Bài viết này trình bày suy tư về sự lạm dụng như một sự bóp méo trong việc thực thi quyền bính và cách sống đức vâng phục - một nhân đức kết nối tất cả các Kitô hữu và làm cho họ nên giống Đức Kitô, Đấng đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết trên thập giá.[1] Hơn nữa, việc nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong đức vâng phục được sống cách đặc biệt nơi những người tận hiến, nhờ lời khấn nguyện, họ cam kết vâng phục bề trên hợp pháp của mình. Điều tương tự này cũng được sống nơi các phó tế và linh mục triều, khi họ hứa vâng phục giám mục của mình vào lúc lãnh nhận chức thánh.
Tầm quan trọng của đức vâng phục đã được nhìn nhận trong đời sống của Giáo hội ngay từ thuở ban đầu. Thánh Clêmentê thành Rôma đã cho chúng ta một ví dụ về điều này, trong Thư gửi tín hữu Côrintô, ngài kêu gọi sự quy phục đối với phẩm trật Giáo hội như một cách tôn trọng chính sứ mạng mà Đức Kitô đã trao ban. Như thế, mỗi cá nhân, trong khi chu toàn bổn phận của mình và tôn trọng phẩm giá của người khác, qua đức vâng phục góp phần xây dựng Nhiệm Thể Đức Kitô.[2]
Đôi khi, đặc biệt là trong đời sống thánh hiến, người ta có thể được kêu gọi sống vâng phục trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó cám dỗ nản chí và nghi ngờ có thể nảy sinh. Về vấn đề này, thánh Biển Đức, tổ phụ của đời sống đan tu, đã kêu gọi một cuộc đối thoại tin tưởng giữa tu sĩ và viện phụ và thúc giục sự vâng phục xuất phát từ tình yêu đối với Thiên Chúa, tin tưởng vào sự giúp đỡ của Ngài. Thánh Phanxicô Assisi nhấn mạnh vào “đức vâng phục bác ái”, trong đó tu sĩ, hy sinh ý kiến của riêng mình, thực hiện những gì được yêu cầu bởi vì làm như vậy là “làm đẹp lòng Thiên Chúa và tha nhân.”[3]
Chiều kích thần học của đức vâng phục cần được gìn giữ và bảo vệ cách cẩn trọng, bởi đó là một chiều kích nền tảng trong đời sống các cộng đoàn Kitô hữu, bảo đảm sự hiệp nhất và tính chất truyền giáo của họ. Thực tại này đã hiện diện xuyên suốt lịch sử Giáo hội, đặc biệt trong các hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến, kể cả những hình thức mang tính cộng đoàn chặt chẽ nhất; vì thế, cần được trân trọng và bảo vệ. Trong xã hội ngày nay, nơi mà tính chủ quan và quyền tự chủ của cá nhân được nhấn mạnh một cách đúng đắn, thì đức vâng phục được sống một cách trưởng thành là dấu chỉ của việc thuộc về Đức Kitô và của một cuộc sống tận hiến cho việc phục vụ Vương quốc của Ngài.[4] Do đó, việc lạm dụng quyền lực, hay lạm dụng lương tâm tạo nên những vết thương trong cơ cấu của Giáo hội, tức chính là những vết cắt trên thân thể Đức Kitô, là chính Giáo hội.
Đức Giáo hoàng Phanxicô ý thức rõ về vấn đề này. Trong một cuộc phỏng vấn với một kênh truyền hình Bồ Đào Nha, ngài nói rằng: “Tôi muốn nói rõ điều này: việc lạm dụng đối với nam giới và phụ nữ trong Giáo hội - lạm dụng quyền lực, lạm dụng quyền bính và lạm dụng tình dục - là một điều quái dị! Và một điều rất rõ ràng: không khoan nhượng. Tuyệt đối không! Một linh mục không thể tiếp tục làm linh mục nếu là kẻ lạm dụng. Không thể! Bởi vì người đó hoặc bị bệnh hoặc là tội phạm, tôi không biết - nhưng rõ ràng là bệnh hoạn. Đó là sự thấp hèn của con người, phải không?”[5]
Ngày nay, trong một Giáo hội mà các tín hữu muốn trở thành những người theo Chúa Kitô và Tin Mừng của Người, việc nói về lạm dụng quyền lực, quyền bính[6] hoặc lương tâm[7]của các tín hữu trong Giáo hội đối với người khác, dù ở trong hay ngoài Giáo hội, không còn là điều cấm kỵ mà thực sự đã trở thành một bổn phận.[8] Gốc rễ của sự lạm dụng đó là việc lạm dụng quyền lực, thường bị làm trầm trọng thêm bởi sự thao túng lương tâm.[9] Trong Giáo hội, cũng như trên thế giới, những kẻ lạm dụng đã học cách dụ dỗ, bóp méo sự thật và thao túng sự chú ý và cảm xúc của nạn nhân, sử dụng thông tin sai lệch và làm mất uy tín của họ để rồi bất kỳ phản ứng nào cũng không được coi trọng.[10]
