Để Kinh Lạy Cha trở nên hồn sống trong Mùa Chay

YouTube player

 

Mở đầu chúng ta cùng cầu xin Chúa:

 

Xin cho kinh Lạy Cha trở nên hồn sống thiêng liêng nuôi sống và hướng dẫn chúng con trong đời thường. Xin Chúa hướng tất cả mọi suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và hành động của chúng con về Thiên Chúa Ba Ngôi và tất cả để vinh Danh Chúa hơn.

 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu (Mt 6,7-15)

 

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”

 

Trở về và xây sựng đời mình trên cầu nguyện.

Thánh nữ Têrêsa Avila nói: “Nếu linh hồn không thể cầu nguyện, thì như người có thân xác hoặc tứ chi bại liệt” (Lâu Đài Nội Tâm I,11). Như thế, Cầu nguyện là điều nền tảng không thể thiếu trong đời sống Đức Tin và tâm linh.

Hơn nữa, các thánh giúp ta nhận ra ý nghĩa, tầm quan trọng và ích lợi của cầu nguyện. Thánh nữ Têrêsa Avila nói trong Tự Thuật: “Cầu nguyện là phương thế giúp chúng ta cải thiện cuộc đời” (Tự Thuật 8,5). Thánh Gioan Avila nhìn cầu nguyện như là “Phương dược tốt nhất giúp chúng ta tránh được cám dỗ và không phạm tội là cầu nguyện” (Die Leise Sprache Gottes – Audi, filia. 9. Kapitel), cũng như “Cầu nguyện là phương dược tuyệt hảo, để tháo cởi mọi nặng nề cho tâm hồn và chữa lành các căn bệnh tâm hồn” (Thánh Gioan Avila, Die Leise Sprache Gottes – Audi, filia. 17. Kapitel). Vì vậy, còn làm người và còn là con Chúa, cầu nguyện luôn có chỗ trong đời và trở nên hồn sống cho ta.

Cầu nguyện có nhiều phương cách, như khẩu nguyện qua việc đọc kinh cùng các lời xin ơn; hay cầu nguyện trong thinh lặng hoàn toàn theo kiểu tâm nguyện, ngồi bên Chúa và lòng mình kề lòng Chúa, chỉ vậy là đủ rồi; hoặc cầu nguyện chiêm niệm với Lời Chúa để qua đó Lời Chúa làm bật ra nhiều tia sáng hướng dẫn đời sống của ta.

 

Ngoài các phương thế con người chúng ta đưa ra, Chúa Giêsu dạy dỗ chúng ta cầu nguyện qua một lời kinh thật ngắn ngủi nhưng rất súc tích. Đó là kinh Lạy Cha. Trước hết Chúa dạy dỗ: Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời.  Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt 6,7-8).

 

Như vậy, khi cầu nguyện ta cần tránh khuynh hướng: thuyết phục Chúa làm theo ý của ta hay ta cố gắng thay đổi thánh ý của Chúa. Ngược lại, khi cầu nguyện ta phó dâng ý muốn của ta cho Chúa để Chúa định đoạt, và ngoan nguỳ vâng theo thánh ý của Thiên Chúa.

Vị ẩn sĩ cầu nguyện trong hoang mạc. Willem van Mieris (1662-1747). Được vẽ vào năm 1707. Tranh sơn dầu trên ván gỗ. Bộ sưu tập Leiden. Public Domain: https://commons.wikimedia.org/

 

Chiêm ngắm bức tranh của họa sĩ người Hà Lan Willem van Mieris (1662-1747) với tiêu đề Vị ẩn sĩ cầu nguyện trong hoang mạc” được vẽ vào năm 1707, ta thấy một ẩn sĩ cao niên với bộ râu dài, trên mình khoác áo choàng màu xanh lam và bên trong là chiếc áo nâu. Ông ngồi trong một hang đá tĩnh lặng và đang chìm mình trong cầu nguyện.

 

Phía sau là núi non hùng vĩ với nhiều loại cây cối hoà lại làm nên khung cảnh thiên nhiên thanh thoát nghẹ nhàng và sâu lắng. Vị ẩn sĩ ngồi bên phiến đá gồ ghề. Trên phiến đá là hai cuốn sách Thánh Kinh, một cuốn đóng và một cuốn mở, cùng chiếc sọ người nhắc nhở về sự trôi qua rất nhanh của thời gian và đời người là kiếp phù du, chẳng mấy chốc sẽ qua đi.  Cây Thánh Giá trước mặt ông gọi mời phận người một đàng tỉnh thức khôn ngoan chú tâm hướng lòng về Chúa Giêsu, Đấng Yêu Thương, đàng khác không bám vào phù phiếm trần gian mà chỉ lo toan những gì thuộc về thượng giới, đặc biệt là ơn cứu rỗi cho linh hồn mình.

 

Vị ẩn ghiêng người về phía trước, tay chắp lại trong bầu khí tĩnh lặng và cầu nguyện. Ánh sáng chiếu từ phía trên bên trái làm nổi bật hơn dung mạo của ông với bộ râu rậm và bạc trong bóng tối của hang động, tạo nên những điểm sáng lấp lánh nhỏ trên tượng Chúa chịu nạn trên cây thánh giá bằng gỗ.

 

Ánh mắt vị ẩn sĩ nhẹ nhàng nhìn vào các trang sách Thánh Kinh đang mở, mí mắt cụp xuống, như thể ông đang chìm sâu vào Lời của Chúa. Ông cầu nguyện với Lời Chúa và lắng nghe khôgn chỉ bằng đôi mắt mà bằng cả trái tim và trí hiểu. Đó là một cảnh tượng chiêm nghiệm rất đẹp.

Tâm tình của ông gợi nhớ lời của thánh Giêrônimô (ca. 347-420), cũng là một vị ẩn sĩ say mê Thánh Kinh. Ngài nói: “Con hãy yêu mến Thánh Kinh thì đức khôn ngoan sẽ yêu thích con; hãy mến yêu Thánh Kinh một cách dịu dàng thì Thánh Kinh sẽ bảo vệ con; hãy tôn  kính Thánh Kinh thì con sẽ được Thánh Kinh chăm sóc. Chớ gì đối với con Thánh Kinh như là vòng kiềng của con và bông tai của con”“Nếu con đang cầu nguyện là con đang nói chuyện với vị Lang Quân; nếu con đang đọc thì chính Người đang nói với con” (Thánh Giêrônimô. Trong bài Giáo Lý về thánh Giêrônimô của Đức Benedicto XVI.).

