GIÁO XỨ NINH CÙ
GIÁO PHẬN THÁI BÌNH—GIÁO PHẬN
LONG XUYÊN
Trước khi đề
cập tới giáo xứ Ninh Cù, thiết tưởng cũng
nên có cái nhìn tổng quan về một vài niên biểu mốc
của một số giáo phận miền Bắc liên quan
đến giáo phận Thái Bình.
Ngày 9.09.1659 với
đoản sắc Super Cathedram, Đức Giáo Hoàng Alexander
VII (1655-1667) thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận
tông tòa Đàng Ngoài và Đàng Trong.
Năm 1679 Đức
Giáo Hoàng Innocens XI (1676-1689) chia giáo phận tông tòa Đàng
Ngoài làm hai: Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng Ngoài lấy sông
Lô, sông Hồng (và sông Đáy) làm ranh giới.
Ngày 27.03.1846 Đức
Giáo Hoàng Gregorius XVI chia giáo phận Tây thành Tây và
Ngày 15.04.1895 Đức
Giáo Hoàng Leo XIII đã phân chia giáo phận Tây thành Tây và
Đoài (Hưng Hóa).
Ngày 2.04.1901 Đức
Giáo Hoàng Leo XIII chia giáo phận Tây thành Tây và Thanh.
Ngày 3.12.1924 khi các giáo
phận được đổi tên theo địa bàn hành
chính, thì giáo phận tây là giáo phận Hà Nội, và giáo phận
Thanh là giáo phận Phát Diệm.[1]
Ngày 5.09.1848 Đức
Giáo Hoàng Pius IX (1848-1878) chia giáo phận Đông thành Đông
và Trung; sở dĩ gọi là Trung vì nó năm giữa giáo phận
Đông và Tây.[2]
Ngày 29.05.1883 Đức
Giáo Hoàng Leo XIII (1878-1889) ban chiếu thư lập giáo phận
Bắc gồm một phần của giáo phận Đông;
giáo phận Đông năm 1890 dời tòa giám mục ra Hải
Phòng..
Ngày 3.12.1924 Tòa Thánh
đổi tên giáo phận Đông theo địa hạt hành
chánh, nơi đặt tòa giám mục, gọi là giáo phận
Hải Phòng; giáo phận Trung thành giáo phận Bùi Chu; giáo phận
Bắc được gọi là Bắc Ninh.
Ngày 9.03.1936 Đức
Giáo Hoàng Pius XI ban sắc chỉ Praecipuas inter Apostolicas tách
hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên để thành lập giáo phận
Thái Bình từ giáo phận Bùi Chu.[3]
Ngày 24.11.1960 Tòa Thánh lập
hàng giáo phẩm Việt
Vào năm 1936 giáo phận
Thái Bình gồm 1 giám mục, 25 linh mục Tây Ban Nha, 57 linh mục
Việt Nam, 333 thầy giảng, 10 nữ tu dòng Saint Paul de
Chartres, 12 sư huynh Lasalle, 280 dì phước ĐaMinh,
140.000 giáo dân. Giáo phận gồm có 50 giáo xứ và 522 giáo họ.[5]
Theo Niên Giám 2005, giáo xứ
Ninh Cù thuộc hạt Thái Thụy của giáo phận Thái
Bình, có 717 tín hữu, tọa lạc tại xã Thụy Thanh,
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;[6]
tuy nhiên, nhà thờ Ninh Cù chính xác tọa lạc tại thôn Hệ
(Ninh Cù), xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái
Bình.[7]
Nhà Thờ Ninh Cù tại Thụy
Ninh, Thái Thụy, Thái Bình. Hình chụp ngày 12.12.1993
Theo tài liệu viết
tay trong Sổ Hôn Phối của giáo xứ Kẻ Hệ và
sau đó là giáo xứ Ninh Cù, thì giáo xứ Kẻ Hệ
được đổi tên là giáo xứ Ninh Cù vào khoảng
09.01.1936 và 24.02.1936. Vào thời điểm này Kẻ Hệ,
và sau đó là Ninh Cù, vẫn thuộc giáo phận Bùi Chu, vì
giáo phận Thái Bình chỉ được thành lập từ
ngày 9.03.1936.
Có lẽ chính trong tinh thần
đổi tên giáo phận theo tên hành chánh dân sự của
Giáo Hội mà giáo xứ Kẻ Hệ được đổi
tên thành giáo xứ Ninh Cù. Tên các giáo phận đã được
đổi vào 3.12.1924. Tên giáo xứ Kẻ Hệ được
đổi thành Ninh Cù vào tháng giêng hoặc tháng hai năm
1936.
Ngày 9 Januarii 1936
Tôi là thầy cả Docus Chấn
đang coi xứ Kẻ Kệ đã làm phép cưới tại
nhà thờ Hệ …………..
