Ngày nay, khi thế giới phát triển vượt bậc về mọi mặt, người ta tưởng chừng cuộc sống con người sẽ bình an và hạnh phúc hơn. Thế nhưng, hai từ “khủng hoảng” lại xuất hiện nhiều hơn bao giờ hết, từ khủng hoảng môi trường, kinh tế, xã hội, đến khủng hoảng văn hóa và gia đình v.v. Hơn nữa, con người hôm nay còn đối diện với một khủng hoảng sâu xa hơn nơi nội tâm: sự cô đơn, lo âu, mất ý nghĩa sống và khủng hoảng niềm tin. Những thực tại ấy không chỉ diễn ra ở xã hội, nhưng cũng xuất hiện trong đời sống Giáo hội, nơi các linh mục, tu sĩ và những người lãnh đạo cộng đoàn cũng mang trong mình giới hạn, mỏi mệt, thử thách, và cả những đêm tối nội tâm. Trong tháng Giáo hội cầu nguyện cho các linh mục đang gặp khủng hoảng, hẳn đây là một gợi nhắc thiết thực thúc đẩy các Kitô hữu về sứ vụ cầu nguyện cho các mục tử của mình. Từ đây, bài viết mở ra một câu hỏi căn bản về vai trò của cộng đoàn1 đối với cuộc khủng hoảng của các linh mục và với khủng hoảng của những người sống đời thánh hiến nói chung. Cộng đoàn có thực sự là nơi nâng đỡ, hay vô tình để những người đang phục vụ mình phải chiến đấu một mình?
Đức Hồng Y Radcliffe đã dùng hình ảnh “Không để Phêrô một mình trên thuyền” để diễn tả rất đúng trực giác Tin mừng về tính hiệp thông cộng đoàn. Theo ngài, một cộng đoàn chân thực không phải là nơi ai nấy đứng xa để nhận xét, nhưng là nơi người ta cùng lên thuyền, cùng chia sẻ gió ngược và cùng chờ Chúa đến giữa đêm tối. Khi Đức Giêsu buộc các môn đệ xuống thuyền, Người không chỉ sai họ đi qua bờ bên kia, nhưng còn đặt họ vào cùng một số phận với vị đứng đầu nhóm, để họ không thể tách mình khỏi cơn bão mà Phêrô đang đối diện (x. Mc 6,45-52).2
Quả thực, Kinh Thánh không nhìn đời sống phục vụ của người được sai đi như một con đường đơn độc. Khi ông Môsê mỏi tay trên núi, dân Israel đã chiến thắng không chỉ nhờ lời cầu xin, mà còn nhờ ông Aharon và Khur nâng tay ông lên cho đến khi mặt trời lặn (x. Xh 17,12). Hình ảnh ấy rất đẹp và rất thật, có những trận chiến thiêng liêng mà người lãnh đạo không thể một mình vượt qua, đức tin của một cộng đoàn thể hiện bằng khả năng nâng đỡ người đang mỏi mệt, chứ không phải đứng xa để quan sát họ chao đảo. Tân Ước cũng cho thấy cộng đoàn Kitô hữu được mời gọi “mang gánh nặng cho nhau” (Gl 6,2), cùng “khóc với người khóc” (Rm 12,15), và “quý trọng những người vất vả vì anh em, những người đứng đầu trong Chúa” (x. 1Tx 5,12-13). Những lời ấy không chỉ là lời khuyên đạo đức, nhưng diễn tả một cấu trúc thuộc về bản chất của Giáo hội. Giáo hội không phải là nơi các cá nhân đứng riêng lẻ rồi cùng nhìn về một vị mục tử như về một đối tượng đánh giá, nhưng là thân thể Đức Kitô, trong đó “nếu một bộ phận đau, mọi bộ phận cùng đau” (1Cr 12, 26).
Trong Giáo hội, việc cầu nguyện cho các linh mục, tu sĩ là một thực hành rất quen thuộc trong phụng vụ, trong đời sống cá nhân hay trong giờ cầu nguyện của các cộng đoàn. Tuy nhiên, dường như khi cầu nguyện một cách chung chung cho các linh mục trong hoàn cảnh bình thường thì dễ, thế nhưng, điều đáng suy tư là khi có một linh mục cụ thể thật sự gặp khó khăn, phản ứng của cộng đoàn lại không luôn như vậy. Có khi đó là sự im lặng lạnh lùng, có khi là né tránh, có khi là những lời bàn tán không dứt, và cũng có khi là thái độ phán xét mau lẹ như thể mọi yếu đuối của linh mục đều lập tức trở thành một thất bại không thể cứu vãn.