 

Chiêm ngắm vị ẩn sĩ, lòng khao khát và tĩnh lặng trong tâm hồn ta được khơi gợi lên. Chúng ta muốn cầu nguyện như ông, trong tĩnh lặng, hoàn toàn tập trung, không bị xao nhãng và chia trí. Chúng ta muốn mình luôn ý thức về kiếp phù du của đời người, để rồi không bám vào các điều phù phiếm, mà liên lỷ ý thức luôn hướng về Chúa Giêsu chịu chết chên Thánh Giá để cứu độ chúng ta. Điều có lẽ ta được mời gọi mạnh mẽ nhất, chạy đến với Lời Chúa và chìm sâu trong cầu nguyện chiêm niệm với Lời Chúa, vì Lời Chúa là ánh sáng soi đường chúng ta đi. Cụ thể, chúng ta cùng để Lời Kinh Lạy Cha là Lời Chúa Giêsu dạy thấm vào lòng chúng ta.

 

Lời kinh Chúa dạy.

 

Kinh Lạy Cha bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu. Vì thế, kinh Lạy Cha được gọi là “Oratio Domini – Lời kinh Chúa dạy”. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo viết: “Một đàng qua những lời kinh này, Con Một Thiên Chúa quả thật ban cho chúng ta những lời mà Chúa Cha đã ban cho Người: Người là Thầy dạy chúng ta cầu nguyện. Đàng khác, là Ngôi Lời nhập thể, nên trong trái tim nhân loại của Người, Người biết rõ nhu cầu của những anh chị em loài người của Người, và Người bày tỏ những nhu cầu đó cho chúng ta: Người là mẫu mực của việc cầu nguyện của chúng ta” (Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2765). Qua đó, ta nhận ra rằng, Chúa Giêsu ban cho chúng ta một trong những món quà tuyệt vời nhất: Kinh Lạy Cha. Ngài đối lập kinh Lạy Cha với kinh cầu nguyện của người ngoại đạo, mà Ngài cho là lời nói lảm nhảm, nhiều từ ngữ.

 

Ngoài ra, kinh Lạy Cha còn được Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo gọi là “Lời Kinh của Hội Thánh – Oratio Ecclesiae” (Số 2767).

 

Trong dòng thời gian, tầm mức quan trọng của kinh Lạy Cha càng ngày càng được nâng cao. Theo Giáo phụ Tertulian sống trong thế kỷ thứ 2 và thứ 3 (155-240, tcn), thì Kinh Lạy Cha như là bản tóm tắt toàn bộ giáo lý đức tin và luân lý, cũng như tóm tắt toàn bộ Tin Mừng của Đức Kitô. Còn với thánh Tôma Aquinô thì: “Lời kinh Chúa dạy là lời cầu nguyện tuyệt hảo…Nhưng trong lời kinh đó, không những chúng ta cầu xin những điều chúng ta có thể ước ao cách chính đáng, mà còn theo một trật tự những điều ao ước nữa: như vậy, lời kinh này không những dạy chúng ta cầu xin, mà còn huấn luyện toàn thể tâm tình của chúng ta” (Trích trong “Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo”, số 2763).

Và đối với thánh Têrêsa Hài Đồng thì: “Đôi lúc, khi tâm hồn tôi khô khan tột cùng đến nỗi tôi không tìm đâu ra một tâm tình hay suy nghĩ nhỏ bé nào giúp tôi kết hiệp với Thiên Chúa nhân lành, thì tôi liền nhẩm đi nhắc lại lời kinh Lạy Cha và kinh Truyền Tin. Chính những lời kinh này đã đưa lại cho tôi niềm vui, và nuôi dưỡng linh hồn tôi với những “thức ăn” thiêng liêng bổ ích” (X. MARTINI trích dẫn trong Ne méprisez pas la Parole, Bayard, Paris 2007, t.11).

 

Kinh Lạy Cha được hai thánh sử Mátthêu và Luca viết lại. Ngoài ra, trong “giáo huấn của các tông đồ – Didache, kinh Lạy Cha cũng được trích dẫn và bản văn này rất gần với bản văn của Mátthêu. Lời kinh Lạy Cha mà Giáo Hội dùng và chúng ta thường cầu nguyện mỗi ngày là bản văn của Tin Mừng Mátthêu.

 

Đọc kỹ lưỡng kinh Lạy Cha, ta nhận ra có lời mở đầu và 7 lời cầu xin. Mỗi lời cầu xin rất ngắn gọn ít từ ngữ, nhưng lại rất sâu sắc. Ba lời cầu xin đầu tiên quy về những điều của Thiên Chúa trong tương quan với thế giới này, và bốn lời cầu xin sau diễn tả những niềm hy vọng, những nhu cầu và những khó khăn của chúng ta.

 

Trong tinh thần sống Mùa Chay, Kinh Lạy Cha có thể là bài tập thiêng liêng rất tốt cho chúng ta, giúp ta đi sâu vào trong cầu nguyện, chiêm niệm từng lời Chúa dạy, qua đó rất nhiều điều tinh tế sẽ được bật ra trong bầu khí thinh lặng và trong trái tim sâu thẳm của chúng ta. Nhưng chúng ta nên cầu nguyện với kinh Lạy Cha như thế nào cho tốt?

 

Một cách thức cầu nguyện kinh Lạy Cha của thánh Inhã.

 

Thánh Inhã chú ý rất nhiều đến kinh Lạy Cha, vì đây là lời kinh do chính Chúa Giêsu dạy, chứa đựng cốt lõi của tương quan con thảo với Thiên Chúa Cha và là mẫu mực cầu nguyện hoàn hảo. Kinh Lạy Cha giúp nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng, hướng tới đời sống kết hiệp mật thiết với Chúa, và giúp cân bằng giữa nhu cầu vật chất lẫn tâm linh của con cái Chúa.

 

Trong sách Linh Thao, thánh Inhã đưa ra ba cách cầu nguyện. Cách cầu nguyện thứ hai với tiêu đề “Chiêm niệm ý nghĩa của từng lời kinh” và ngài đưa ra phương pháp và lấy kinh Lạy Cha là ví dụ điển hình: “Quỳ hay ngồi, tùy tư thế nào hợp với ta hơn và giúp sốt sắng hơn, nhắm mắt lại hay nhìn chăm chú vào một điểm nào, không để mắt liếc nhìn chỗ này hay chỗ nọ, rồi đọc `Lạy Cha´, và ngừng lại suy xét lời đó bao lâu ta còn thấy những ý nghĩa, những sự so sánh, ý vị và an ủi khi suy xét về lời đó. Làm tương tự với từng lời trong kinh Lạy Cha hay kinh nào khác mà ta muốn nguyện theo thể thức đó” (LT số 252).

