Mời bạn cùng tôi khám phá bức tranh “Những phép lạ của thánh I-nhã thành Loyola” do danh hoạ Peter Paul Rubens người Bỉ vẽ. Danh hoạ có mối liên hệ rất sâu sắc với Dòng Tên. Khi gia đình sinh sống tại Cologne (Đức quốc), mẹ của Rubens là bà Maria Pypelincks đã cho ông theo học tại một trường danh tiếng của Dòng Tên. Nền giáo dục nhân văn với tiếng Latinh tại đây đã giúp Rubens trang bị kiến thức uyên bác, nói thông thạo nhiều ngoại ngữ và có tư duy rất tốt và vững vàng.

"Những phép lạ của Thánh Inhã thành Loyola" - Bức tranh của Pieter-Paul Rubens (1577-1640), được vẽ vào khoảng năm 1617/18.
Tranh sơn dầu trên vải. Bảo tàng Kunsthistorische, Vienna (https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/fa/Peter_Paul_Rubens33.jpg)
Khi trở thành hoạ sĩ, Rubens cộng tác với Dòng Tên để thực hiện một số kiệt tác nghệ thuật. Rubens vẽ nhiều bức tranh nổi tiếng để tôn vinh các vị thánh của Dòng Tên, như Thánh I-nhã thành Loyola và Thánh Phanxicô Xaviê. Phong cách nghệ thuật Baroque của ông phản ánh hoàn hảo tinh thần chống lại phong trào cải cách của Tin Lành vào thời đó, mà Dòng Tên đề cao.
Rubens đã được chọn trang trí và vẽ một số tranh cho nhà thờ Dòng Tên ở Antwerp (nay là Nhà thờ Saint Charles Borromeo), và ông đã vẽ hai bức tranh cho nhà thờ để làm nổi bật tinh thần truyền giáo của Dòng Tên. Đó là bức "Những phép lạ của I-nhã thành Loyola" và bức tranh "Những phép lạ của Thánh Phanxicô Xaviê". Cả hai bức tranh này hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật ở Vienna, Áo Quốc.
Khi chiêm ngắm hai bức tranh này, người xem nhận ra được lòng nhiệt thành truyền giáo của Dòng Tên được hiển lộ qua thánh tổ phụ Dòng Tên là Thánh I-nhã và qua người bạn của ngài là Thánh Phanxicô Xaviê, được Giáo hội phong là quan thầy của các xứ truyền giáo.
Chúng ta chiêm ngắm bức tranh "Những phép lạ của Thánh Inhaxio thành Loyola" được Rubens vẽ vào khoảng năm 1617-1618, và nhận ra phong cách Baroque rất sống động và đầy kịch tính qua những hình tượng cơ bắp và cường độ cảm xúc. Tất cả hoà quyện vào và làm hiển lộ những đặc trưng tiêu biểu cho tài năng bậc thầy của Rubens trong trường phái này.
Với thời gian bức tranh này không chỉ trở thành kiệt tác của nghệ thuật Baroque, mà còn là một không gian đưa người xem đi vào trong chiều sâu của đời sống đức tin, đời sống tâm linh được biểu lộ qua quyền năng Thiên Chúa chữa lành và biến đổi nội tâm của con người, qua sự cộng tác khiêm tốn của nhân trần.
Qua ánh nhìn đầu tiên, ta nhận ra Rubens chia bức tranh thành hai thế giới đối lập rõ rệt nhưng kết nối chặt chẽ:
Thế giới của đất thấp đầy hỗn loạn với cảnh tượng của những người bị quỷ ám, người bệnh tật và đau khổ. Sự quằn quại của các cơ bắp, những khuôn mặt biến dạng vì đau đớn của các nhân vật, thể hiện sự trói buộc của tội lỗi, nỗi sợ hãi và bóng tối như đang làm chủ đời họ.
Thế giới từ trời cao tuôn tràn ân sủng được diễn tả qua cảnh: phía trên bục cao, Thánh I-nhã đứng uy nghiêm trong phẩm phục phụng vụ màu vàng rạng rỡ theo kiểu Baroque, và ngài như được tắm mình trong ánh sáng thiên đàng. Cạnh bên ngài là nhóm người đứng trên bậc thấp hơn mặc áo trùng thâm màu đen. Đó là anh em Giêsu hữu của ngài. Gương mặt Thánh I-nhã toả ra nét bình an sâu thẳm, quanh đầu ngài là ánh hào quang thánh thiện được toả ra, ánh mắt ngài hướng lên trời cao – nguồn cội của mọi quyền năng và ân sủng.