Việc ngược đãi con người – giáo dân hay giáo sĩ – bởi những người có quyền lực trong Giáo hội đã hủy hoại quá nhiều cuộc đời. Ngày càng có sự nhận thức rõ ràng rằng đây không phải là những trường hợp riêng lẻ, mà là một vấn đề mang tính cấu trúc và hệ thống đã bị bỏ qua từ lâu do sự thao túng về mặt cảm xúc, che đậy, cũng như nỗi sợ hãi và sự im lặng của các nạn nhân. Chúng ta đang đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng trong việc thực thi quyền lực, bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo sĩ trị, hiện diện trong các thể chế của Giáo hội.[11] Điều gây sốc nhất là nóđược thực hiện bởi những người mà Giáo hội đã giao phó chức vụ linh mục và nhiệm vụ lãnh đạo của các cộng đoàn. Để đạt được mục đích của mình, những kẻ gây ra tội ác lợi dụng lòng tin mà Giáo hội và chính các nạn nhân đặt nơi họ, và được hỗ trợ bởi sự che giấu và sự im lặng mang tính đồng lõa. Sự im lặng và nỗi sợ hãi là những kênh đặc quyền để lan truyền cái ác và là trở ngại lớn nhất cho bất kỳ nỗ lực cải tổ nào.[12] Tương tự như vậy, những người nắm quyền lực và có phương tiện tài chính cũng như các kênh truyền thông trong tay dễ dàng biến các nạn nhân thành tội đồ. Tuy nhiên, chúng ta đang sống trong thời đại không thể dung thứ cho những bất công do việc lạm dụng quyền lực gây ra, và điều này đã giúp nhiều hành vi lạm dụng bị phơi bày.
Vấn đề cơ bản nằm ở thực tế rằng các cấu trúc quyền lực, trong nhiều trường hợp, bị biến chất. Ngoài ra, trong các trường hợp lạm dụng – dù là quyền lực, quyền bính[13] hay tình dục – tất cả những người chứng kiến nhưng vẫn im lặng đều đồng lõa vì sự thiếu sót. Sự im lặng đó, do hậu quả của nó, thường nghiêm trọng hơn chính hành vi lạm dụng. Hành động phủi tay không bao giờ là trung lập, mà đúng hơn là đứng về phía kẻ lạm dụng.[14]
Lạm dụng quyền lực
Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “lạm dụng quyền lực” theo nghĩa cụ thể: là khả năng của một người, thông qua sự cưỡng bức và bạo lực, do vị trí mà người đó nắm giữ, gây ra sự thao túng tự do của người khác, khiến những người bị áp đặt phải đưa ra quyết định trái với ý muốn của họ. Hành vi quá mức, bất công hoặc áp đặt có thể cấu thành các trường hợp lạm dụng. Lạm dụng quyền lực là gốc rễ của mọi sự lạm dụng; ngược lại, việc thực thi quyền lực một cách thích hợp khiến chúng ta trở thành những người theo Chúa chân chính và thúc đẩy phẩm giá của người khác.[15]
Người lạm dụng quyền lực nhận thức được rằng thẩm quyền đạo đức mà họ được trao phó nay đã bị mất.[16] Lạm dụng quyền lực cũng thể hiện ở việc kẻ lạm dụng cố gắng áp đặt một cách giải thích sai lệch, cố gắng cho thấy rằng chính họ mới là người đưa ra cách hiểu đúng về vấn đề thực tế. Do đó, các câu chuyện được dựng nên theo những gì người đó muốn áp đặt, thao túng và, nếu cần thiết, làm nhục và hạ thấp người khác để đạt được mục đích đó.[17] Ngoài ra, những kẻ lạm dụng dựa vào vị trí mà họ nắm giữ, “thông tin” mà họ có trong tay và sức ảnh hưởng nhờ vào sự gần gũi của họ với cấp trên trong hệ thống thứ bậc.
Điều quan trọng cần lưu ý là tất cả chúng ta, do tính dễ bị tổn thương đặc thù của mình,[18] đều mang trong mình một “năng lượng” của quyền lực.[19] Cũng cần phải nói thêm rằng luôn có nguy cơ hình thành một giáo phái sùng bái cá nhân gắn liền với những người nắm quyền. Đây là hai mặt của cùng một đồng xu: sự sùng bái cá nhân mà những kẻ khao khát và tìm kiếm quyền lực mong muốn sẽ đi kèm với hệ quả là sự phi nhân hóa những “người tôn thờ” họ. Sự sùng bái cá nhân tất yếu dẫn đến sự sùng bái tính vô ngã (phi nhân tính) và những tổn hại cho những người tự nguyện tham gia vào “sự sùng bái thần tượng” đó. Trong những tình huống này – nhất là trong tôn giáo – các trò chơi quyền lực, chuyên chế và áp bức được kết hợp với sự phi lý do sợ hãi, hèn nhát và dối trá gây ra
Lạm dụng quyền bính
Sự lạm dụng trong việc thực thi quyền bính[20] bắt đầu từ việc tập trung quyền lực nơi một bề trên; điều này cung cấp sự “biện minh” cho lương tâm của những người thi hành quyền bính[21] và bỏ qua thực tế rằng việc đồng trách nhiệm trong việc thực thi quyền bính lại là yếu tố giải phóng cho sự tự chủ. Một bề trên đưa ra quyết định về cuộc sống của một người đã hiến dâng cho Chúa mà không lắng nghe hoặc xem xét quan điểm của người đó là đang chiếm đoạt một vị trí không thuộc về mình. Nói cách khác, người không chuẩn bị và không sẵn lòng cho một cuộc đối thoại để dẫn đến việc tôn trọng lương tâm của người khác thì sẽ không có khả năng thực hiện sứ mệnh đã được giao.