Ngày 24-2-1936
Tôi là thầy cả Docus Chấn
đang coi xứ Ninh Cù đã làm phép Hôn Phối tại
………………..
Chứng từ chứng Hôn
Phối, có con dấu của linh mục với chữ
“KẺ HỆ XỨ- LINH MỤC- VICARIAT CENTRAL.” Vicariat
Central là địa phận Trung, sau được đổi
tên là giáo phận Bùi Chu. Chứng từ này được
viết ngày 29 tháng 10 năm 1933.
Tôi là thầy cả Docus
Toãn đang coi sóc xứ Kẻ Hệ vâng … Đức Thầy
… địa phận Trung trong nước Annam này mà sắm
sách này có 300 tờ cho được biên các kẻ nhận
phép Matrimo trong xứ này bắt đầu biên tự ngày mồng
1 tháng Jannuarii năm 1907 mà đi cứ mẫu Đức
Cha đã truyền mà biên như sau này. Ngày 1 Jannuarii 1907
Kẻ Hệ[8]
đã được nhắc tới trong tiểu sử
thánh Matthêu Alonso Liciniana Đậu (1702-1745), linh mục dòng
Đa Minh. Theo tài liệu này, cha thánh đã từng coi xứ
Trung Lao, Tiên Chu, Kẻ Hệ
và Lai Ổn.[9] Ở thời điểm
này Kẻ Hệ thuộc giáo phận Đông Đàng Ngoài. Từ
ngày 05.09.1848 thì Kẻ Hệ thuộc giáo phận Trung, từ
ngày 3.12.1924 thì thuộc giáo phận Bùi Chu vì giáo phận Trung
được đổi tên thành giáo phận Bùi Chu, và từ
ngày 09.03.1936 thì Kẻ Hệ thuộc giáo phận Thái Bình.
Nhà Thờ Ninh Cù tại Thái
Bình, hình chụp ngày 12.12.1993
Trước khi Ninh Cù
là tên của một giáo xứ, thì Ninh Cù đã là một
địa danh hành chánh dân sự của tỉnh Thái Bình.
Ninh Cù là tên của một
con sông: sông Ninh Cù là hữu ngạn của sông Hóa. Trong trang
web http://www.vietshare.com/quehuong/thaibinh/dialy.asp được đọc thấy
vào ngày 12.10.2005:
Sông Luộc là ranh giới
giữa tỉnh Thái Bình với các tỉnh Hưng Yên và Hải
Dương, chảy ven tỉnh trên một đoạn
đường dài 50 km (31.3 miles); và có các sông nhánh: sông Tiền
Hưng (có vài sông nhánh nhỏ là Trinh Xuyên, Cổ Quan, Văn
Giáng, Nguyên Xá, Do Kỵ, Cổ Khúc và lạch Bình Cách), sông
Đan Hội, sông Quỳnh Côi, sông Diêm Hộ, sông Hóa (có một
sông nhánh phía hữu ngạn là sông
Ninh Cù).
Ninh Cù là tên của một
xã, và cũng là tên của một tổng. Theo trang web của
tỉnh Thái Bình (http://www.thaibinh.gov.vn)
được đọc ngày 12.10.2005, mục “Thái Bình thời
Pháp thuộc”:
Ngày 21-3-1890 Toàn quyền
Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh
Thái Bình, gồm phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương
(tách từ tỉnh Nam Định) và huyện Thần Khê
(tách từ tỉnh Hưng Yên và sáp nhập vào phủ Thái
Bình). Tỉnh lỵ đặt tại phủ Kiến
Xương, bên sông Trà Lý. Ngày 28 – 11- 1894, Toàn quyền
Đông Dương ra nghị định cắt hai huyện
Hưng Nhân và Duyên Hà thuộc phủ Tiên Hưng, tỉnh
Hưng Yên sáp nhập vào tỉnh Thái Bình; lấy sông Luộc
làm ranh giới giữa hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.
Theo Nomencilature đes
communes du Tonkin (Danh mục các làng xã Bắc Kỳ của
Ngô Vi Liễn), năm 1927 tỉnh Thái Bình gồm có 3 phủ
(Kiến Xương, Thái Ninh, Tiên Hưng), 9 huyện (Duyên
Hà, Đông Quan, Hưng Nhân, Phụ Dực, Quỳnh Côi,
Thư Trì, Thụy Anh, Tiền Hải, Vũ Tiên) với 94
tổng (817 xã).
