BÁNH THIÊN SỨ, NAY PHÀM NHÂN HƯỞNG THỤ
Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.
Chúng ta cùng đọc Lời Chúa: 12 Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giê-su: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? "13 Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: "Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó.14 Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: "Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?15 Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta."16 Hai môn đệ ra đi. Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua (Mc 14,12-16). Cả ba thánh sử của Tin Mừng nhất lãm đều nhắc tới việc Chúa Giê-su truyền các môn đệ chuẩn bị bữa tiệc Vượt Qua (x.Mc 14,12-16; Mt 26,17-19 và Lc 22,7-13). Thánh sử Mác-cô mở đầu bài Tin Mừng hôm nay với bối cảnh thời gian: “Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua”. Chúng ta cùng tìm hiểu hai bối cảnh thời gian này qua giải thích của cha Vũ Phan Long: “Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua. Theo truyền thống Kinh Thánh, lễ Vượt Qua (Pesach) được cử hành vào chiều ngày 14 Nisan (“Nisan” là tháng thứ nhất của năm) và chính ngày lễ là 15 Nisan, còn lễ Bánh Không Men (lễ Matzoth), kéo dài thành bảy ngày, lại bắt đầu vào đúng ngày 15 Nisan. Vì hai đại lễ này quá gần nhau, chẳng mấy chốc lễ Bánh Không Men đã được gọi là lễ Vượt Qua, và kéo dài trong bảy ngày và bắt đầu với đêm lễ Vượt Qua, và phụng vụ cũng gọi đêm lễ Vượt Qua ấy là “lễ Bánh Không Men”. Chiên và bánh không men là lương thực biểu tượng của lễ mùa xuân. Cả hai thứ này nói lên sự tái sinh và đời sống mới. Mác-cô kể tiếp rằng: “Các môn đệ thưa với Đức Giê-su: Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”. Chúa Giê-su trả lời như thế nào? “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó”. Các môn đệ ra đi và sẽ gặp một người, mà danh tính của người này không được thánh sử chú ý tới. Ngoài ra, dấu hiệu để các môn đệ gặp người này không có gì đặc biệt, mà mang dấu hiệu đời thường. Đó là một người mang vò nước thì ta có thể gặp bất cứ lúc nào trong Giêrusalem. Dù chẳng có gì đặc biệt, nhưng dấu hiệu này chỉ cho chúng ta thấy rằng, hành trình đưa Đức Giêsu đến cuộc Thương Khó được tiên liệu đến từng chi tiết. Khi các môn đệ gặp người đó, các ông sẽ nói lời của Chúa nhắn gởi: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?15 Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta”. Như thế, Chúa đã chuẩn bị sắp xếp mọi thứ cho bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ. Một sự chu đáo của Đấng yêu thương. Chúa nói tới căn phòng rộng rãi ở trên lầu, nơi bàn tiệc cần được các môn đệ dọn ra. Để hiểu được nơi chốn này, chúng ta đọc lời giải thích của Barclay: “Các căn nhà lớn của dân Do Thái có những phòng cao, các căn nhà ấy như có một chiếc hộp nhỏ xếp chồng trên một chiếc hộp lớn vậy. Chiếc hộp nhỏ hơn đó là phòng cao, có cầu thang ở bên ngoài để đi lên, nên người ta không cần phải đi qua phòng lớn bên trong nhà. Phòng cao có nhiều công dụng. Nó có thể dùng làm phòng kho, hoặc dùng làm nơi suy gẫm, làm chỗ nghỉ khi nhà có khách. Nhưng đặc biệt nhất đó là nơi để một Rabbi dạy dỗ các môn đệ thân tín. Chúa Giêsu đã làm theo thói quen các Rabi Do Thái vẫn thường làm”. Ngoài ra, về chi tiết lớn nhỏ của căn phòng ăn tiệc, cha Vũ Phan Long giải thích như sau: “Khi cử hành lễ Vượt Qua, ít ra có khoảng mười người họp lại với nhau, nên sách Mishna quy định là phải có một không gian 10x10 “khuỷu tay” (tức khoảng 23m2). Khi ăn tiệc, người ta nằm dài để diễn