Việc thực thi quyền bính[22] đối với người khác phải giúp củng cố những mối dây gắn bó sâu sắc hơn với cộng đoàn, bởi điều này liên quan đến một con người đã được thánh hiến cho Chúa qua các lời khấn. Không một người nào có thẩm quyền – ngay cả người sáng lập một Hội dòng – có thể được coi là người duy nhất giải thích đặc sủng, cũng không thể đặt mình lên trên luật phổ quát của Giáo hội.[23] Những người thực thi quyền bính phải cẩn thận không sa vào cám dỗ tự mãn, tức là tin rằng mọi thứ đều phụ thuộc vào họ. Một quyền bính quy chiếu vào bản thân như vậy thì không có điểm gì chung với các giá trị và nguyên tắc của Tin Mừng.
Trong các Hội dòng sống đời dâng hiến, cần phải hết sức chú ý đến nguy cơ của chủ nghĩa độc tài.[24] Vì công lý và sự minh bạch, cần thiết phải điều tra xem xét các mối quan hệ giữa việc lạm dụng quyền lực, quyền uy và khía cạnh tình dục[25] cùng với các trường hợp bỏ rơi và tự tử trong đời sống thánh hiến. Chúng ta cần chuyển dịch một cách rõ ràng nhất từ sự tập trung theo vai trò quyền bính sang sự tập trung theo năng động của tình huynh đệ,[26] bởi vì quyền bính chỉ có ý nghĩa nếu nó phục vụ cộng đoàn Tin Mừng.
Lạm dụng lương tâm
Một trong những trở ngại chính gặp phải liên quan đến lạm dụng lương tâm hiện nay là mức độ nghiêm trọng và phổ biến của nó trong Giáo hội vẫn chưa được công nhận.[27] Đây là một vấn đề nổi lên cùng với cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục, nhưng nó xứng đáng được xử lý cụ thể và cần được xem xét như một vấn đề riêng biệt, chứ không chỉ là một bước dẫn tới việc lạm dụng tình dục. Đó là một cuộc tấn công vào phẩm giá con người. Những người phải chịu đựng điều này, ngay cả khi họ không dễ bị tổn thương trong lĩnh vực tình dục, cũng phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng về thiêng liêng và tâm lý, bởi vì nó thường là vấn đề kinh nghiệm tôn giáo. Sự lạm dụng này có thể tinh vi hơn nhiều và cũng biến thái hơn nhiều. Lương tâm là nơi ngự trị của sự tự do phán xét và là nơi gặp gỡ trực tiếp với Chúa. Do đó, lạm dụng lương tâm làm suy yếu sự tự do và cuộc gặp gỡ đó, làm tha hóa hai yếu tố cơ bản của đời sống Kitô giáo: tự do, đặc trưng của con người, và mối quan hệ của họ với Chúa, mục tiêu tối thượng của họ.[28] Lạm dụng lương tâm dựa trên thái độ bi quan không coi trọng phẩm giá và chủ thể của con người. Cốt lõi của thái độ như vậy không phải là hình ảnh của Chúa trong con người, mà là sự biến dạng do tội lỗi gây ra. Nếu bản chất con người bị tha hóa, lương tâm hay lý trí không thể tin tưởng được, mà chỉ có “người được soi sáng” – người được cho là biết và truyền đạt ý muốn của Chúa nhờ ân sủng siêu nhiên.[29]
Lạm dụng lương tâm chỉ có thể xảy ra trong bối cảnh của một mối tương quan tin tưởng. Việc hết lòng theo Chúa Giêsu hàm chứa sự tin tưởng vào các vị lãnh đạo Giáo hội, nhưng sự tin tưởng này có thể tiềm ẩn rủi ro đặt bản thân vào tình trạng mong manh và dễ bị tổn thương. Nạn nhân của lạm dụng lương tâm không có lỗi vì đã tin tưởng. Trên thực tế, tin tưởng không phải là điểm yếu mà là điều kiện để theo Chúa Giêsu Kitô. Bất cứ ai thực hiện chức vụ trong Giáo hội đều được trao trọng trách trong Giáo hội. Do đó, lạm dụng lương tâm, ngay cả khi xảy ra trong các mối quan hệ riêng tư, luôn có khía cạnh thể chế; và không thể phủ nhận trách nhiệm của Giáo hội khi có ai đó tỏ ra đáng tin cậy nhưng thực tế lại không phải vậy.
