc!
    Theo cha thì Đức Chúa Trời có linh hồn không thưa cha nhỉ?
    Con hiểu cha nói về Vĩnh cửu; chính sự hiện hữu Đức Chúa Trời là vĩnh cửu theo nghĩa này vậy. Cha nghĩ sao khi con nhận định:-Đức Chúa Trời đã “ở nhưng” hoặc “ngủ một giấc” vĩnh cửu! khi con lấy một điểm làm khởi đầu Chúa tạo ra Thiên thần để so với một đầu là Alpha với đầu kia là Ômêga.
    Cha bảo:-Chúa không ở khắp mọi nơi; không hề thuộc mọi thời đại? Lúc..5..tuổi con học –bổn lẽ cần…dạy:-chẳng nơi nào mà chẳng có Đức Chúa Trời. Nay cha nói ngược lại, mà đúng! bởi chẳng lẽ…Chúa cũng bị ..giam..đời đời trong Hỏa ngục sao? Vì ở khắp mọi nơi mà cha nhỉ! Còn ..không hề cho mọi thời đại? cũng đúng!vì con thấy thời xa xưa Đức Chúa Trời …xuống trái đất như cơm bữa nào là..đi đi lại lại, nói chuyện,tỏ giận dữ,nói lời phạt, hiện ra trên mây mà phán xuống bằng tiếng Do thái, gõ mạnh cửa kêu ra tiếng cốc cốc…với nhiều thành phần tổ tiên…với ông Đavid,cậu Sammuel……..Còn từ lâu rồi, cả thế giới luôn chỉ thấy..bầu trời không trung bao la chỉ với ..mây,sấm, sét..! Lẽ nào Đức Chúa tự nghĩ:-..trước,chúng nó ngu,Tao phải hiện ra! Nay chúng nó khôn ngoan thì khỏi hiện xuống!
    Theo cha Hoành Sơn viết:- Từ chỗ dân Ichdiên thờ đa thần, đến thời ông Apraham chỉ giữ lại một thần Quyền năng El tức Đức Chúa thì khi đến đất Canaan họ vẫn gọi Đức Chúa của họ là Thần quyền năng EL và dân địa phương ở đây cũng gọi như vậy. (Nhiều người lầm mà cho rằng: chỉ ở chân núi Sinai thì dân Do thái mới “đẻ” ra thần quyền năng El lấy con Bò vàng làm biểu tượng để thờ). Nghiên cứu trên đây của Hoành Sơn cũng trùng hợp với tài liệu của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương, thuộc Hội Khoa Học ĐôngNam Á V.N(C.R.P.A.O.A),cho chúng ta biết thêm về lịch sử thần Quyền năng El sau này thành Yêhôva,Yavê như sau:
    Ngày đăng: 13/07/2010 00:00:00

    Mặc dầu đạo thờ bò El đã phát sinh ở Babylon từ rất lâu đời, nhưng nó được chính thức du nhập vào dân tộc Do thái từ thời Abraham khoảng năm 2000 TCN. Điều đáng chú ý là Abraham và dân tộc Do thái coi El là vị thần duy nhất để tôn thờ, trong khi các dân tộc chung quanh tôn thờ thần El cùng với các vị thần khác như Baal, Anath, Ashtaroh, Ashera v.v… Chính vì yếu tố khác biệt quan trọng này mà Abraham đã được coi là ông tổ của các đạo độc thần (monotheistic religions). Do thái được coi là dân tộc được Chúa chọn vì nước này là quốc gia đầu tiên mang tên thần bò El (Isra-El)..

    Để dẫn chứng một cách đầy đủ và khách quan về đạo thờ bò El và các diễn tiến biến thể (transformation) của nó, chúng tôi xin nêu lên những tài liệu chứng minh rút ra từ những bộ Tự điển Bách khoa hoặc những sách do các trường Đại học có uy tín bậc nhất thế giới xuất bản sau đây:

    1. The Oxford Illustrated History of the Bible, edited by John Rogerson, Oxford Uuniversity press, xuất bản năm 2001, trang 7:

    Trong tài liệu cổ sử Ai cập, được viết dưới triều đại Pharaoh Merneptah (1222-1214 TCN) có nói đến nước Do thái dưới quốc hiệu ISRAEL. Sử liệu này giải thích ISRA là cai trị (to rule), El là thần bó El. Do đó, ISRAEL có nghĩa là một quốc gia được cai trị bởi thần bò El.