tả là dân chúng đã ra khỏi kiếp nô lệ Ai Cập và đã được tự do; ngay cả người nghèo nhất cũng ăn tiệc Vượt Qua trong tư thế này”. Vâng lời Chúa dạy, hai môn đệ trong số các ông đã lên đường vào thành. Hai ông thấy mọi sự y như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua. Chúng ta thấy tinh thần vâng lời của môn đệ tương hợp với tinh thần vâng lời của Chúa Giê-su thi hành ý muốn của Cha trên trời. Qua đó hai môn đệ trở nên người thân của Chúa Giê-su trong gia đình. Thánh sử Mác-cô diễn lời của Chúa: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3,34-35). Ngoài ra, ở đây có một sự khác biệt giữa Mác-cô và Mát-thêu. Trong khi Mác-cô chỉ nhắc đến hai môn đệ vâng lời Chúa thi hành việc này, thì Mát-thêu lại nhắc đến tất cả các môn đệ đều vâng lời Chúa và thực hiện việc chuẩn bị lễ Vượt Qua: "Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy: Thầy nhắn: thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy" (Mt 26,18). Sau khi các môn đệ đã chuẩn bị lễ vượt qua như Chúa Giê-su truyền xong, Mác-cô đưa ra một bối cảnh mới. Đó là tại bàn tiệc. Chuyện gì xảy ra? Đức Giê-su báo Giu-đa sẽ phản bội Ngài: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy”. Bàn tiệc đang được mừng vui, thì một tin không ai chờ đợi lại đến trong căn phòng. Tin này lại hướng về chính Chúa, Đấng bị nộp, và hướng về một người trong nhóm mười hai, kẻ sẽ phản bội và nộp Chúa. Cả căn phòng choáng ngợp một sự nặng nề của sự buồn rầu thảm não. Thánh sử Mác-cô diễn tả rằng: “Các môn đệ đâm ra buồn rầu”. Sự buồn rầu của một điều không thể tưởng tượng mà lại có thể xảy ra. Sự buồn rầu của chính nội bộ có kẻ bội phản mà chưa “ló dạng”. Vì thế, các ông lần lượt hỏi Người: “chẳng lẽ con sao- mêti egô eimi?”. Hầu hết các ông không biết tới hành động trong tương lai của mình. Các ông hỏi Chúa với một niềm hy vọng là Chúa sẽ trả lời: “không phải anh đâu”. Nếu đọc câu truyện đến đây, hôm nay chúng ta cũng được mời gọi suy nghĩ về chính chúng ta. Chúng ta có thuộc về nhóm người có kẻ phản bội Chúa không? Chúng ta sẽ hỏi Chúa như các môn đệ Chúa hỏi ngày xưa? Có lẽ như các môn đệ ngày xưa, chúng ta bất an và chẳng biết ai trong nhóm là người phản bội Chúa. Trước bầu khí nặng nề đó, Chúa Giê-su đã lên tiếng tiếp và mở ra một dấu hiệu, để kẻ phản bội “ló dạng”: “Chính là một trong Nhóm Mười Hai đây, mà là người chấm chung một đĩa với Thầy. Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!”. Sự bội phản và bán đứng Chúa trở thành câu truyện xấu thuộc về bóng đêm được truyền từ thế thệ này sang thế hệ khác. Biết bao bình luận, biết bao cảnh tỉnh từ biến cố đó. Một hiền sĩ đã nói về sự kiện Giu-đa bán chúa: “Bởi lẽ Giuđa rao bán Chúa, chúng ta hãy mua bằng giá trái tim mình”. Đến đây, Mác-cô tiếp tục đưa người đọc chiêm ngắm khung cảnh tiếp theo. Đó là việc Chúa Giê-su lập bí tích Thánh Thể. 22 Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy."23 Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này.24 Người bảo các ông: "Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.25 Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa." 26 Hát thánh vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Ô-liu (Mc 14,22-26). Phần này kể về việc Chúa Giê-su lập bí tích Thánh Thể. Biến cố trọng đại này, cũng được thánh Mát-thêu, thánh Luca cùng thánh Phao-lô nhắc đến (x. Mt 26,26-29; Lc 22,19 -20; 1Co 11,23 -25). Khung cảnh của câu chuyện là: “đang bữa ăn” và bữa ăn này nằm trong bầu khí của lễ Vượt Qua. Như thế, khung cảnh tiệc Vượt Qua với chiên bị giết có ý hướng về chính Chúa Giêsu – con