Lạm dụng lương tâm không đồng nhất với lạm dụng quyền lực thiêng liêng, bởi vì nó cũng có thể được thực hiện bởi những người có quyền lực pháp lý. Do đó, cần phải xác định tội lạm dụng lương tâm, đó là loại lạm dụng quyền lực – pháp lý hoặc thiêng liêng – làm suy yếu hoặc vô hiệu hóa tự do phán đoán và ngăn cản tín hữu được ở một mình với Chúa.[30] Khi sự phân định của cấp trên trở nên tuyệt đối, sự phân định và lý trí của những người khác phần lớn bị phủ nhận; quyền lực của cấp trên vẫn không bị kiểm soát, và do đó có xu hướng được thực hiện một cách tùy tiện, mà không tuân theo sự kiểm nghiệm của lý trí. Khi quyền lực phải tuân theo một tiêu chí thích hợp, tính tùy tiện sẽ ít xảy ra hơn. Sự vâng phục tuyệt đối đối với bề trên, một cách nghịch lý, thường đi kèm với sự bất tuân đối với phần còn lại của Giáo hội. Khi sự linh cảm của cấp trên được tuyệt đối hóa, hậu quả là lý trí bị tương đối hóa hoặc bị bỏ qua bởi vì lý trí cho thấy rằng mọi thứ không rõ ràng; ngược lại, kẻ lạm dụng lại thích một lối suy nghĩ đơn giản và duy nhất, tức là lối suy nghĩ của chính họ, phải thống trị: mọi bất đồng quan điểm đều bị cấm đoán.
Tính “triệt để” của Phúc Âm sau đó được trình bày như một điều gì đó vượt lên trên lý trí và do đó, sự can thiệp của lý trí lại bị xem như dấu hiệu của sự tầm thường, đồng nghĩa với sự thiếu quảng đại. Người ta cố gắng truyền đạt ý tưởng rằng việc dành chỗ cho lý trí tức là sự thỏa hiệp với thế gian. Việc tôn vinh “sự điên rồ” của Phúc Âm này ca ngợi sự phi lý, lên án tinh thần phê phán và cổ vũ cho sự độc đoán. Tất cả điều này đều tạo thuận lợi cho vị bề trên thích lạm dụng quyền lực, một người không dung thứ cho việc bị chất vấn. Yêu cầu về sự vâng phục “tối mặt” ngụ ý rằng tư duy phản biện được coi là dấu hiệu của sự kiêu ngạo, thậm chí là biểu hiện của thần dữ. Người ta nói rằng “các tông đồ không mang đến vấn đề, nhưng mang đến giải pháp”. Nhận định này có lý, nhưng nó cũng mơ hồ nếu được hiểu là một thái độ ngăn chặn việc đặt câu hỏi và đào sâu về các vấn đề.
Phần kết luận
Ranh giới là một phần cấu thành của việc thực thi quyền bính, và trong Giáo hội, điều này không nên được coi là điều mới mẻ. Nguyên lý Nhập Thể ngụ ý rằng người ta chia sẻ với người khác một trách nhiệm có thời hạn. Nói cách khác, quyền lực trong Giáo hội phải là một chứng nhân rõ ràng, minh bạch và gương mẫu cho một cách thức thực thi quyền lực khác.[31]
Vì tính tùy tiện là một cám dỗ luôn hiện hữu trong mỗi con người, nên cần phải cảnh giác và ngăn chặn nó. Để đạt được mục tiêu này, cần phải thúc đẩy các hệ thống kiểm soát độc lập với những người nắm quyền, và điều này đòi hỏi phải có các giao thức thực tế và hiệu quả nhằm đảm bảo tính minh bạch của các quyết định và cho phép báo cáo các tình huống lạm dụng và tùy tiện trong việc thực thi quyền lực. Điều cần thiết là phải loại bỏ cảm giác rằng hành vi lạm dụng không có hậu quả và không bị trừng phạt.[32] Những người lạm dụng quyền lực và những người tham gia vào đó bằng hành động hoặc sự thiếu sót đều để lại một dấu vết phía sau họ, một “dấu chân tội lỗi” phá hủy cách không thể cứu vãn rất nhiều cuộc đời vô tội.