    2. Theological Dictionary of the Bible (Tự điển Thần học về Thánh Kinh), edited by Walter A. Edwell, Baker Book xuất bản, trang 289-299:

    Người Do thái thờ thần bò El từ lâu đời, cho nên El có nghĩa là “Thiên Chúa của Do thái” (El is God of Israel) hoặc “Thiên Chúa của Abraham”. Ngôn ngữ Hebrew gọi Thiên Chúa El bằng nhiều danh từ: El, Eloah, Elim, Elohim. Vì họ tin Thiên Chúa El thường hay xuất hiện ở các núi đá (Rock mountains) tiếng Hebrew là Shaddai, nên họ cũng gọi Thiên Chúa El là El-Shaddai. Các danh từ để gọi Thiên Chúa El nói trên đã được nhắc đi nhắc lại tới 2.250 lần trong các bộ sách Kinh Thánh của đạo Do thái. Riêng trong các bài Thánh Vịnh (Psalms) của David, tên của Thiên Chúa El đã được nhắc tới 238 lần! [Ghi chú: David sau Maisen 300 năm.]

    3. The Illustrated Guide to the Bible, by J. R. Porter, Oxford University Press 1995, trang 45:

    Trước khi đặt tên nước là Do thái là Israel, Jacob (cháu nội của Abraham) đã đến thị trấn Luz của xứ Canaan. Tại đây, Jacob nằm mơ được thiên thần cho một cái thang. Jacob đã leo thang lên tới thiên đàng và được gặp Thiên Chúa El mặt đối mặt. Khi tỉnh dậy, Jacob đã đổi tên thị trấn Luz thành Beth-El, có nghĩa là “Nhà của Chúa” (House of El). Câu chuyện về giấc mơ của Jacob được kể lại trong Cựu ước (Genesis 28:12).

    Do thái không phải là nước duy nhất thờ thần El. Hầu hết các giống dân quanh vùng Canaan đều thờ thần El và rất nhiều thần khác. Tuy nhiên họ quan niệm đồng nhất với nhau ở chỗ tất cả đều coi thần El là vị thần cao nhất (The Highest God) và là cha của các thần (father of all gods). Abraham và dân tộc Do thái thời đó chưa có quan niệm Thiên Chúa là Duy nhất (Unity God) như quan niệm củ đạo Do thái sau này mà chỉ có quan niệm đơn giản: Thiên Chúa là vị thần mạnh nhất mà thôi.

    Nơi trang 65, tác giả cho biết người Do thái đã thờ thần El dưới hình tượng của một con bò vàng (the golden calf) khởi đầu từ thời Abrahm, Jacob cho đổi đời Mai-sen. Chính anh ruột của Mai-sen là Aaron đã điều động dân chúng gom góp nữ trang, nấu chảy đúc thành một con bò vàng để tôn thờ vào khỏang năm 1250 TCN (Exodus 32-33).

    Aaron và tuyệt đại đa số dân Do thái thời đó đều tin tưởng thần bò El chính là đấng Thiên Chúa đã cứu dân Do thái thoát vòng nô lệ của Ai cập. Sách Cựu ước Exodus (32:4) thuật lại lời tuyên bố của Araon trước bàn thờ tuợng bò vàng như sau: “Hỡi dân Israel, đây là Thiên Chúa của các người, đây chính là đấng đã đưa các người ra khỏi đất Ai cập”.

    Trong lịch sử đạo Do thái, Mai-sen (Moses) là cái mộc chia đạo Do thái thành hai thời kỳ:

    – Thời kỳ đầu từ Abraham (2000 TCN) đến Mai-sen (1250 TCN) kéo dài 750, đạo Do thái được gọi là Đạo Cũ, hoặc đạo Do thái trước-Mai-sen (The pre-mosaic Judaism). Trong thời kỳ này, người Do thái gọi Thiên Chúa là El, Eloha hoặc Elohim và tôn thờ Ngài qua hình tượng con bò vàng.