 

Như thế, thánh Inhã đưa ra phương pháp “Cầu nguyện chiêm niệm”. Chủ đề của việc chiêm niệm là ý nghĩa của từng từ hay từng câu của lời kinh Lạy Cha hoặc một kinh khác. Nhưng trước khi bước vào chiêm niệm ta cần để cho tâm trí mình được nghỉ ngơi, bằng cách ngồi nghỉ hay đi tản bộ, tùy theo người cầu nguyện thấy điều gì tốt cho mình. Sau đó, khi tâm hồn thanh thản và đã tỉnh táo người cầu nguyện chọn cho mình tư thế thích hợp, như quỳ, đứng, ngồi… Ở đây ta cần chú ý, ta không thể chọn tư thế cầu nguyện vì muốn hãm mình, nhưng chọn tư thế nào đó vì nó giúp ta dễ tập trung và sốt sắng hơn trong giờ cầu nguyện.

 

Ngoài ra, thánh Inhã mời gọi “nên nhắm mắt hoặc chăm chú nhìn vào một điểm nào, không để mắt liếc nhìn chỗ này hay chỗ nọ, nghĩa là cần tránh điều gì khiến ta xao nhãng và chia tâm chia trí. Lời khuyên của thánh Inhã rất hữu ích cho ta trong lối sống hôm nay, vì quanh ta luôn có nhiều điều bắt ta chú ý, nhất là trong thời đại của Internet và truyền thông, cũng như trong xã hội sống vội có quá nhiều lo lắng xoay vần quanh ta.

 

Khi bắt đầu cầu nguyện với kinh Lạy Cha, thánh Inhã không đề nghị các tiền nguyện, mà chỉ đưa ra một lời nguyện dọn lòng sẽ được làm cho phù hợp với Đấng mà lời kinh hướng tới. Nguyên văn như sau: “Kinh dọn lòng được thích ứng cho phù hợp với Ðấng mà ta cầu nguyện” (LT số 251).

 

Như đã nói ở trên, chủ đề của bài chiêm niệm là ý nghĩa của từng từ hay từng câu của lời kinh. Nhưng để được như vậy, thánh Inhã đưa ra các điểm dựa trên các động từ:

 

1) Suy xét: nghĩa là ta dùng trí hiểu để làm bật ra ý nghĩa của từ hay câu kinh.

2) So sánh: để làm nổi bật ý nghĩa sâu xa của từ hay của câu trong lời kinh.

3) Ý vị: nếm hưởng hay nếm cảm ý nghĩa tinh tế và sâu sắc của từ ngữ hay của câu trong kinh.

4) An ủi: nhận ra và mở lòng đón nhận sự an ủi của Chúa qua từng chữ từng câu của lời kinh.

 

Như thế, thánh Inhã tránh lối mòn “chỉ dùng trí hiểu” để cầu nguyện với kinh Lạy Cha, mà ngài mời gọi ta hoà điệu và kết hiệp trí hiểu, trí nhớ và cảm xúc của tâm hồn trong phương pháp cầu nguyện với kinh Lạy Cha cùng các lời kinh khác.

 

Giờ chiêm niệm với kinh Lạy Cha kéo dài khoảng một tiếng, và nếu cần có thể lặp lại. Ngoài ra, khi kết thúc giờ chiêm niệm, thánh Inhã mời gọi dâng ít lời nài xin những nhân đức hay ân sủng mà người cầu nguyện thấy mình cần hơn. Nguyên văn ngài viết như sau: “Cầu nguyện như vậy xong, ta hướng về Ðấng mà ta đã cầu nguyện, và bằng một vài lời vắn tắt, xin những nhân đức hay những ơn ta cảm thấy cần đến nhiều hơn” (LT số 257).

 

Như vậy, khi xin Chúa ban ân sủng hay nhân đức nào đó, nghĩa là người cầu nguyện nhận ra sự thiếu thốn nơi mình, dù sống đời chiêm niệm cao, người cầu nguyện vẫn nhận ra mình vẫn luôn hèn yếu, mình cần có thêm nhân đức và ân sủng của Chúa, cần được Chúa trợ giúp thêm. Nói cách khác, dù thế nào nữa, thì cành nho luôn cần đến năng lượng từ thân cây nho mới hiện hữu và sinh hoa kết trái được.

Cuối cùng, hoa trái của việc cầu nguyện chiêm niệm với kinh Lạy Cha đến từ chính Chúa. Ngài là tác nhân chính, Ngài thông truyền chính Ngài và thánh ý của Ngài, Ngài xếp đặt và hoạt động, và Ngài ấp ủ người cầu nguyện trong tình yêu của Ngài (x. LT số 15). (Tham khảo William A.M. Peters. Bình Giải Linh Thao. T.286-294).

 

Nhẩm đi nhắc lại, suy gẫm và để Lời Chúa thấm đẫm.

 

Trong mùa Chay này, chúng ta dùng phương pháp của thánh Inhã để cầu nguyện với lời Kinh Lạy Cha. Cụ thể, mỗi ngày ta chỉ cầu nguyện với một lời của kinh Lạy Cha với các gợi ý của từng lời, trong đó các câu hỏi sẽ giúp ta phản tỉnh và đi sâu vào ý nghĩa của từng lời hoà quyện với kinh nghiệm sống của ta:

 

  • Lạy Cha chúng con ở trên trời.

 

Cách thức cầu nguyện của Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là Abba  thật là mới mẻ. Đó cũng là cách thức của một em bé dùng để kêu chính cha đẻ của mình, một cách thức xưng hô rất thân thương và chất chứa niềm tin tưởng mạnh mẽ.

Rất nhiều lần và thường xuyên bạn đã cầu nguyện lời đầu tiên của kinh Lạy Cha, có khi nào bạn đã dừng lại để chiêm niệm, “nhai đi nhai lại” bảy chữ của lời đầu tiên này? Hôm nay, thật chậm rãi và dành giờ cho Chúa, bạn nhẩm đi nhắc lại lời đầu tiên này, và hãy để Chúa nói với bạn điều gì đó qua bảy chữ ngắn ngủi trên!

 

Còn cha Henri Nouwen, khi cầu nguyện với hai chữ “Lạy Cha”, ngài đã cảm nhận được chiều sâu tương quan thân mật với Cha trên trời: “Gọi Thiên Chúa “Abba” là bước vào trong một tương quan thân mật và không sợ hãi, đầy tin tưởng và phó thác với Thiên Chúa như Chúa Giê-su vậy…Gọi Thiên Chúa “Abba, Cha ơi” (Rm 8,15; Gl 4,6) là một tiếng kêu từ con tim, một lời cầu nguyện tràn ra từ tận đáy lòng của con người” (Nouwen H., The only necessary thing, The Crossroad Publishing Company,New York 1999, t.59).

 

Thánh Têrêsa Avila, trong cuốn Đường hoàn thiện, ở phần dẫn nhập vào những từ ngữ đầu tiên của kinh Lạy Cha, đã thốt lên những tâm tình sau: “Lạy Cha chúng con ở trên trời !…Ô ! thật là chính đáng khi linh hồn bước vào trong cõi thâm sâu của mình. Linh hồn có thể vươn lên trên chính mình, và lắng nghe lời của Chúa Con chỉ cho thấy nơi mà chính Cha của linh hồn đang cư ngụ, Cha đang ngự ở trên trời” (Therese d´ Avila, Le chemin de perfection, Les édition du Cerf, Paris 1981, p.124).