Mặt khác, những kẻ lạm dụng thích có “cộng sự”. Do đó, thường xảy ra trường hợp, bất chấp quy tắc giới hạn thời gian trong nhiệm kỳ của các vị trí, người ta có xu hướng trở thành cấp trên suốt đời. Xu hướng luôn giữ cùng một người trong nhiều năm ở các vị trí có thẩm quyền tiềm ẩn rủi ro cho những người nắm giữ chúng. Đặc biệt, có nguy cơ đồng nhất với vai trò, cộng thêm nguy cơ nhầm lẫn ý muốn của mình với ý muốn của Chúa, áp đặt một cách cứng nhắc lên người khác. Mặt khác, đối với những người vâng phục, có nguy cơ nhầm lẫn việc theo đuổi ý chí của Chúa với sự chấp thuận của bề trên. Do đó, nhân danh “sự hiệp nhất”, bất kỳ suy nghĩ nào không chỉ đơn thuần lặp lại tiếng nói của người có quyền bính đều bị gạt ra ngoài lề, nếu không muốn nói là bị loại bỏ.[33] Đây là điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là “tư duy cứng nhắc”: con người đồng nhất với vai trò, và sự hiệp nhất bị nhầm lẫn với sự đồng nhất.[34]
Điều răn thứ hai của Mười Điều Răn[35] là điều răn duy nhất trong tất cả các điều răn đưa ra hình phạt rõ ràng cho những người vi phạm việc kêu cầu danh Chúa cách vô cớ. Điều này bổ sung cho thấy mức độ nghiêm trọng của hành vi đó. Việc kêu cầu danh Chúa cách vô cớ không chỉ hàm ý phạm thượng, mà còn là việc chiếm dụng danh Ngài để biện minh cho lợi ích cá nhân, thực hành bạo lực, thậm chí là giết người và che giấu tội lỗi. Bản văn lên án những sự xuyên tạc như vậy, khẳng định rằng chúng làm sai lệch nghiêm trọng mối quan hệ với Chúa và đồng thời chứng minh sự hiện diện của chúng trong suốt dòng lịch sử. Lạm dụng lương tâm, ở một mức độ lớn, là hậu quả của việc lạm dụng danh Chúa, bị lợi dụng để biện minh cho hành động của mình.
Đã đến lúc trân trọng những người có can đảm nói “không” với sự lạm dụng, những người đặt ra giới hạn cho những gì không phù hợp và trái ngược với Tin Mừng và dám tố cáo hành vi lạm dụng. Trong lĩnh vực tôn giáo, phẩm giá con người có thể dễ dàng bị tổn hại, bởi vì sự giúp đỡ, sự hy sinh và tinh thần phục vụ có nguy cơ bị hiểu sai, dẫn đến một thái độ không lành mạnh, dối trá, vô trách nhiệm và hèn nhát - hoàn toàn xa lạ với Tin Mừng. Sự khác biệt lớn giữa “phục vụ” và “phục dịch” đến từ việc giành lại tự do, và lòng can đảm để bác bỏ những đề xuất không tương thích với phẩm giá của con người và Tin Mừng.[36]
Từ lạm dụng đến một “nền văn hóa lạm dụng” chỉ là một bước rất ngắn. Sự hoán cải, cải tổ ở cấp độ cá nhân và cơ chế, là những con đường cần thiết để chống lại xu hướng này, vốn đôi khi được bình thường hóa một cách rất tinh vi. Chuyển từ “văn hóa lạm dụng” sang “văn hóa quan tâm” đòi hỏi sự thừa nhận sự bình đẳng mà chúng ta được ban bởi Bí tích Rửa tội, bất kể ơn gọi hay sự phục vụ cụ thể mà mỗi người thực hiện trong cộng đoàn là gì. Điều đó cũng đòi hỏi việc thúc đẩy các hệ thống tham gia, trong đó tiếng nói của mỗi người được lắng nghe – ngay cả khi nó không phù hợp với một câu chuyện chính thức – và thừa nhận sự đóng góp mà mỗi người đã được lãnh nhận Bí tích Rửa tội có thể mang lại cho Giáo hội.
Khi việc thực thi quyền lực không mang tính chất Tin Mừng, cần phải nhận ra rằng điều thực sự nằm phía sau sự lạm dụng – hoặc phía sau sự đồng thuận với nó qua hành động hoặc sự im lặng – là một cuộc khủng hoảng về đời sống thiêng liêng,[37] vì nó dựa trên điều có vấn đề nhất trong các mối quan hệ của con người: mong muốn thống trị và áp đặt bản thân lên người khác. Đấng ban quyền lực là Thiên Chúa, Đấng đã dạy chúng ta rằng quyền lực là để phục vụ. Quyền lực mà Thiên Chúa thực thi là Tình yêu, và là con đường dẫn đến tự do và sự trọn vẹn cho mọi tạo vật. Bất kỳ quyền lực nào không tạo ra sự đồng cảm, dịu dàng, tôn trọng và không tìm kiếm điều tốt đẹp cho người khác, mà ngược lại, áp bức, chia rẽ và gây ra đau khổ, thì đều không phải là hoa trái của Thần Khí.