    – Từ thời Mai-sen (1250 TCN) đến nay, đạo Do thái được gọi là Đạo Mới hoặc đạo Do thái Mai-sen (Mosaic Judaism). Sự đổi mới quan trọng nhất của Mai-sen là công bố “Mười Điều Răn”, trong đó chủ yếu nhắm vào hai điểm: cấm thờ ảnh tượng bò vàng và cấm gọi tên Thiên Chúa là El, Eloa hoặc Elohim. Mai-sen bắt dân chúng phải gọi Thiên Chúa là Jehovah, có nghĩa là “Thiên Chúa của các tổ phụ” (God of fathers: Abraham, Isaac, Jacob). Mặc dầu Mai-sen rất tàn bạo và đã giết nhiều người bất tuân lệnh của y trong việc cải cách tôn giáo này, nhưng ngay trong sách Cựu ước cũng cho thấy tới 3 thế kỷ sau khi Mai-sen chết dân Do thái vẫn tiếp tục thờ Thiên Chúa El với tượng bò vàng:

    – Các bài Thánh vịnh của David vẫn gọi Thiên Chúa là Elohim.

    – Các vua David, Solomon (thế kỷ 10 TCN) vẫn dùng tượng con bò làm biểu tượng cho Thiên Chúa Jehovah (1 King 12:28 = Bull represents Jehovah).

    – Vua Jeroboam I (thế kỷ 9 TCN) là cháu nội của David lấp nhiều đền thờ Thiên Chúa El với tượng bò vàng từ thành phố Bethel đến thành phố Dan.

    4. The New Encyclopedia Britannica (15 edition, Volume 4, trang 411)

    Bộ Tự điển Bách khoa Britannica đã nối tiếng khắp thế giới từ lâu đời. Tự điển này đã dịch danh từ El như sau: “El là Thiên Chúa của giống dân Semetic (tức các chủng tộc Ả rập – Do thái) còn gọi là Con Bò Thần El, được coi là cha của các vị thần khác, ngoại trừ thần Baal. Các tác giả viết Kinh thánh Cựu ước đã dùng danh từ El vừa để gọi chung các thần thánh vừa như một danh từ đồng nghĩa với Jehovah”.

    Điều khẳng định trên cho ta thấy Thiên Chúa Jehovah (Yahweh) mà Jesus gọi là “Cha ta ở trên trời” chính là Con Bò El (El the Bull = sysnonym for Jehovah!). Các sách Kinh thánh Tân ước xưng tụng Jesus là “con một của Đức Chúa Trời” (the only son of God) thực chất là con một của Thần Bò El.

    5. New Larousse Encyclopedia of Mythology (Tân Tự điển Bách khoa Larousse và Huyền thoại, nguyên bản tiếng Pháp, bản dịch Anh ngữ do Premethus Press xuất bản, in lần thứ tư 1971, các trang 74-80):

    Theo các bản văn viết bằng chữ cuneiform của xứ Babylon thuộc niên đại 1400 TCN trên những tấm đất sét phơi khô (hiện lưu trữ tại Bảo tàng viện Louvre ở Paris) thì thần El được tôn thờ bởi các sắc dân Canaanites và Semites. El cũng được coi là vua của các dòng sông (king of rivers) là thần mặt trời (the Sun God) và cũng là Thiên Chúa Tối cao (the Supreme God).

    Các giống dân Canaanites và Semites thờ thần El dưới tượng của một con bò đực. Đối với họ, con bò đực là biểu tượng của sức mạnh . Cũng vì vậy, mỗi khi nói đến thần El họ thường gọi Ngài là Bò Thần El (Bull-El).

    6. The Encyclopedia of Middle Eastern Mythology and Religion (Bách khoa Tự điển về Huyền thoại và Tôn giáo vùng Trung Đông, của Jan Knappert, element 1993). Tác giả là một người Ả rập rất rành về các ngôn ngữ Ả rập, trong đó có ngôn ngữ Sumerian là ngôn ngữ chính của xứ Babylon vào thời cổ xưa cách đây nhiều ngàn năm.