 

  • Chúng con nguyện danh Cha cả sáng!

 

Khi chúng ta cầu nguyện “xin làm cho danh Cha được cả sáng, được vinh hiển”, là chúng ta đang ao ước tất cả mọi người trên thế giới này đều khám phá được Thiên Chúa, Đấng là Cha trên trời và cũng là Cha dưới đất, người Cha nhân từ, người Cha luôn đứng chờ con ở cửa nhà, và vui mừng hớn hở khi thấy con đi hoang trở về. Với lời cầu nguyện trên, ta ý thức rằng tác giả đầu tiên làm cho danh Cha cả sáng là chính Cha trên trời, sau đó là Chúa Giêsu và tiếp đến Chúa Cha và Chúa Con trong Thần Khí cho phép chúng ta được cộng tác làm cho danh Cha cả sáng.

Còn bạn thì sao? Bạn đã có lòng khao khát muốn mọi người biết đến Cha trên trời? Bạn đã cộng tác với Chúa như thế nào, để cao rao Danh Thánh của Thiên Chúa trong môi trường xung quanh?

 

Thánh Phêrô Kim Ngôn cũng đã chia sẻ điều này: “Chúng ta cầu xin Thiên Chúa thánh hoá Danh Ngài, nghĩa là Ngài cứu độ và thánh hoá toàn thể tạo vật bằng sự thánh thiện của Ngài. Danh đó là Danh ban ơn cứu độ cho trần gian đã hư mất. Nhưng chúng ta cầu xin để Danh Thiên Chúa được thánh hoá trong chúng ta bằng hành động của chúng ta. Bởi vì nếu chúng ta sống tốt lành, thì Danh Thiên Chúa được chúc tụng; nếu chúng ta sống tệ hại, thì Danh Ngài bị phỉ báng. Hãy nghe lời thánh Tông Đồ: ‘Chính vì các người mà Danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân’ (Rm 2, 24). Vì vậy, chúng ta cầu xin để Danh Thiên Chúa là thánh bao nhiêu, thì chúng ta sống xứng đáng với sự thánh thiện của Ngài bấy nhiêu” (Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2814).

 

  • Nước Cha trị đến.

 

Nước Cha hoặc nước Thiên Chúa là gì? Đó là câu hỏi không dễ dàng để trả lời. Dưới đây là hai suy tư giúp trả lời cho câu hỏi trên.

 

Trước hết, học giả Thánh Kinh là Đức Cố Hồng Y Martini nói: “Vương Quốc Thiên Chúa chính là Chúa Giê-su, là chính cuộc sống của Ngài, một đời sống yêu thương và sẵn sàng chịu khổ đau” (Martini C.M., Ne méprisez pas la Parole, t.165). Cũng thế, thánh Cyprianô đã nói: “Có thể nói, Nước Thiên Chúa là chính Đức Kitô, Đấng chúng ta hằng ngày khát khao Người đến, và chúng ta mong mỏi việc Người ngự đến mau mau được tỏ hiện cho chúng ta” (Trích trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2816). Như vậy, lời cầu xin này cũng chính là lời cầu xin của chúng ta. Và phải chăng khi cầu xin như vậy, là chúng ta cũng đang cầu xin cho được trở nên giống như Đức Kitô, cầu xin cho được “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

 

Vậy bạn và tôi có lòng khao khát Chúa Giêsu như thế nào? Ta đã và dành thời gian chú tâm tìm hiểu và đào sâu dung mạo của Chúa Giêsu qua học hỏi, cầu nguyện và tập sống giống Chúa ra sao? Có tập sách về Chúa Giêsu mà ta đang đọc? Trên hết Chúa Giêsu có đang sống trong chúng ta không?

 

Ý tưởng thứ hai với linh mục Dòng Tên người Đức – Alfred Delp, khi cha viết bài suy niệm kinh Lạy Cha trong nhà tù của phátxít Đức, đã nói rằng: “Khi con người ở trong ân sủng của Thiên Chúa, khi thế giới ở trong trật tự của Thiên Chúa: Đó là Nước Trời” (Delp A., Gesammelte Schriften, Band IV, 2. Auflage, Knecht Verlag, Frankfurt am Main 1985, t.231).

Như vậy, nước Thiên Chúa không chỉ là nơi cao xa mà còn đang hiện diện ở giữa lòng thế giời này, khi thế giới tuân theo trật tự của Thiên Chúa và sống theo thánh ý của Ngài, cũng như khi con người đồng ý đón nhận ân sủng Chúa ban và sống trong ân sủng của Người. Như thế, triều đại của Thiên Chúa luôn hiện diện trong tình yêu và với tình yêu.

Dừng bước phản tỉnh, cuộc sống của bạn có trật tự không? Cuộc sống của bạn được sắp xếp dựa trên nền tảng và tiêu chí nào? Nước Thiên Chúa với hương vị của yêu thương và hài hoà trật tự trong ân sủng của Chúa có toả ra trong cuộc sống của bạn như thế nào? Mời bạn dành thời gian để nhìn lại, suy xét và xin Chúa giúp bạn sắp xếp lại cuộc sống của bạn có hương thơm của Nước Thiên Chúa.

 

  • Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

 

Thánh ý Cha là gì cụ thể? Từ thời giáo hội tiên khởi cho đến hôm nay và trong mọi linh đạo của các thánh và các dòng tu, câu hỏi trên đều là vấn nạn quan trọng và nền tảng, như là tiêu chí để đo lường cuộc sống tâm linh. Từng bước ta cùng khám phá.

 

(a) Trước hết, ta chân nhận rằng, thánh ý của Chúa được thể hiện qua chính cuộc sống của từng người Chúa tạo dựng, nghĩa là bạn và tôi đang sống và hiện diện trên trái đất này là do thánh ý của Thiên Chúa. Nói một cách đơn sơ, chúng ta cảm nhận Chúa nói với từng người: “THẬT TỐT, KHI CÓ MẶT CON TRÊN TRÁI ĐẤT!” Thần học gia Dòng Tên người Đức Medard Kehl đã thốt lên rằng: “Tôi biết ơn Thiên Chúa trong phẩm giá của tôi, một phẩm giá làm người độc nhất vô nhị, phẩm giá làm người duy nhất. Tôi cũng cám ơn Thiên Chúa trong những giới hạn của tôi, và trong cả những khả thể của tự do tôi” (Kehl M., Und Gott sah, dass es gut war, t.76).