Qua hai thế giới đối lập này, ta nhận ra sứ điệp gì? Cuộc sống của kiếp người thường giống như phần dưới của bức tranh: đầy rẫy những lo âu, đau khổ, tổn thương, bất an với nhiều vấn đề từ trong và từ ngoài làm xáo trộn tâm hồn và đời sống. Để tìm lại sự bình an ta cần làm gì? Chúng ta cần học cách ngước nhìn lên trời cao như Thánh I-nhã, đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa, cố gắng và nỗ lực trong ân sủng Chúa để đạt tới cùng đích là bình an mà Chúa mời gọi và hứa ban, có như thế ta sẽ vượt qua những giông bão thế trần. Ở đây ta đọc được lời Thánh I-nhã: “Hãy cố gắng đạt tới cùng đích bạn được mời gọi với tất cả sức lực, vì Thiên Chúa đã ban cho bạn biết bao nhiêu trợ giúp và phương tiện để đạt tới đó” (365 Ngày Sống Linh Đạo I-nhã. Ngày 01.6).
Ánh nhìn thứ hai tập trung vào cánh tay phải giơ cao của Thánh I-nhã, cũng là tâm điểm của bức tranh. Rubens muốn nói với ta điều gì qua đôi bàn tay của Thánh I-nhã? Trong khi bàn tay trái của ngài nhẹ nhàng đặt trên bàn thờ - chính nơi ngài vừa cử hành Thánh lễ, bàn tay phải của thánh nhân giơ cao để được dẫn dắt bởi sức mạnh của Thánh Thần Chúa. Điều này có ý nghĩa gì? Đôi tay và hành động của Thánh I-nhã nhắc nhở chúng ta rằng ân sủng không chỉ ở lại trong không gian phụng vụ tĩnh lặng, mà từ bàn thờ, tình yêu và lòng thương xót của Chúa phải được tuôn đổ ra để xoa dịu những vết thương của con người trong thực tế cuộc đời. Tâm tình này tương hợp với phương châm nền tảng của linh đạo I-nhã: “Tất cả để cứu rỗi các linh hồn” và “Tất cả để vinh danh Thiên Chúa”.
Vì vậy, bàn tay phải giơ cao của thánh nhân trở nên “chiếc cầu nối” và “máng xối” đón nhận ân sủng từ trên cao và tiếp tục tuôn đổ xuống muôn người đang đau khổ. Đó là những người ở phần dưới của tranh: những thân thể quằn quại trong đau đớn, những khuôn mặt méo mó trong tuyệt vọng, những người bệnh, người bị quỷ ám và người sắp chết.
Hơn nữa, ánh sáng tràn xuống từ phía trên, nơi các thiên thần bay lượn, chiếu sáng Thánh I-nhã và gợi ý rằng những phép lạ có sức chữa lành bắt nguồn từ ân sủng thiêng liêng, chứ không chỉ là sức mạnh của con người.
Nói khác đi, Thánh I-nhã không tự chữa lành bằng quyền năng cá nhân và sức riêng của mình, mà ngài đóng vai trò là một máng xối ân sủng. Bàn tay ngài vừa hướng về Thiên Chúa để kín múc sức mạnh, vừa xua đuổi các thế lực gian tà ác độc đang dày vò con người trong biển khổ. Ta cũng nhận ra xung quanh thánh nhân, cảnh hỗn loạn và đau khổ nhường chỗ cho ánh sáng; tất cả mọi người đau khổ đang quằn quại trong bóng đêm ngước mắt hướng về trên cao, hướng về với ánh sáng có sức mạnh xua trừ bóng tối, giải thoát và chữa lành. Ta cũng thấy người như bị quỷ ám nằm trên sàn, miệng mở rộng đang la hét, nhưng đôi mắt mở to hướng về ánh sáng của trời cao, anh sẽ được Thiên Chúa giải thoát khỏi ách quỷ ám; rồi đám đông đau bệnh và đau khổ tụ lại bên cạnh, dù đau đớn quằn quại vì cơn bệnh tinh thần hay thể lý, tất cả đều hoà vào với người đàn ông đang quỳ chắp tay hướng về trời cao để khẩn cầu với Thiên Chúa, và chắc chắn Chúa sẽ đáp lời, như Thánh Vịnh gia diễn tả: “Chúa đã đoái nghe lời nguyện của người cùng khổ, và không khinh thường lời họ van xin” (Tv 102,18). Chắc chắn Chúa lắng nghe và đáp lời, tâm tình này còn được biểu lộ qua hình ảnh bà mẹ đang đứng bên phải ẵm đứa con trên tay mình, bà đang hướng về ánh sáng của trời cao với niềm hy vọng đón nhận ân sủng tràn đầy bình an Chúa ban.
Như thế, qua ánh nhìn thứ hai này ta nhận ra “phép lạ diễn ra trong phép lạ”, nghĩa là Thánh I-nhã đã được biến đổi bởi sự vâng phục Thiên Chúa của ngài, và từ đó qua ngài mà Chúa Kitô tiếp tục công việc chữa lành của Chúa trong thế giới, như Chúa đã chữa lành và biến đổi chính Thánh I-nhã. Ngoài ra, ta cũng nhận ra rằng Rubens không chỉ vẽ một cảnh tượng kỳ diệu, mà còn nêu bật bản chất của linh đạo I-nhã: mọi hành động của con người, khi được dâng hiến cho Chúa và để Chúa dẫn dắt soi sáng, đều trở thành một kênh ân sủng.