    Theo sự nghiên cứu của tác giả, tên của xứ Babylon cũng do tên của thần El mà ra. El là danh từ theo tiếng Hebrew. Người Ả rập gọi El là Il. Khi đổi ra số nhiều Il thành Ilun. Người xứ Babylon rất tự hào về đất nước của họ và họ tự coi đất nước của họ là “cái cổng của Thiên Chúa”. Theo ngôn ngữ Sumerian thì “Bab” là cổng và “Ilun” là Thiên Chúa. Ghép hai chữ này lại sẽ thành “Babilun”, về sau người ta đọc trại đi thành Babylon. Như vậy, chữ Babylon có nghĩa là “cái cổng của nhà Chúa” (Gate of God).

    Tại các thành phố thuộc xứ Babylon người ta thường làm lễ tế thần El với những lời ca tụng ngài là “Thiên Chúa hiện thân thành Con Bò” (The Bull-God). Theo niềm tin của người Babylon, thần El là vị chủ tọa các hội đồng thần thánh ở trên trời, là đấng tạo hóa đã sinh ra vũ trụ vạn vật và là đấng đã tạo dựng nên con người.

    7. Near Eastern Mythology (Huyền thọai vùng Cận Đông, tác giả John Bray, nxb Peter Bedrick Book NY 1985, các trang 68-69):

    El là vị thần chính yếu được tôn thờ tại vùng Lưỡng Hà Châu. Theo các huyền thoại của vùng Canaan (giữa sông Jordan và Địa Trung Hải) thì thần El là một con bò đực (Bull) có sức mạnh vô song và sức sáng tạo vô bờ bến. Vì vậy, thần El là “đấng Tạo hóa của mọi vật thụ tạo” (Creator of all created things).

    Như trên đã trình bày là Mai-sen ra lệnh cấm thờ thần El vào năm 1250 TCN nhưng đến thế kỷ 10 và 9 TCN, các vua và dân Do thái vẫn tiếp tục thờ thần El với hình tượng bò vàng (1 King 12:28).

    Trong cuốn sách này, tác giả cung cấp cho chúng ta thêm một chi tiết là đến thế kỷ 6 TCN, tức 700 năm sau khi Mai-sen ra lệnh cấm gọi tên thần El, vị tiên tri rất nổi tiếng của Do thái là Ezekiel đã cầu nguyện Thiên Chúa bằng tên El. Lời cầu nguyện như sau:

    “Lời của Ngài, ôi Thiên Chúa El, là khôn ngoan. Ngài là đấng khôn ngoan muôn đời”

    (Thy word, oh El, is wise Thou art eternally wise, Ezekiel 28:2-10)

    Những điều ghi chép rành rành trong các sách Genesis, Exodus, Kings và Ezekiel (trong bộ Thánh kinh Cựu ước) đã chứng tỏ rằng: Dù trước Mai-sen (từ 2000-1250 TCN) hay sau Mai-sen (từ 1250 TCN đến Ezekiel thuộc thế kỷ 6 TCN) đạo Do thái vẫn giữ nguyên bản chất của đạo thờ bò El với hình tượng bò vàng.

    8. New Catholic Encyclopedia (Tân Tự điển Bách khoa Công giáo la mã). Đây là bộ tự điển bách khoa vĩ đại gồm 17 tập, ấn bản mới nhất in năm 1981. Thần bò El được trình bày rõ ràng nơi trang 136 của tập 5 như sau:

    “El là danh hiệu lâu đời nhất để gọi Thiên Chúa. Sách Sáng Thế ký (sách đầu tiên trong bộ Kinh thánh Cựu ước) 28:10-22, 33:20, 49:25 đã đồng nhất hóa El với Elohin và Yaweh (Jehovah). Ý nghĩa chữ El (theo tiếng Hebrew) cũng đồng nghĩa với chữ Ilu theo ngôn ngữ cổ ở Babylon là Akkadian. Tất cả đều do căn ngữ Semistic “Yl”, có nghĩa là “hùng mạnh”. Trong các đền thờ của người Phoenicians, thần El được tôn thờ như Thiên Chúa Tối cao, Đấng sinh ra các vị thần và là Chúa của thiên đàng” (xem tập 5, trang 136)

    9. A Muslim Primer, tác giả Ira Jeff là một học giả Ả rập Hồi giáo, sách này do Thư viện Quốc hội Mỹ xuất bản, in lần thứ hai năm 1992.