Như vậy, phẩm giá con người mang trong mình như diễn tả tình yêu đặc biệt của Thiên Chúa đối với con người. Ở đây, chúng ta có thể để lời Chúa dịu dàng nói với chúng ta qua tiên tri Isaia: “Trước mắt Cha, con thật là quý giá, vốn được Cha trân trọng và mến thương”. (Is 43, 4). Vâng, trong tình yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta: “Hãy xem, Ta đã ghi khắc tên ngươi trong lòng bàn tay Ta” (Is 49, 16).

Bạn đã và đang ý thức về phẩm giá cao quý của chính bạn như thế nào? Trước Thiên Chúa bạn đã sống lòng biết ơn Chúa ra sao, khi nhờ thánh ý của Chúa mà bạn có mặt trên trái đất này?

 

(b) Lời xin vâng của Thiên Chúa giành cho con người từ ngày đầu tiên vẫn không thay đổi, dù cho con người tội lỗi đến mấy. Như vậy, tình yêu đã thúc đẩy Thiên Chúa tiếp tục thực hiện ý muốn thánh thiện dành cho con người chúng ta, như trong Tin Mừng viết: “Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất”. (Mt 18, 14).

Vì thế, mà Thiên Chúa cần phải ra tay. Cụ thể, Thiên Chúa đã sai phái người con duy nhất của Ngài xuống trần gian, trở nên người như muôn người. Theo ngôn từ của Thánh Inhã, thì: “Ở đây là Ba Ngôi Thiên Chúa đang nhìn xem khắp mặt địa cầu đầy người; vì thấy mọi người đang sa xuống hỏa ngục, Ba Ngôi quyết định trong sự vĩnh hằng của mình rằng Ngôi Hai sẽ làm Người để cứu chuộc nhân loại” (Linh Thao, số 102). Ý tưởng này của Thánh Inhã nằm trong bài cầu nguyện về “mầu nhiệm nhập thể”. Thánh Inhã mời gọi người cầu nguyện, chiêm ngưỡng và chiêm niệm công trình nhập thể của Đức Kitô, Đấng cần phải đến theo thánh ý Thiên Chúa, để cứu độ muôn người.

Trong cả hành trình dương thế, Chúa Giêsu đã nỗ lực hy sinh trong tình yêu, đến nỗi Ngài đón nhận mọi đau khổ và cái chết thê lương trên Thánh Giá. Tất cả để mỗi phận người chúng ta không bị diệt vong. Là mục tử nhân lành, Chúa đã sống tâm tình: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28). Đó cũng chính là thánh ý Cha trên trời.

Bạn ý thức về ơn cứu độ Chúa Giêsu dành cho bạn qua cuộc thương khó và phục sinh của Chúa như thế nào? Hay bạn sống xoay vần với cơm áo gạo tiền mà chẳng màng đến ơn cứu độ của chính bạn và cũng chẳng cần để mắt đến Chúa Giêsu?

 

(c). Thánh ý của Cha được Chúa Giêsu rao giảng như là một điều cần thiết cho những ai muốn bước vào nước Trời: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7, 21). Như vậy, Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho chúng ta biết rằng, khi thánh ý của Cha được thực hiện, thì Nước Trời cũng được hiện diện, và con người có thể bước vào và sống trong Nước Trời. Điều này liên hệ đến toàn bộ cuộc sống của con người, “đụng” tới suy nghĩ, hành động và cách sống của con người.

Vậy, rà soát lại toàn bộ cuộc sống của mình, thánh ý của Chúa có trở nên hồn sống trong ta chưa? Có bao giờ ta hỏi Chúa: “Chúa ơi, nếu Chúa ở trong trường hợp của con, Chúa sẽ nghĩ gì và làm gì? Xin cho con biết sống theo thánh ý của Chúa!”

Hơn nữa, chúng ta để lời của Giáo Phụ Grégoire de Nysse nhắc nhở chúng ta: “khi ra khỏi thánh ý của Thiên Chúa, linh hồn sẽ bị chôn vùi trong tội lỗi, và chính tội lỗi này dẫn linh hồn đến sự chết” (X. Grégoire de Nysse, Homélie 4, trong « Adalbert G. Hamman, Le notre Pére dans l’église ancienne », t.94).

 

  • Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày.

 

Lời cầu nguyện này đưa lại hai ý hướng:

 

(a) “Xin Cha cho chúng con”. Đó là lời kinh ở số nhiều. Điều này có ý nghĩa gì ? Điều đó muốn dạy ta phải cầu nguyện chung với những người thiếu thốn lương thực hằng ngày, cũng như phải cầu nguyện cho những người ấy. Đừng quên rằng phân nửa thế giới ở trong tình trạng kém dinh dưỡng.

Trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo có viết: “Nhưng sự tồn tại của những người đang đói cơm bánh cho thấy một chiều sâu khác của lời cầu xin này. Thảm kịch đói khát trên thế giới mời gọi các Kitô hữu đang cầu nguyện trong chân lý, phải có trách nhiệm hữu hiệu đối với các an hem, trong cách hành động cá nhân của họ cũng như trong sự liên đới của họ với gia đình nhân loại. Lời cầu xin này trong kinh Lạy Cha không được tách biệt với các dụ ngôn anh Lazarô nghèo khó (X. Lc 16, 19-31) và cuộc phán xét chung (Mt 25, 31-46)” (Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2831).

Hơn nữa, theo học giả Thánh Kinh Ulrich Luz, lời kinh này cũng liên hệ đến mối phúc đầu tiên trong các mối phúc: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó (Mt 5,3a). Điều này diễn tả sự quan tâm đặc biệt của Chúa, sự gần gũi và tình yêu của Ngài đối với con cái của Ngài, những người con luôn thiếu những nhu cầu cần thiết nhất để sống và tồn tại (LUZ U., Das Evangelium nach Mattheus, 1.Band, t.351). Như vậy, lời kinh Lạy Cha ở đây dạy chúng ta chỉ xin lương thực đủ cho cuộc sống thường ngày, để khuyên chúng ta ngày ngày hãy sống trong vòng tay Chúa. Lời kinh này cũng thúc giục chúng ta đừng có tích trữ, bởi vì phần thặng dư là phần của người túng thiếu. Là khách lữ hành trong cuộc vượt qua mới, chúng ta phải có tâm hồn nghèo khó, tìm kiếm Nước Chúa trên hết, không quá lo tới ngày mai (HAMMAN Adalbert G., Abrégé de la prière chrétienne, t.60).