Thái Bình là tỉnh từ năm
1890. Cũng chiếu theo nghị định này, Ninh Cù một
tổng trong huyện Thụy Anh:
Theo Nomencilature đes
communes du Tonkin (Danh mục các làng xã Bắc Kỳ của
Ngô Vi Liễn), năm 1927 tỉnh Thái Bình gồm có 3 phủ
(Kiến Xương, Thái Ninh, Tiên Hưng), 9 huyện (Duyên
Hà, Đông Quan, Hưng Nhân, Phụ Dực, Quỳnh Côi,
Thư Trì, Thụy Anh, Tiền Hải, Vũ Tiên) với 94
tổng (817 xã)......
HUYỆN THỤY
ANH gồm 9 tổng, 69 xã:
+ Tổng An Bái (8 xã): An Bái, Kha Lý, Quỳnh Lý, Thọ
Cách, Trình Trại, Tu Trình, Vân Am, Vân Tràng.
+ Tổng An Định (7 xã): An Định, An Lệnh, Hạ Tập,
Ô trình, Thượng An, Trà Bôi, Trà Hồi.
+ Tổng Bích Du (10 xã): Bằng Lương, Bích Đoài,
Bích Du, Các Động, Hà My, Sơn Cao, Sơn Thọ, Thuỳ
Dương, Tử Các, Vọng hải.
+ Tổng Cao
Dương (6 xã): An Cúc, Cao
Dương, Cao Trai, Hòa Đồng, Thu Cúc, Xá Thị.
+ Tổng Hoành
Sơn (12 xã): Cam Đoài, Cam
Động, Di Phúc, Dương Thanh, Đông Tỉnh, Hạc
Ngang, Hoành Quan, Hoành Sơn, Hoành Thượng, Lai Chiểu, Thuyền
Đỗ, Trung Quan.
+ Tổng Hổ
Đội (8 xã): Bao Hàm, Diêm
Điền, Hoa Ngạc, Hổ Đội, Mai Diêm, Nghĩa
Chỉ, Ngoại Trình, Quang Lang.
+ Tổng Ninh Cù (4 xã): Bùi Đình, Cao
Cương, Ninh Cù, Vân Cù.
+ Tổng Quảng
Nạp (7 xã): An Cố, Diêm Tỉnh,
Đông Dương, Lưu Đồn, Quảng Nạp,
Phương Man, Vạn Đồn.
+ Tổng Vạn
Xuân (7 xã): Bình Lãng, Chỉ Bồ,
Lỗ Trường, Phấn Vũ, Tam Tri, Tri Chỉ, Vạn
Xuân.
Tìm trên google từ ngữ Ninh
Cù với tùy chọn tìm chính xác từ, và rồi liên kết
với những trang bản đồ, ngày 12.10.2005 đã
đọc được:
nơi trang http://new.mapplanet.com/mp/mp/places/VM/35/6793178:
Ninh Cù thuộc tỉnh Thái Bình nước Việt
Nơi http://www.fallingrain.com/world/VM/a/N/i/:
Ninh Cù ở 20.6 vĩ bắc và 106.466 kinh đông, cao hơn
mặt nước biển 9 feet, dân số ước
lượng khoảng 143829 người. Có lẽ phải
hiểu đây là một tổng thời Pháp thuộc thì dân
số mới đông được như vậy.
Vào năm 1954 cha cố
ĐaMinh Đỗ Vạn Toàn đã dẫn tất cả
giáo dân giáo xứ vào
Nhờ hai người này mà có
được 33 người vào năm 1993, thuộc cư
dân giáo xứ Ninh Cù giáo phận Thái Bình. Những giáo dân
ưu tú này vẫn ở bên cạnh nhà thờ để
trông nom và bảo vệ thánh đường. Chính nhờ họ
mà nhà thờ Ninh Cù vẫn tồn tại ở giáo phận
Thái Bình.
Năm 1957 cha cố ĐaMinh
Đỗ Vạn Toàn và phần lớn giáo dân xứ Ninh Cù
đã chọn Cái Sắn là nơi định cư. Vào thời
điểm này Cái Sắn thuộc giáo phận Cần
Thơ vì giáo phận Long Xuyên chưa có. Vào ngày 24.11.1960 Đức
Giáo Hoàng Gioan XXIII ban sắc chỉ Christi Mandata thành lập
giáo phận Long Xuyên, và hiên nay giáo xứ Ninh Cù thuộc giáo
phận Long Xuyên. Theo đơn vị hành chánh dân sự,
giáo xứ Ninh Cù của giáo phận Long Xuyên nằm tại ấp
Đông Hòa, xã Thạnh Đông B1, huyện Tân Hiệp, tỉnh
Kiên Giang.