Lạm dụng quyền lực – cả trong và ngoài Giáo hội – khó có thể bị xóa bỏ hoàn toàn khỏi Giáo hội, nơi bao gồm những người coi đó như một “chiếc ô” rất lớn che đậy những hành vi lạm dụng của chính họ. Họ thậm chí còn thành công, dưới vỏ bọc “thiêng liêng, lòng tốt và tình yêu”, trong việc thao túng và bóp nghẹt những phần khác của Giáo hội. Sau tất cả những gì chúng ta đã trải qua và đang trải qua, chúng ta được kêu gọi thức tỉnh lương tâm và nâng cao nhận thức về vấn đề lạm dụng trong Giáo hội bởi những người mà, theo lời của Đức Giáo hoàng Phanxicô, là “bệnh hoạn hoặc tội phạm”.[38]
Một sự “trung thành mang tính sáng tạo”[39] dẫn đến việc cải cách các tập quán mà, mặc dù chúng từng có thể có ý nghĩa trong những thời điểm lịch sử khác, nhưng khi xét trong bối cảnh hiện tại, chúng xâm phạm các quyền cơ bản, tước đoạt tự do của con người và đòi miễn trừ trách nhiệm cho những người muốn sống ơn gọi của mình một cách có ý thức.[40] Mặt khác, bất cứ điều gì củng cố hình ảnh bản thân của bề trên bằng cách đặt họ lên trên những người khác và cho rằng họ được ban tặng những ân huệ thiêng liêng không gắn liền với chức vụ, đều có khả năng đặt họ vào những tình huống thuận lợi dẫn đến lạm dụng quyền lực và lương tâm. Tương tự, cũng cần phải suy nghĩ lại về ý nghĩa thần học của lời khấn vâng phục và cách thực hành của nó, để sự phân định và trách nhiệm của mỗi người đối với ơn gọi của mình không bị ủy thác cho bên thứ ba.[41]
Với tư cách là một cộng đoàn Giáo hội hay một cơ cấu phẩm trật, khi chúng ta không thể chăm sóc mọi người và bảo vệ sự toàn vẹn của từng người bằng cách nhận ra vẻ đẹp thiêng liêng trong hành trình tìm kiếm, trong giới hạn, trong mong muốn và nhu cầu của họ, thì chúng ta đang thất bại với tư cách là một Giáo hội.[42] Bởi thế, chúng ta phải tránh thất bại này bằng tất cả sức lực của mình.
Nguồn: https://www.laciviltacattolica.com/abuse-in-the-name-of-god/
Chuyển ngữ: Hoàng Nam | CTV JESCOM - Truyền Thông Dòng Tên
[1]. X. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 1269.
[2]. X. Clêmentê thành Rôma, Thư gửi tín hữu Côrintô, các chương 37–44.
[3]. X. Bộ Đời sống Thánh hiến và các Tu hội Tông đồ, Việc thi hành quyền bính và vâng phục, Rôma, ngày 11 tháng 5 năm 2008, số 26.
[4]. X. Bộ Giáo sĩ, Cẩm nang về Chức vụ và Đời sống Linh mục, ngày 11 tháng 2 năm 2013, số 56.
[5]. X. Cuộc phỏng vấn của M. João Avilez cho TVI và CNN Bồ Đào Nha, ngày 4 tháng 9 năm 2022 (fb.watch/f_NFXyD2Tk).
[6]. Có thể nói rằng mọi hành vi lạm dụng đều là lạm dụng quyền lực, nếu chúng ta hiểu quyền lực không phải là thứ được thể chế hóa (mặc dù nó cũng là như vậy) mà là mối quan hệ trong đó một người có quyền kiểm soát người khác do nhiều hoàn cảnh khác nhau, cho dù đó là bối cảnh, tình huống gia đình, mối quan hệ xã hội hoặc công việc. Lạm dụng xảy ra khi người có quyền kiểm soát sử dụng nó một cách không đúng đắn để áp đặt ý chí của mình mà không quan tâm đến mong muốn hoặc ý chí của người bị lạm dụng. Do đó, nó là một sự xúc phạm đến phẩm giá của con người. Lạm dụng giả định sự vật hóa, sự thao túng nạn nhân để thỏa mãn những ý thích tùy tiện hoặc nuông chiều của kẻ lạm dụng.
X. J. L. Rey Pérez, “Una reflexión sobre los abusos desde el derecho y lo institucional. La respuesta de los derechos humanos”, in R. J. Meana Peón – C. Martínez García (eds), Abuso y sociedad contemporánea. Reflexiones multidisciplinare, Pamplona, Thomas Reuters Aranzadi, 2020, 377f.
[7]. Lạm dụng tâm lý hoặc lương tâm bao gồm việc chinh phục, kiểm soát và thống trị lương tâm của người khác, buộc người đó phải hành động theo một cách nhất định. Nó liên quan đến hành vi có hệ thống và lặp đi lặp lại gây tổn hại đến phẩm giá và sự toàn vẹn tâm lý của nạn nhân.
X. Á. Rodríguez Carballeira et Al., “Un estudio comparativo de las estrategias de abuso psicológico: en pareja, en el lugar de trabajo y en grupos manipulativos”, in Anuario de Psicología 36 (2005/3) 299-314.
Gây ra sự phục tùng và gieo rắc sự nhầm lẫn là những hình thức lạm dụng quyền lực chính yếu, dẫn đến việc chinh phục, kiểm soát và thống trị lương tâm của nạn nhân.