chiên hiền lành bị giết và hiến tế. Trước khi suy niệm bài Tin Mừng, chúng ta đọc lời suy tư của Vũ Văn An: “Các lời tiên đoán phản bội và sai phạm trên tạo nên cái khung nhức nhối quanh thời khắc chủ chốt của bữa ăn Vượt Qua. Sử dụng các biểu tượng sống động, không thể nào xóa nhòa, Chúa Giêsu cho các môn đệ hay ý nghĩa cái chết của Người. Bánh bẻ ra là thân xác Người được trao ban cho họ; chén đổ ra là máu của Người, “máu giao ước” cung hiến ơn tha thứ và tình yêu không bao giờ cạn dành cho tất cả. Trọn thừa tác vụ của Chúa Giêsu, mọi lời của sự thật giải thoát, mọi đụng chạm chữa lành, mọi đối kháng bất công, đều được tinh chế ở đây trong bánh và chén rượu, trong thân xác và máu huyết Chúa Giêsu trao ban trọn vẹn cho thế giới”. Đi vào đoạn văn, chúng ta thấy trong phần đầu về bánh là một chuỗi hành động của Chúa: - Cầm lấy bánh. - Dâng lời chúc tụng. - Bẻ ra. - Trao cho các môn đệ. - Nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy”. Phần thứ hai về chén, cũng có một chuỗi hành động tương tự: - Cầm chén rượu. - Dâng lời tạ ơn. - Trao cho các môn đệ. - Bảo các môn đệ: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa”. Trong cả hai phần đều có lời chúc tụng hay lời tạ ơn. Điều đó diễn tả tâm tình cầu nguyện của Chúa Giê-su. Cả hai đều do Chúa Giê-su thực hiện. Ngài chính là trung tâm của bữa tiệc. Ngài là chủ bữa tiệc và Ngài chủ động việc bẻ bánh và trao ban (người chủ nhà thường làm trong lễ Vượt Qua). Cũng vậy, là chủ bữa tiệc Chúa Giê-su chủ động rót đầy chén rượu, dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và trao cho các người hiện diện trong bàn tiệc. Như thế, hai việc “bẻ và trao bánh” cùng “rót rượu và trao rượu” diễn tả tinh thần hy tế của Chúa Giê-su. Ngài làm hai hành động này để diễn tả tinh thần của Con Chiên Hiền Lành, của người Tôi Tớ khiêm tốn của Thiên Chúa. Đó là tinh thần “hiến mình cho người mình yêu”. Đọc lời của Chúa Giê-su, chúng ta thấy bữa tiệc Vượt Qua đã thực sự đi vào ý nghĩa trọn vẹn. Thay cho chiên Vượt Qua là chính Xác Thịt của Chúa Giê-su, thay cho chén rượu bình thường là chính Máu của Ngài. Lời tạ ơn đã được Chúa cất lên để làm cho bữa tiệc được sống động và mang ý nghĩa sâu xa nhất của bí tích Thánh Thể: Huyền nhiệm tạ ơn. Thật vậy, “Tạ Ơn” đã thành tựa đề chính của bữa tiệc cuối cùng. Giáo Hội đã đón nhận bữa tiệc này, và với Chúa Ki-tô, mỗi ngày ở khắp mọi nơi trên hoàn cầu, Giáo Hội tiếp tục cử hành bữa tiệc Tạ Ơn này. Trong bữa tiệc Vượt Qua mới – bữa tiệc Tạ Ơn, Chúa Giê-su là trung tâm điểm. Từ nơi Ngài đã vang lên lời tạ ơn, từ nơi Ngài các cử điệu đã diễn ra với một nghi thức thật ý nghĩa. Của lễ mà Chúa Giê-su trao ban chính là Xác Thịt và Máu của Ngài. Xác Thịt này là Xác Thịt sống động của Chúa, là chính Chúa. Máu kia chính là Máu của cuộc sống, cuộc sống của Ngài, là chính Chúa. Xác Thịt và Máu của Chúa hướng đến cái chết của Chúa. Ngoài ra, Chúa cũng nói với các môn đệ hãy rao giảng cái chết của Chúa, mỗi lần cử hành bữa tiệc Tạ Ơn: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1Cr 11,26). Lời của Chúa nói trong bữa tiệc cuối cùng đã làm cho buổi tối hôm đó tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn ở chính nơi cái chết của Chúa. Của lễ Chúa trao ban chính là Xác Thịt của Chúa, Xác Thịt hiến dâng và Máu đổ ra trong cái chết. Cái chết này Chúa sẵn sàng đón nhận vì chính các môn đệ, những người mà Chúa ban cho hai của lễ kia. Xác Thịt Chúa được bẻ ra và được hiến dâng vì anh em. Máu được đổ ra vì anh em. Cái chết của Chúa Giê-su thật là tốt cho các môn đệ. Cái chết của Chúa là cái