Người Công giáo Việt Nam có nét đẹp là lòng kính trọng đối với các linh mục và tu sĩ, nhưng có khi sự kính trọng trở nên thái quá khi nhìn họ như một vị thánh mà quên rằng họ cũng là con người mỏng dòn, có yếu đuối và giới hạn. Và như thế, một phản ứng trái chiều là khi một linh mục hay tu sĩ gặp khó khăn, cộng đoàn lại trở nên những “thẩm phán” khá nghiêm khắc với những lời bàn và tán câu chuyện của các ngài, một cám dỗ bởi thứ thỏa mãn rất nguy hiểm, lấy khuyết điểm của người phục vụ mình làm đề tài cho sự hiếu kỳ, thay vì coi đó là tiếng gọi hoán cải cho toàn Thân Thể. Trong hoàn cảnh ấy, vị mục tử có thể bị đặt vào vị trí của “Phêrô một mình trên thuyền”, vẫn ở đó giữ vai trò của mình, nhưng bên trong là sóng gió chao đảo. Nếu cộng đoàn chỉ đòi họ mạnh mẽ mà không nâng đỡ, thì nguy cơ không chỉ là họ kiệt sức cá nhân mà chính đời sống cả cộng đoàn cũng suy yếu. Bởi lẽ, một bề trên, một tu sĩ được trao trách nhiệm dẫn dắt cộng đoàn cũng chỉ là một người được gọi để phục vụ trong những giới hạn của phận người. Họ cần lời cầu nguyện, sự thấu hiểu, và cả những con người có thể ngồi lại với họ mà không biến nỗi đau của họ thành câu chuyện lan truyền.
Về điểm này, một linh mục đã chia sẻ trên Mạng lưới Cầu nguyện của Đức Giáo hoàng rằng các linh mục cũng cần được lắng nghe như bất cứ ai, và họ cũng cần tình bạn chân thật chứ không phải những tương quan chỉ mang tính chức năng. Theo ngài, cần có một sự nâng cao nhận thức hơn nơi cộng đoàn giáo dân, đó là học cách yêu mến các linh mục của mình, tránh nói hành nói xấu, có thể nghĩ đến việc mời các ngài đến nhà cách vô vị lợi, hoặc tạo điều kiện cho họ thư giãn mà không kèm theo yêu cầu nào, như một cuộc dạo chơi, cùng xem một trận đấu…Ngài nói “Tôi tin rằng, để các linh mục có thể sống và thi hành sứ vụ cách quân bình và triển nở, điều cần thiết là có nhiều giáo dân tích cực hơn bên cạnh các ngài.”3
Như vậy, lời mời gọi “không để Phêrô một mình trên thuyền” không chỉ là một hình ảnh cảm động, nhưng là một chuẩn mực cho đời sống Giáo hội. Chúa Giêsu đã từng xin các môn đệ: “Anh em hãy ở lại đây mà thức với Thầy” (Mt 26,38). Một lời xin rất con người và rất thiêng liêng. Ở lại. Canh thức. Đừng bỏ đi. Đừng để một người cô đơn trong cơn hấp hối. Đó cũng là điều nhiều vị mục tử âm thầm cần nơi cộng đoàn: không cần những lời khích lệ lớn lao, nhưng là ở lại thật sự. Nhiều khi, điều cộng đoàn thiếu không phải là lòng nhiệt thành mà là thiếu cái nhìn cảm thông, có khả năng thấu hiểu những áp lực, những đòi hỏi mục vụ ngày càng phức tạp của các linh mục, tu sĩ; và yêu mến nâng đỡ họ bằng sự lắng nghe, bằng lời cầu nguyện và cộng tác chân thành. Từ đó, có thể nói điều cần thiết đối với các cộng đoàn hiện nay là một nền văn hóa mục vụ trưởng thành hơn. Nền văn hóa ấy không xem vị lãnh đạo cộng đoàn như một nhân vật xa cách, cũng không xem họ như đối tượng của sự thất vọng tập thể. Nhưng nhìn họ trong tương quan thật với toàn thân thể Giáo hội. Họ có trách nhiệm, có thẩm quyền thiêng liêng, nhưng cũng rất cần được cộng đoàn nâng đỡ, chia sẻ, cầu nguyện và ở lại bên họ trong những thời khắc khủng hoảng. Chính sự hiện diện cảm thông và đồng hành của cộng đoàn làm nên sức mạnh giúp các linh mục, tu sĩ sống sứ vụ cách bình an hơn, bền bỉ hơn và trung thành hơn. Và điều đó cũng làm nên sức mạnh của cả cộng đoàn Giáo hội cùng liên đới, cùng nâng đỡ và cùng bước đi trong Chúa Kitô.
Maria Hải Châu, SSS
1 - Có thể hiểu là cộng đoàn giáo xứ đối với vị linh mục, hoặc cộng đoàn dòng tu đối với vị bề trên hay với các tu sĩ của mình.
2 - x. Bài suy niệm Tin mừng của Đức Hồng y Radcliffe, O.P. trong buổi khai mạc Công nghị Hồng y vào chiều thứ Tư, 07/01/2026. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/khong-duoc-de-phero-mot-minh-tren-thuyen
3 - x. Lionel, “Lời mời gọi sống tinh thần lắng nghe và tình huynh đệ rõ nét hơn đối với các linh mục” truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026. https://www.prieredupapefrance.net/plaidoyer-pour-une-ecoute-et-une-fraternite-plus-manifestes-envers-les-pretres/