X. G. Roblero Cum, “Ejercicios espirituales y abuso de conciencia. Un proceso de liberación del sometimiento y la manipulación afectiva”, trong Manresa 92 (2020/2) 157.
[8]. X. J. Beltrán, “El abuso de poder y conciencia entre religiosas ya no es tabú”, trong Vida Nueva, số 3249, 2021, 16f.
[9]. Đức Thánh Cha đã liên kết ba yếu tố này: “lạm dụng tình dục, quyền lực và lương tâm”: x. Phanxicô, Thư của Đức Thánh Cha gửi Dân Chúa, ngày 20 tháng 8 năm 2018.
[10]. X G. Asa Blanc, “El sujeto resistente frente a los abusos: vivencia de dignidad y coraje de ser”, trong R. J. Meana Peón – C. Martínez García (eds), Abuso y sociedad contemporánea…, op. cit., 248.
[11]. X. C. Schickendantz, "Fracaso institucional de un modelo teológico-cultural de Iglesia. Factores sistémicos en la Crisis de los abusos", trong Teología y Vida 60 (2019/1) 9-40; R. Luciani, "La renovación en la jerarquía ecclesial por sí misma no Genera la Transformación. Situar la colegialidad al interno de la sinodalidad", in D. Portillo Trevizo (ed), Teología y prevención. Estudio sobre los abusos sexuales en la Iglesia, Santander, Sal Terrae, 2020, 37-45.
Người đọc sẽ được rút được ích lợi khi đọc lời tố cáo chủ nghĩa giáo sĩ trị của Đức Thánh Cha Phanxicô, được bày tỏ trong Thư gửi Đức Hồng Y Marc Ouellet, Chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng về Châu Mỹ Latinh, ngày 19 tháng 3 năm 2016.
[12]. X. G. Cucci, “Introduzione” in S. Cernuzio, Il velo del silenzio. Abusi, violenze, frustrazioni nella vita religiosa femminile, Cinisello Balsamo (Mi), San Paolo, 2021, 34.
[13]. Max Weber phân biệt giữa quyền lực và quyền bính: quyền lực là khả năng áp đặt hành vi lên người khác, đôi khi phải vượt qua sự kháng cự; quyền bính là khả năng đạt được sự tuân phục ý chí của người khác đối với bản thân hoặc nội dung được trình bày. Quyền lực mang theo sự áp đặt và cưỡng chế và có thể được duy trì bằng thẩm quyền hoặc vũ lực đơn thuần. Quyền bính có thể thiếu quyền lực được điều chỉnh bởi xã hội nhưng vẫn tạo ra ảnh hưởng xã hội rất quyết định. Trong trường hợp này, người ta có thể nói về thẩm quyền đạo đức, điều vốn đòi hỏi tính nhất quán và tính gương mẫu. Nó có một sức mạnh nhất định bởi vì nó đòi hỏi trách nhiệm từ người khác, luôn luôn tôn trọng tự do, làm nổi bật các cơ chế thống trị, và tạo ra ảnh hưởng xã hội. Đặc điểm của thẩm quyền đạo đức đích thực là không xuất hiện một sự cưỡng chế nào.
X. M. Weber, Economía y sociedad. Esbozo de sociología comprensiva, Madrid, Fondo de Cultura Económica, 2002, 30; 43; 84; 170f; 183f; 218; 227 etc.
[14]. X. A. M. Varaprasadam, “Promoción de la justicia: medio para integrar nuestras vidas”, trong M. Nicolau et Al., Contemplativos en la acción: respuestas a la carta del P. Arrupe, Rome, Centrum Ignatianum Spiritualitatis, 1978, 79.
[15]. X. M. I. Franck, “Intentando Reflexionar sobre la raíz espiritual del abuso de poder”, trong D. Portillo Trevizo (ed.), Teología y prevención…, op. trích dẫn, 124f.
[16]. X. I. Angulo Ordorika, “Bajo la punta del tảng băng trôi: abusos de poder en la Iglesia”, trong E. Gómez García – E. Somavilla Rodríguez (eds), La Iglesia ante un mundo en cambio, Madrid, Centro Teológico San Agustín, 2022, 200-213.
[17] X. M. I. Franck, “Intentando Reflexionar sobre la raíz espiritual del abuso de poder”, op. cit., 129.
[18]. Điều liên kết chúng ta với tư cách là con người và vượt xa những khác biệt rõ ràng của chúng ta là tính dễ bị tổn thương.
X. F. Torralba i Roselló, Ética del cuidar. Cơ bản, bối cảnh và vấn đề, Madrid, Institut Borja de Bioética-Fundación Mapfre Medicina, 2002, 247.