chết đem lại ơn cứu rỗi. Cha Michelini suy tư như sau: “Trong bữa tiệc ly của Chúa Giêsu nổi bật yếu tố này: Giuđa trao nộp Chúa. Nhưng Chúa Giêsu, trong đêm bị phản bội, đã không thu hồi món quà của Ngài, đã ban tất cả những gì Ngài có thể trao: thân mình Ngài và máu Ngài (1Cor 11). Ngôi Lời, Chúa Con, đã dâng hiến ngôi vị thần linh của mình, dù là Thiên Chúa nhưng Ngài đã không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa (Pl 2,6). Giờ đây Ngài trao ban chính bản tính nhân loại, là thân xác Ngài, bởi vì trong thân xác này mà Ngôi Lời đã làm người. Bằng cách thức này, Chúa Giêsu trao ban tất cả chính mình, không giữ lại điều gì”. Đi sâu hơn, chúng ta dừng lại ở cụm từ “Giao Ước”. Barclay đã giải thích như sau: “Từ giao ước là một chữ rất thông thường trong tôn giáo Do Thái. Nền tảng của Do Thái giáo là Thiên Chúa đã lập một giao ước với dân Israel. Từ này có nghĩa là một sự dàn xếp, trả giá, một hợp đồng hai chiều. Việc thừa nhận giao ước cũ được nói rõ trong Xuất hành 24,3-8. Theo đoạn sách đó chúng ta thấy giao ước hoàn toàn tùy thuộc việc dân Israel tuân giữ luật. Nếu luật bị vi phạm thì giao ước cũng bị vi phạm, và mốì liên hệ giữa Thiên Chúa với dân Israel sẽ tan rã. Đây là một mối giao hảo hoàn toàn tùy thuộc luật và việc tuân giữ luật ấy. Thiên Chúa là vị thẩm phán. Vì không hề có ai giữ trọn luật nên phần khiếm khuyết luôn luôn ở về phía dân chúng. Nhưng Chúa Giêsu phán “Ta phê chuẩn và ban hành một giao ước mới, một mối liên hệ, một hợp đồng mới giữa Thiên Chúa với loài người. Nhưng giao ước này không lệ thuộc vào luật mà tùy thuộc tình yêu. Nói khác đi, Chúa Giêsu muốn bảo rằng “Việc ta đang làm đây để chứng minh cho các ngươi thấy Thiên Chúa yêu thương các ngươi như thế nào”. Loài người không chỉ đơn giản ở dưới luật của Thiên Chúa. Vì điều Chúa Giêsu đã thực hiện, họ mãi mãi ở trong tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là yếu tính của những gì Tiệc Thánh nói lên với chúng ta”. Ngoài ra, chúng ta chú ý đến cụm từ “vì anh em, vì muôn người” được nhắc tới trong lời Chúa nói. Thánh sử Luca viết: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20). Mác-cô thì dùng cụm từ vì muôn người: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người” (Mc 14,24). Thánh sử Mát-thêu thì dùng cụm từ cho muôn người được tha tội: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội”. Còn thánh Phao-lo thì viết: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11,24). Như thế, trong bữa tiệc Thánh Thể này, Chúa Giê-su hướng về các môn đệ và hướng về muôn người, những kẻ Ngài yêu thương và Chúa trao ban Xác Thịt và Máu của Ngài như là của lễ tình yêu cao quý. “Vì anh em” và “máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội”. Những lời này của Chúa đưa chúng ta đến với hình ảnh của người Tôi Tớ của Thiên Chúa (x. Is 53,4-5. 6-7. 10-12). Cái chết của Chúa, Xác Thịt hiến dâng và Máu đổ ra của Chúa, trở thành của lễ đền tội nhân loại. Chúa “vì chúng ta”, nên Ngài đã lập giao ước mới để làm trọn vẹn giao ước cũ trên núi Xi-nai mà ngày xưa Mô-sê đã đón nhận từ Thiên Chúa. Giao ước mới này chứa đựng Máu của Đấng chịu đóng đinh đổ ra vì muôn người. “Đức Ki-tô chịu chết vừa là hy tế Vượt Qua hoàn tất việc cứu độ chung cuộc loài người (x.1Cr 5,7; Ga 8,34-36), vì "Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian" (Ga 1,29) (x.1Pr 1,19), vừa là hy tế của Giao Ước Mới (x.1Cr 11,25) cho con người hiệp thông lại với Thiên Chúa ( x.Xh 24,8), bằng cách giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ "máu được đổ ra cho muôn người được tha tội" (Mt 26,28) (x.Lv 16,15-16)” (Sách GLHTCG số 613). Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương và luôn thành tín, đã tha thứ cho dân Ngài và đã đem lại trật tự mới với giao ước mới. (x.Gr 31,31-34). Với Máu và Thân Xác của mình, Chúa Giê-su tặng ban những điều tốt đẹp nhất cho chương trình mới, giao ước mới của Thiên Chúa đối với nhân loại, và chuẩn bị cho ơn cứu rỗi của ngày cuối cùng: Nhân loại được đón nhận ơn tha thứ của Chúa, hoà giải với Chúa và được hiệp nhất với Ngài trong một cộng đoàn. Chúa Giê-su, qua chén chúc phúc Ngài trao ban, trở nên Người Trung Gian của Giao Ước Mới. Qua Chúa, Tôi Tớ của Thiên Chúa, Đấng đã chịu tội thay cho nhân loại và hiến dâng chính mình, mà một trật tự mới của Thiên Chúa đã được hình thành: “Ta là ĐỨC CHÚA, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta. Ta đã nắm tay ngươi, đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước, để mở mắt cho những ai mù loà, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm” (Is 42,6-7). Chúa Giê-su không chỉ nói lên sức mạnh cứu rỗi, mà Ngài còn ban tặng sức mạnh cứu rỗi này trong chính Xác Thịt và Máu của Ngài như là lương thực: “Chúa đã bẻ tấm bánh và trao cho họ”, cũng thế Chúa đã trao ban chén rượu. Hoa quả của ơn cứu rỗi không chỉ tương hợp với niềm tin vào Chúa, mà còn được diễn tả qua việc đón nhận Mình và Máu Thánh của Ngài. Khi Chúa bẻ bánh và trao bánh là chính Xác Thịt Ngài, Chúa nói: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy”. Lời này cũng được dùng cho chén rượu là chính Máu Ngài: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11,25). Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo viết rằng: “Bí tích Thánh Thể Chúa Giê-su thiết lập sẽ là ‘lễ tưởng niệm’ (1Cr 11,25) hy tế của Người. Người hội nhập các tông đồ vào lễ hiến dâng của Người và yêu cầu họ lưu truyền hy lễ này mãi mãi (x.Lc 22,19). Như thế, Đức Giê-su đặt các tông đồ làm tư tế Giao Ước mới: ‘Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để trong chân lý, họ cũng được thánh hiến’ (Ga 17,19) (x.Cđ.Trente: DS 1752;1764) ” (số 610). Trong Giáo Hội tiên khởi, việc cử hành bí tích Thánh Thể đã được sống động. Sách Công Vụ đã ghi lại: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng…Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” (Cv 2,42.46). Ngoài ra, các tài liệu thời đầu tiên của Giáo Hội Tiên Khởi nhắc đến việc cử hành bí tích Thánh Thể. Qua đó, giúp chúng ta có cái nhìn lịch sử và nhận ra được tinh thần sống động Mầu Nhiệm Thánh Thể và Vượt Qua của Chúa Giê-su ngay từ những ngày đầu tiên. Chúng ta đọc lại một số tài liệu cổ nhắc tới Bữa tiệc tạ ơn, bí tích Thánh Thể. Sách Didachè hay “giáo lý của 12 tông đồ” là một cuốn sưu tập nhỏ của “giáo lý Do thái – Kitô giáo” gồm 16 chương. Có nguồn gốc từ các cộng đoàn tại Antiokia Syria, được viết cho các Kitô hữu gốc dân ngoại vào cuối thế kỷ I hay đầu thế kỷ II. Tác phẩm này được khám phá vào năm 1873 tại Constantinople. Didachè để lại cho chúng ta chứng từ đầu tiên liên quan đến những kinh để “tạ ơn” (eucharistia) trong hai chương 9 và 10. Còn chương 14, 1 thì cho chúng ta chứng từ về ngày Chúa nhật, ngày Hội Thánh quy tụ lại để bẻ bánh và tạ ơn.- Didachè 9,1-5:
- Didachè 10,1-7:
- Didachè14,1:
- “Trong ngày mà người ta gọi là ngày của Mặt Trời, những người thuộc nhóm chúng tôi,
- Đọc sách xong,
- Sau đó chúng tôi đứng lên,
- Những người dư giả sẽ ban phát
- Chúng tôi họp nhau vào mỗi ngày Mặt trời,
- Thánh thi giờ kinh sách lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô
- Tham khảo