Mỗi lần đọc lời cầu nguyện trên, bạn có bị nhột không? Bạn đang chú ý làm giàu và gom góp của cải vật chất thật nhiều theo khuynh hương tham lam của con người hay bạn và tôi thật sự cầu xin Chúa cho mình có lương thực đủ dùng? Trong thế giới tiêu thụ và vật chất đầy ứ, ta đang chạy theo cách sống “tiêu dùng phô trương” (conspicuous consumption), nghĩa là đề cao việc mua sắm và sở hữu hàng hóa như một cách để tìm kiếm hạnh phúc và khẳng định vị thế cá nhân. Trong môi trường này, hàng hóa không chỉ đơn thuần để phục vụ nhu cầu mà còn trở thành biểu tượng của sự thành đạt và bản sắc riêng. Ngoài ra, phản tỉnh ta cũng tự hỏi, ta có đắm mình trong nhịp sống “săn sale”, “canh giờ vàng”, đến nỗi sẵn sàng thức khua hoặc dành nhiều giờ trong ngày để chờ đợi các khung giờ giảm giá sốc (như lúc 0h00) trên mạng Internet, và rồi ta trở thành “con nghiện săn sale”. Và rồi bao nhiêu cái tủ trong nhà và trong mọi góc nhà đều có đồ đạc sale đã “săn” và chưa bao giờ mở ra dùng lần nào. Trong khi đó bao người đói khổ vẫn sống kiếp đau khổ và đói rách.

 

(b) Người ta không chỉ sống nhờ cơm bánh. Đó là điều Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan muốn nói, trong bài giáo lý tiếp theo sau trình thuật bánh hoá nhiều. Đức Giêsu đến không phải để làm một việc phụ trội, nhưng để đáp lại những tiếng gọi rất sâu xa. ‘Cái hơn ấy ở trong chính bản thân anh’. Bánh hoá nhiều, phép lạ ấy phải làm ta nhận ra nơi mình còn có một nguyện vọng cao hơn nữa, một sự đói khát mà chỉ mình Chúa mới có thể thoả mãn được khi ta được ở với Người trong Nước Trời (Hamman Adalbert G., Abrégé de la prière chrétienne, t.61).

“Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6,26-27). Với lời này, Chúa Giêsu muốn kéo những con người nông cạn, chỉ tìm cơm bánh vật chất, đi vào nhu cầu nội tâm thiết yếu hơn của đời người.

Đối với giáo phụ Tertulian, khi cầu xin tấm bánh hằng ngày là chúng ta cầu nguyện được liên lỉ sống với Chúa Kitô, và được trở nên một với thân thể của Ngài (Hamman Adalbert G., Le notre Pére dans l’église ancienne, t.33).

Thánh giáo phụ Ambrôsiô xác tín Chúa Kitô là nguồn lương thực chính yếu: “Lương thực của tôi không đến từ hồng phúc của các cơn mưa, cũng không đến từ hoa trái của trái đất, và cũng chẳng đến từ cây cối. Tôi cũng không đi kín múc nước uống của tôi từ những dòng sông hay các nguồn mạch. Chúa Kitô chính là lương thực của tôi. Chúa Kitô chính là nước uống của tôi. Để no thỏa cuộc sống, tôi không cần chờ đến thời gian thu hoạch của năm. Chúa Kitô làm tôi no thỏa mỗi ngày qua Bánh của Chúa ban” (Thánh Ambrosius von Mailand. Damit meine Freude in euch ist. Verlag Butzon & Becker. Kevelaer 1987. S.17).

Còn thánh Têrêsa thành Avila, khi suy niệm lời cầu nguyện này của kinh Lạy Cha, ngài khuyên chúng ta cần chú ý cầu xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ thiếu Chúa, và cũng xin Chúa giúp chúng ta có được một lòng khát khao để đón nhận Ngài cách xứng đáng (Thérèse d´ Avila, Le chemin de perfection, Les édition du Cerf, Paris 1981, p. 156).

 

Chúa Thánh Thể là nguồn lương thực nuôi sống linh hồn ta và mỗi lần ta đón nhận Chúa Thánh Thể vào lòng là ta được kết hiệp mật thiết với Chúa. Đó là khoảnh khắc của thiên đàng dưới thế. Vậy bạn và tôi đến với Chúa Thánh Thể như thế nào? Ta yêu mến Chúa Thánh Thể ra sao? Ta có giờ để chạy đến ngồi chầu bên Chúa Thánh Thể?

 

  • Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ với chúng con.

Nếu đọc kỹ từng lời cầu nguyện trong kinh Lạy Cha, sẽ nhận ra được nét đặc biệt trong lời cầu nguyện về tinh thần tha thứ. Đó là, chỉ trong lời cầu nguyện này có một yếu tố “thêm vào”, đó là hành động của con người: “Như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con”. Còn trong các lời cầu nguyện khác chỉ nói về hành động của Thiên Chúa. Vì thế, có thể nói rằng, sự tha thứ của Thiên Chúa luôn gắn liền với sự tha thứ của con người.

Điều này được diễn tả sống động trong dụ ngôn “Tên đầy tớ mắc nợ không biết thương xót” (Mt 18, 23tt). Ý tưởng quan trọng của dụ ngôn này được diễn tả qua câu nói của vị vua trong câu chuyện: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18, 32-33). Câu nói của vị vua nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của tinh thần tha thứ trong đời sống đức tin, cụ thể trong tương quan của người Kitô hữu với Chúa và với người khác.

Ngoài ra, Chúa Giêsu dạy dỗ: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6,14-15). Như vậy, tha thứ cho anh chị em đồng loại là một đòi hỏi giành cho những ai sống đời sống đức tin vào Chúa. Chính sự đòi hỏi này cũng là một lời cảnh báo, đừng bao giờ để cho những tự ái, những căng thẳng, những vết thương, sự thù hận và sự chai cứng con tim “giết chết” đi lòng nhân từ, nhận chìm thiện chí hòa giải. Đời sống người Kitô hữu hệ tại phần lớn ở chính lòng nhân từ thương xót, yêu mến sự hòa bình và sẵn sàng tha thứ, như chính Đức Kitô đã sống và mời gọi chúng ta sống như Ngài.

Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh đến tinh thần sống tha thứ trong cộng đoàn của những người được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).

Còn thánh nữ Têrêsa thì nhắn nhủ chị em: “Tôi, tôi không thể tin được rằng: một linh hồn đã được kết hợp với chính lòng thương xót của Chúa, đã hiểu biết mình là ai và đã được Chúa tha thứ nhiều, lại không sẵn sàng tha thứ và bình thản xử tốt với những kẻ xỉ nhục mình; bởi lẽ linh hồn ấy có trước mắt những hồng ân và những ơn lành Chúa đã ban cho mình và trong đó nhìn thấy dấu chỉ của một tình yêu bao la rồi vui sướng có cơ hội tỏ cho Thiên Chúa tình yêu của mình đối với Người” (Đường Hoàn Thiện 36,12).