[19]. Quyền lực là một hiện tượng bản chất của con người, mà chúng ta đã cố gắng đặt ra giới hạn. Nó có thể được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào, cao quý hay thấp hèn, xây dựng hay phá hoại, bởi vì về bản chất nó được chi phối bởi tự do. Lạm dụng quyền lực xuất phát từ việc nó không được thực hiện như một món quà để phục vụ: X. R. Guardini, Il potere, Brescia, Morcelliana, 1963, 14. Guardini nói rằng không có gì thử thách sự trong sạch của nhân cách và phẩm chất cao quý của tâm hồn nhiều như mối nguy hiểm mà quyền lực gây ra cho những người thực thi nó: “Sở hữu một quyền lực không được xác định bởi trách nhiệm đạo đức và không được kiểm soát bởi sự tôn trọng sâu sắc đối với con người có nghĩa là sự hủy diệt con người theo nghĩa tuyệt đối” (ibid., 85).
[20]. X. Bộ các Viện đời sống thánh hiến và các Hội đời sống tông đồ, Phục vụ Quyền uy và Vâng phục. Faciem tuam, Domine, requiram, Rôma, ngày 11 tháng 5 năm 2008, số 12 và 14b.
[21]. X. Id., For new wine, new wineskin. The consecrated life and its ongoing challenges since Vatican II, Vatican City, Libreria Editrice Vaticana, 2017, nos. 19; 20; 21; 24; 41-45; 48.
[22]. X. R. Aguirre, “La mirada de Jesús sobre el poder”, trong Teología y Vida 55 (2014/1) 92-104.
[23]. Cf. Bộ các Viện Đời sống Thánh hiến và Hội Đời sống Tông đồ, Vì rượu mới, bình da mới…, op. cit., số 20; Id., Phục vụ Quyền lực và Vâng phục…, op. cit., số 13f.
[24]. X. Công đồng Vatican II, Sắc lệnh Perfectae Caritatis, số 1. 15.
[25]. X. Bộ các Viện Đời sống Thánh hiến và các Hội đời sống tông đồ, Phục vụ Quyền uy và Vâng phục, op. cit., số 3. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói: “Chúng ta nghĩ đến những tổn hại gây ra cho Dân Chúa bởi những người nam nữ trong Giáo hội là những kẻ cơ hội, những kẻ leo lên nấc thang sự nghiệp, những kẻ ‘lợi dụng’ dân chúng, Giáo hội, anh chị em của họ – những người mà họ đáng lẽ phải phục vụ – như một bàn đạp cho lợi ích và tham vọng cá nhân. Họ gây ra tổn hại lớn cho Giáo hội” (Đức Phanxicô, Bài phát biểu trước những người tham dự Đại hội toàn thể của Liên hiệp Quốc tế các Bề trên Tổng quyền, ngày 8 tháng 5 năm 2013).
[26] X. Bộ Các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Tông đồ, Về rượu mới, bầu da mới…, op. cit., số 41.
[27]. X. S. Fernández, “Reconocer las señales de Alarma del lạm dụng de conciencia”, trong D. Portillo Trevizo (ed.), Abusos y reparación. Sobre los comportamientos no sexes en la Iglesia, Madrid, PPC, 2021, 47-65.
[28]. X. Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, nos. 16-17; Id., Tuyên ngôn Dignitatis Humanae; Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor, số 1. 59; Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1. 1732; 1776-1778; Thomas Aquinas, Summa contra Gentes, Turin, Utet, 603.
[29] X. S. Fernández, “Reconocer las señales de Alarma del abuso de conciencia”, op. cit., 60f.
[30]. X. ibid., 61f.
[31]. Cfr I. Angulo Ordorika, “Bajo la punta del tảng băng trôi: abusos de poder en la Iglesia”, op. trích dẫn, 208-212.
[32]. X. M. Wijlens, “Rompiendo la oscuridad: thinkaciones de Derecho Canónico sobre el abuso espiritual para los lãnheres de la Iglesia”, in D. Portillo Trevizo (ed.), Abusos y reparación…, op. cit., 67-92. Xem thêm I. Angulo Ordorika, “¿Abusos legislados en la vida consagrada?”, trong D. Portillo Trevizo (ed.), Teología y prevención…, op. cit., 139-158.
[33]. X. G. Cucci, “Introduzione”, op. cit., 15f; 25f.
[34]. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết: “Nơi nào có Thánh Thần, nơi đó luôn có sự vận động hướng tới sự hiệp nhất, nhưng không bao giờ hướng tới sự đồng nhất. Thánh Thần luôn bảo tồn tính đa dạng hợp pháp của các nhóm và quan điểm khác nhau, hòa giải chúng trong sự đa dạng của chúng. Do đó, nếu một nhóm hoặc một người khăng khăng rằng cách của họ là cách duy nhất để ‘đọc’ một dấu hiệu, thì đó sẽ là một dấu hiệu tiêu cực” (Francis, Ritorniamo a sognare. La strada verso un futuro migliore, Milan, Piemme, 2020, 75).
[35]. “Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng; vì ĐỨC CHÚA không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng” (Xh 20,7).
[36]. X. Phanxicô, Bài phát biểu trước các đại biểu tham dự Đại hội toàn thể của Liên hiệp các Bề trên Tổng quyền quốc tế, op. cit.
[37]. X. M. I. Franck, “Intentando reflexionar sobre la raíz espiritual del abuso de poder”, op. cit., 121-130.