Nhà Thờ Ninh Cù tại
Đông Hòa, Tân Hiệp, Kiên Giang. Hình chụp khoảng ngày
27.12.2003
Theo một tác giả có bài
đăng trên trang web, thì Kẻ Hệ cũng có người
tử đạo và hiện trong danh sách hiền phúc (servus
Dei):
Theo hồ sơ xin phong
Chân Phúc của cha chính An (P. Fr. Marco Gispert O.P.), thì Hiền
Phúc Đaminh Nhu người giáo
xứ Kẻ Hệ, nay là xứ
Ninh Cù, giáo phận Thái Bình bị bắt vì đạo lúc
đã hơn 40 tuổi. Ông là một chức dịch trong
làng, tính ông cương trực, táo bạo, từng dám cãi lý
với quan trên. Quan này muốn ông bước qua Thánh Giá
nhưng ông không chịu. Lúc ấy quan cho lôi ông qua tượng
Thánh giá, ông lớn tiếng phản kháng hành vi đó,
nhưng cũng được tha cho về với điều
kiện ông phải mua cho quan một đôi gà mái. Hiền
Phúc Nhu trở về nhà, nhưng đau đớn não nề
vì bị kéo qua Thánh Giá, ông hồ nghi không biết có phạm
tội bước qua tượng không. Hôm sau Hiền Phúc
Nhu mua một đôi gà đem lên cho quan. Tuy nhận gà,
nhưng quan lại bắt ông bước qua Thánh Giá mới
cho về. Ông không chịu, nên quan cho giải ông lên
Hiện tại xứ Ninh Cù tại
Đông Hòa, Thạnh Đông B1, Tân Hiệp, Kiên Giang còn giữ
được sổ Hôn Phối của giáo xứ Kẻ Hệ
(và sau đó là Ninh Cù) và nhờ đó tôi mới biết xứ
Kẻ Hệ được gọi là Ninh Cù từ tháng
2.1936.[11]
Dựa vào quyển sách này, nếu muốn, người ta
có thể biết có bao nhiêu linh mục đã coi sóc họ
đạo Ninh Cù.
Để giới thiệu
đầy đủ hơn về giáo xứ, thiết
tưởng cũng cần cho người đọc biết
những cha đã trông coi giáo xứ Ninh Cù của cả Bắc
lẫn Nam; cũng cần có thông tin về Hội Đồng
Giáo Xứ của từng thời điểm, cũng
như những người dâng mình cho Chúa, và cả những
biến cố đặc biệt của giáo xứ. Điều
này hiện tại tôi không thể làm được, nếu
ai thuộc con dân giáo xứ Ninh Cù làm được thì thật
quý biết bao.
Ước gì những hàng trên
giúp những con dân xứ Ninh Cù hiểu hơn về giáo xứ
của mình, để yêu mến Thiên Chúa- Đấng đã
và đang làm bao điều kỳ diệu cho con dân giáo xứ
Ninh Cù- Kẻ Hệ.
Hiển Linh, Thủ Đức
ngày 24.10.2005
Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.
[1] VĂN
PHÒNG TỔNG THƯ KÝ HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT
[2] Niên Giám 2005, trg 551.
[3] Niên Giám 2005, trang 594
[4] Niên Giám 2005, trang 531-532
[5] Niên Giám 2005, trang 594.
[6] Niên Giám 2005, trang 596.
[7] Ngày 24.10.2005 tôi đã gọi điện thoại cho cha Aug. Vũ Văn Hương đang ở nhà thờ Thượng Phúc, và Ngài đang phụ trách giáo xứ Ninh Cù để hỏi địa chỉ chính xác của giáo xứ Ninh Cù. Ngài cho biết giáo xứ Ninh Cù ở Thụy Ninh, Thái Thụy, Thái Bình chứ không ở Thụy Thanh, Thái Thụy, Thái Bình.
[8]
Thôn Hệ có cả người lương lẫn người
giáo. Đầu thôn có một ngôi đền khá lớn cho
người lương, còn người giáo thì có nhà thờ
Ninh Cù khá lớn ở cuối thôn.
[9] Tìm chữ Kẻ Hệ nơi google.com với tùy chọn chính xác từ, nối kết tìm được vào ngày 12.10.2005 trang http://www.thoidiemmaria.net/THANHTHE/Tu%20Dao%20Viet%20Nam/22-1.htm với nội dung trên.
[10] Tìm trong google chữ “Kẻ Hệ” với thuộc tính tìm chính xác từ. Bài này được trang web bbqt post lên.: http://www.bbqt.com/forum/index.php?showtopic=996 và đã được đọc ngày 12.10.2005.
[11] Hôm thứ sáu 21.10.2005 tôi có dịp chụp lại quyển sổ này, và các bạn cũng đã xem vài tấm hình ở những trang trên. Sau khi chụp xong, tôi cũng đã lưu tất cả trong máy vi tính của cha Nguyễn Văn Hiến, chánh xứ xứ Ninh Cù.