Nhìn lại cuộc sống đời thường, bạn và tôi ý thức rằng, không có tương quan nào lại không phảng phất mùi vị của phiêu lưu, của căng thẳng, của đổ vỡ. Ra khỏi mình để bước vào tương quan với người khác, và mở rộng cánh cửa đời mình cho người khác bước vào căn nhà của mình, là sẵn sàng đi vào một cuộc phiêu lưu, là ý thức và chấp nhận mình có thể bị tổn thương, bị đau đớn. Nhưng nếu chỉ ý thức và chấp nhận những hậu quả tiêu cực xảy ra, thì chưa đủ. Thêm vào đó, cũng cần ý thức để tìm cách chữa lành những vết thương, xoa dịu những khổ đau, và xây dựng lại mối tương quan trong hòa bình và tình yêu. Cụ thể hơn, bước đầu tiên cần có là cần phải cảm thông và tha thứ. Vậy, hiện nay có ai đang làm ta căng thẳng và nặng nề, bực bội và tức giận, đến nỗi một hận thù đang manh nha lớn lên trong lòng? Ta đã và đang sống với sự căng thẳng và nỗi hận đõ như thế nào? Ta nên ý thức tha thứ trong nội tâm và thể hiện qua hành vi và hành động như thế nào, để tâm ta thanh thoát và tự do hơn? Chúa đã tha cho ta bao lỗi lầm và Ngài tiếp tục tha thứ cho ta, vậy ta có nên tiếp tục bám chặt vào hận thù và tức giận?

  • Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ.

 

Khi đọc lời cầu xin này, thật là sai lầm, nếu nghĩ rằng chính Thiên Chúa đưa con người vào trong cám dỗ, dẫn con người vào trong những cạm bẫy của sự dữ. Trong Tân Ước, không có đoạn nào nói rằng Thiên Chúa dẫn con người vào trong những cám dỗ. Thánh Gia-cô-bê cũng đã nhắc nhớ rất rõ ràng: Khi bị cám dỗ, đừng ai nói: ‘tôi bị Thiên Chúa cám dỗ’, vì Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Người cũng không cám dỗ ai. Nhưng mỗi người có bị cám dỗ, là do dục vọng của mình lôi cuốn và dùng mồi mà bắt” (Gc 1,13-14). Ở đây, thánh Giacôbê nhấn mạnh rằng, Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Người cũng không cám dỗ ai. Nói cách khác, Thiên Chúa là Đấng Nhân Từ và quyền năng vô bờ, nên không có bất cứ thế lực sự dữ nào có thể cám dỗ Ngài, và Ngài cũng không quen biết đến điều xấu xa, vì thế Ngài không bao giờ cám dỗ con người vào những điều xấu xa

 

Dù vậy, Thiên Chúa không muốn miễn cho người tín hữu là con cái Chúa khỏi chiến đấu với cám dỗ, nhưng Người trang bị cho họ và tập cho họ dạn dĩ để đấu tranh với những cám dỗ của sự dữ. Thật vậy, chấp nhận làm người là chấp nhận bị cám dỗ. Cám dỗ từ bên ngoài, từ quỷ dữ, từ tha nhân… Cám dỗ từ bên trong, từ đòi hỏi của bản năng tự nhiên, của thân xác, từ sự khép kín của trí tuệ và lạnh giá của con tim.

 

Đối với cố Hồng Y Martini thì “cám dỗ là một phần quan trọng trong kinh nghiệm của người Kitô hữu. Và thật sự, cám dỗ là kinh nghiệm thường ngày. Chúa Giê-su cũng đã cảnh báo cho chúng ta khi Ngài nói với các môn đệ: Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26, 41). (Martini C.M. Ne méprisez pas la Parole, t.113).

Như vậy, có thể nói cám dỗ là thời điểm quan trọng thử thách chúng ta. Nếu chúng ta vượt qua được thì chúng ta sẽ trưởng thành hơn trong đời sống làm người, đời sống đức tin. Nhưng mặt khác, cám dỗ luôn là một mối nguy cho đời người, vì ai cũng có thể bị rơi vào cám dỗ và trở nên “thân tàn ma dại”.

 

Hơn nữa, sự dữ thì ranh ma và cám dỗ thì muôn vàn, vì vậy cần phải chú ý mới nhận ra được cái giả trá và cạm bẫy của những cám dỗ này. Thánh Inhã đã hiểu được những mánh lới đầy dã tâm và nguy hiểm của thần dữ, nên Ngài đưa ra bài suy niệm “Hai Cờ Hiệu” trong Linh Thao (từ số 136 đến 148), để giúp chúng ta nhận ra một bên là hình ảnh Đức Kitô, Đấng nhân lành và vị chỉ huy tối cao với mục đích cứu độ loài người, đối diện với bên kia là Luxiphe, thủ lãnh của thần dữ luôn dùng những mánh lới xảo quyệt mang cả những nét đẹp của thiên thần để cám dỗ con người rơi vào trong bẫy của chúng, cái bẫy của tiền bạc và giàu có hấp dẫn mọi người, cái bẫy của chức tước cùng những chiếc “ghế cao” và vinh quang chói lọi trong đời, cái bẫy của khuynh hướng độc lập tự cao coi mình hơn tất cả mọi người… Khi đi vào việc nhận định về thần dữ, mới khám phá ra bộ mặt xảo quyệt của thần dữ, một bộ mặt được tô lên bao lớp phấn muôn màu muôn vẻ. Thật vậy, thần dữ sống trong ngàn vạn hình dáng. Nó có một sức mạnh lớn lao, nó đến từ chốn hỗn độn.

 

Vì thế, luôn phải khiêm nhường cầu xin Chúa nâng đỡ. Đức Benedicto thứ XVI đã khiêm nhường cầu xin Chúa rằng: “Lạy Chúa, con biết rằng con cần đến những thử thách, để con người của con trở nên trong sạch hơn. Nếu Chúa để con gặp phải những thử thách này, nếu Chúa cho thần dữ một chút không gian tự do như trường hợp của ông Gióp gặp phải, thì xin nghĩ đến sức lực giới hạn của con. Xin đừng quá tin tưởng ở nơi con. Xin đừng để con bị cám dỗ quá mức, và xin ở gần bên con với cánh tay chở che của Chúa, nếu cám dỗ quá nhiều đối với con” (Ratzinger J., Benedikt 16, Jesus von Nazareth, t.198).

 

Nhớ lại kinh nghiệm bị cám dỗ! Bạn đã thành công chống cự để không rơi vào cái tròng của ma quỷ ra sao? Bạn đã thất bại trước các cám dỗ của thần dữ nhiều lần chưa và tại sao bạn lại thất bại? Qua thành công và thất bại, bạn đã học được điều gì giúp bạn trưởng thành hơn trong đời sống Đức Tin và tâm linh? Bạn cũng nên chiêm ngắm và học hỏi nơi Chúa Giêsu chống trả cám dỗ của ma quỷ trong sa mạc (Mt 4,1-11), qua đó bạn rút ra cho bạn một vài điểm soi sáng giúp bạn chống trả cám dỗ của ma quỷ!