Tâm tình này liên tưởng đến những suy tư rất sâu lắng của Thánh I-nhã: “Bạn càng gắn kết với Thiên Chúa và hết lòng xả thân phụng sự Đấng Chí Thánh bao nhiêu, Thiên Chúa sẽ càng quảng đại với bạn bấy nhiêu” (365 Ngày Sống Linh Đạo I-nhã. Ngày 13.1).
Tóm lại, bức tranh mời gọi chúng ta nhớ rằng sự thánh thiện không tách biệt khỏi sự hỗn loạn của thế giới, mà hiện diện trong đó, nghĩa là sự thánh thiện mang ánh sáng vào sự hỗn độn của thế giới.
Mỗi người chúng ta, trong ơn gọi của mình, có thể trở thành dấu hiệu của lòng thương xót của Chúa nơi sự tuyệt vọng ngự trị. Giống như Thánh I-nhã, chúng ta được mời gọi để cho thánh ý của Chúa định hình những ước muốn của mình, nhờ vậy ta luôn tìm thấy Chúa “trong mọi sự”, và để làm việc sao cho vinh quang của Chúa tỏa sáng ngay cả trong những hành động yêu thương nhỏ bé nhất của ta.
Đứng trước bức tranh này, ta cũng cảm nhận được nhịp đập của một đức tin sống động - một đức tin không lùi bước trước sự đau khổ của thế giới, mà biến đổi nó.
Để kết, ta cùng thánh Inhã hướng về trời cao cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh,
xin ban cho con được nhận biết Chúa sâu xa hơn,
yêu mến Chúa nồng nàn hơn,
và theo Chúa sát gần hơn.
Con xin bước vào bức tranh này như một người đang hiện diện giữa đám đông.
Con nhìn thấy Thánh I-nhã đứng ở trung tâm. Không phải ngài là nguồn phép lạ, nhưng tất cả đều hướng về Thiên Chúa đang hành động qua người tôi tớ trung thành của Ngài. Chung quanh ngài là những người đau yếu, nghèo khổ, bị quỷ ám, đang giơ tay cầu cứu. Có người đã được chữa lành, có người vẫn còn đang chờ đợi.
Con cũng tự hỏi: Hôm nay con đứng ở đâu trong bức tranh?
Có phải con là người đang mang một vết thương mà không ai biết?
Là người đang kiệt sức trong đời sống gia đình, công việc hay đức tin?
Hay con là người chỉ đứng nhìn, ngạc nhiên trước quyền năng của Thiên Chúa nhưng chưa dám mở lòng để Ngài chạm đến?
Con nghe lời Chúa mời gọi: "Ơn chữa lành lớn nhất không chỉ là thân xác được khỏe mạnh, mà là trái tim được tự do để yêu mến Thiên Chúa."
Con nhìn lên ánh sáng từ trời cao đang chiếu xuống. Ánh sáng ấy nhắc con rằng mọi phép lạ đều bắt nguồn từ Thiên Chúa. Thánh I-nhã chỉ là khí cụ. Điều làm nên sự vĩ đại của ngài không phải quyền năng, mà là sự sẵn sàng để Chúa sử dụng.
Con tự hỏi:
- Có điều gì trong con đang cần được Chúa chữa lành?
- Điều gì đang làm con mất tự do để yêu và phục vụ?
- Con có đang tìm kiếm phép lạ theo ý mình hơn là tìm kiếm chính Thiên Chúa?
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh,
con nhớ lời Thánh I-nhã dạy rằng: con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, nhờ đó được cứu độ. Xin giúp con biết sử dụng mọi sự chỉ như phương thế dẫn đến Chúa, chứ không bám víu vào chúng.
Xin chữa lành nơi con:
- những nỗi sợ khiến con không dám tín thác;
- những tổn thương khiến con khép kín;
- tính kiêu ngạo khiến con muốn tự mình làm mọi sự;
- và sự nguội lạnh khiến con quên rằng Chúa vẫn đang hoạt động từng ngày.
Xin cũng cho con biết trở thành một khí cụ bình an như thánh Inhã:
- không tìm vinh quang cho mình,
- không tìm quyền lực,
- nhưng chỉ mong mọi người nhận ra tình yêu và lòng thương xót của Chúa.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh,
nếu hôm nay Chúa không cất khỏi con cây thập giá,
xin ban cho con sức mạnh để vác nó với niềm hy vọng.
Nếu Chúa không làm phép lạ như con mong đợi,
xin cho con nhận ra phép lạ lớn hơn là chính Chúa đang ở cùng con.
Xin dạy con biết tìm thấy Chúa trong mọi sự,
và tất cả để vinh danh Chúa mà thôi.
Lạy Chúa,
xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu,
và trọn cả ý muốn của con,
cùng hết thảy những gì con có,
và những gì thuộc về con.
Mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con,
lạy Chúa, con xin dâng lại Chúa hết thảy.
Tất cả là của Chúa,
xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa.
Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng Chúa.
Vì được như thế là đủ cho con. Amen.
Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế, S.J.
Mừng lễ Thánh I-nhã thành Loyola.
Nürnberg, ngày 31.7.2026.