    Theo tác giả, cả ba tôn giáo Do thái, Ki tô và Hồi đều có chung một ông tổ là Abraham và đều có chung nguồn gốc về tên gọi Thiên Chúa (sách đã dẫn, trang 31-32).

    Tác giả đã dùng Từ Nguyên học (Etymology) và Ngôn ngữ học (Linguistics) để chứng minh rằng: Dù cho tên gọi Thiên Chúa của các đạo độc thần bề ngoài khác nhau: Elohim, Jehovah, Allah nhưng tất cả đều bắt nguồn từ thần EL mà ra.

    Các âm I trong tiếng Ả rập biến thành âm E trong tiếng Hebrew (Do thái).

    Thí dụ: Ismail = Ismael (Hebrew, con của Abraham); Gabril = Gabriel (thiên thần truyền tin); Mikail = Michael (tổng lãnh thiên thần); Il = El (Bò thần).

    Trong ngôn ngữ Arabic, người ta không gọi Thiên Chúa IL (tức El) một cách trống không mà thường thêm mạo tự ‘ah’ ở sau danh từ Il. Do đó, tên của Thiên Chúa Il trở thành Illah (Il + article ‘ah’).

    Về ngôn ngữ học, các âm I trong tiếng Arabic khi chuyển sang tiếng Anh hoặc Pháp đều đổi thành A. Thí dụ tên của ông tổ các đạo độc thần trong ngôn ngữ Arabic là Ibrahim, khi chuyển sang tiếng Anh hay Pháp đã trở thành Abraham. Do những biến chuyển của ngôn ngữ, thần bò Il của babylon đã thành Thiên Chúa Elohim và Jehovah của đạo Do thái, tức Chúa Cha của đạo Ki tô. Cũng do biến chuyển của ngôn ngữ, thần bò Il thành Illah trong tiếng Arabic và Allah trong ngôn ngữ Tây phương.

    Tác giả viết: “Tên gọi Thiên Chúa là Allah có căn ngữ theo từ-nguyên-học bắt nguồn từ Babylon. Chính cái căn ngữ này đã nối kết cả ba tôn giáo Do thái, Ki tô và Hồi. Căn cứ Il của Babylon đã trở thành El / Elohim trong tiếng Hebrew. Những người Ki tô giáo đầu tiên đã gọi Jesus là Emmanu-El có nghĩa là “Thiên Chúa El ở cùng chúng ta”. El trong tiếng Arabic luôn đi theo với mạo tự “ah” trở thành Il-ah và cuối cùng khi chuyển sang Anh ngữ đã trở thành ALLAH!”. (sách đã dẫn, trang 32)

    10. Islam của tiến sĩ Ceasar Farrah, giáo sư môn Hồi giáo học tại Đại học Minnesota. Tác phẩm được tái bản lần thứ 6 trong năm 2000. Tác giả là người Ả rập Hồi giáo. Điều đặc biệt tác giả nhấn mạnh trong tác phẩm của ông là bác bỏ quan niệm sai lầm cho rằng Hồi giáo Ả rập đã vay mượn ý niệm về Thiên Chúa của Do thái giáo và Ki tô giáo (Islam, trang 28).

    Tác giả chứng minh ngược lại là chính Do thái giáo và Ki tô giáo đã vay mượn ý niệm về Thiên Chúa do sự biến thể của “Allah” là El (Il) Thiên Chúa của đa thần giáo Ả rập. Tác giả viết: “Il-ah hoặc Allah là Thiên Chúa tối cao của bán đảo Ả rập Đa thần giáo. Đối với những người Babylon thì Ngài là Il và sau đó Ngài được biết đến bởi người Do thái với tên của Ngài là El. Những người ở miền Nam bán đảo Ả rập tôn thờ Ngài dưới danh hiệu Illah và người Bedouins lại gọi ngài là Allah. Quan niệm Thiên Chúa của Do thái giáo và Ki tô giáo đã phát sinh từ sự biến dạng của Allah (Il / El) tức Thiên Chúa của tất cả các đạo Độc thần. (Islam, trang 28)

    Phạm thanh Hoàn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.