Ngoài ra, tám điểm dưới đây có thể giúp chút trong việc chống trả cám dỗ của ma quỷ:

 

  • Thứ nhất Phúc cho ta, khi ta ý thức cám dỗ là điều thuộc về đời người.
  • Thứ hai Phúc cho ta, khi ta sống trong sự hiện diện của Chúa và luôn kêu xin Chúa cứu giúp, cũng như xin Đức Mẹ phù trợ.
  • Thứ ba Phúc cho ta, khi ta lấy Lời Chúa làm vũ khí chống lại cám dỗ.
  • Thứ tư Phúc cho ta, khi ta bám chặt vào Thánh Giá Chúa.
  • Thứ năm Phúc cho ta, khi ta khiêm tốn xin ơn can đảm, kiên nhẫn và cậy tin.
  • Thứ sáu Phúc cho ta, khi ta không giữ bí mật, mà trải lòng trong toà giải tội hay trải lòng với người linh hướng.
  • Thứ bảy Phúc cho ta, khi ta Làm ngược lại điều ma quỷ cám dỗ (Agere contra).
  • Thứ tám Phúc cho ta, khi ta vâng lời Thiên Chúa và nhất quyết không vâng lời ma quỷ.

 

  • Nhưng cứu chúng con ra khỏi sự dữ.

Lời cầu xin này nối kết chặt chẽ với lời cầu trước đó “xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ”, đến nỗi có thể nói hai lời cầu xin này như là “hai mặt của một đồng tiền”. Hơn nữa lời cầu xin này nêu bật sức mạnh và sự nguy hiểm của thần dữ, vì thế con người cần xin Chúa cứu thoát khỏi thần dữ, thoát khỏi tầm ảnh hưởng và quyền lực của chúng.

Thánh Giám Mục tử đạo Cyprian giúp chúng ta xác tín mạnh mẽ hơn tinh thần sống làm con của Thiên Chúa ở trên trời: “Nếu chúng ta cầu nguyện rằng ´xin cứu chúng con ra khỏi sự dữ´, thì không còn gì hơn điều chúng ta đang cầu nguyện. Nếu chúng ta nhận được sự chở che mà chúng ta cầu xin để chống lại thần dữ, thì chúng ta đứng vững vàng và luôn được che chở để chống lại tất cả mọi sự mà thần dữ và thế giới này đưa lại. Còn có nỗi sợ hãi nào đến từ thế giới này, có thể làm chủ được những người sống trong lòng thế giới này, khi Đấng che chở họ chính là Thiên Chúa?” (Trích bởi Ratzinger J., Benedilt XVI, Jesus von Nazreth, t.201-202).

Với lời cầu nguyện quan trọng này, con người trong đó có bạn và tôi xin Thiên Chúa giải thoát ta khỏi quyền lực của thần dữ, kẻ có thể bắt ta, những con người yếu đuối, trở thành kẻ tòng phạm của chúng. Lời cầu xin này kết nối với lời cầu nguyện của Chúa Giê-su giành cho chúng ta: Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần(Ga 17,15).

Khi kêu cầu với Cha như vậy, là chúng ta đang tuyên xưng niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa, vì Người đã thắng thủ lãnh thế gian này, nhờ sự chiến thắng của Đức Giêsu phục sinh. Lời cầu nguyện của chúng ta cũng là một cách kêu gọi ta tỉnh thức để luôn luôn sẵn sàng đón Chúa đến. Sau hết, lời cầu nguyện ấy chính là một tiếng kêu đầy hy vọng, tin tưởng rằng ơn Chúa sẽ làm cho ‘bất cứ ai sinh bởi Thiên Chúa’ (Ga 5,18) khỏi bị nhiễm độc. Vì Chúa Cha ‘dắt ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào Nước Con chí ái của Người’ (Cl 1,13). (Hamman Adalbert G., Abrégé de la prière chrétienne, t.66).

Như thế, lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chúa cùng lòng khiêm tốn kêu cứu Chúa luôn cần thiết để Chúa ra tay che chở và cứu thoát ta, như lời của thánh nữ Têrêsa Avila nói: “Khi con không còn lợi dụng cột trụ và cây gậy làm nơi nương tựa khẩn thiết (là cầu nguyện) để khỏi sa ngã nặng nề, thì ma quỉ đã tìm thấy trong con một sự kiêu ngạo đội lốt khiêm nhường chừng nào!” (Tự Thuật 19,10).

Sự dữ đã có lần nào chế ngự tâm hồn và cuộc sống của bạn và tôi? Trong tình trạng bị thần dữ chế ngự, nghĩa là sống chìm đắm trong tội lỗi, điều nguy hiểm nhất đối với ta là gì? Khi ở dưới hố sâu tăm tối với không khí thật ô nhiễm của thần dữ gây ra, làm sao chúng ta có thể ngẩng đầu lên trời cao để kêu xin Chúa, như Thánh Vịnh Gia mời gọi:

 

Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa,
2muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con” (Tv 129,1-2).

 

“Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa,
xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ.

Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con,
3ghé tai nghe và mau mau cứu chữa.


Xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn,
như thành trì để cứu độ con.

4Núi đá và thành luỹ bảo vệ con, chính là Chúa,
vì danh dự Ngài, xin dẫn đường chỉ lối cho con.


5Lưới kẻ thù giăng, xin gỡ con ra khỏi,
vì nơi con trú ẩn, chính là Ngài.

6Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con,
Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín”
(Tv 30,2-6).

 

 

Để Kinh Lạy Cha trở thành lời cầu nguyện và hồn sống mỗi ngày.

 

Với những lời thật ngắn ngủi của kinh Lạy Cha Chúa Giêsu đã đưa chúng ta đến một hành trình thiêng liêng thật sâu sắc và phong phú, thật gần gũi và hữu ích cho đời thường.

Phần chúng ta, cần ý thức sao cho lời kinh Chúa dạy trở thành lời cầu nguyện và hồn sống mỗi ngày. Cụ thể, ta ý thức trước hết bước vào tương quan thân tình với Cha trên trời và xin Ngài hoạt động trong cuộc đời của chúng ta trong từng lời cầu xin của kinh Lạy Cha; tiếp đến xin Thần Khí của Chúa giúp ta biết soi mình vào tấm gương của Chúa Giêsu, để học nơi Chúa cách sống lời kinh Lạy Cha, sao cho danh Cha được cả sáng, Nước Cha được trị đến và ý Cha được thể hiện. Cuối cùng ta cầu xin Chúa giúp ta biết cộng tác với Chúa qua việc sống động từng chữ và từng lời cầu xin của Kinh Lạy Cha trong đời thường.

 

Có như thế, Cha trên trời nhìn đến chúng ta và nói với từng người: “Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con!”

 

 

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Kiểm tra tương tự

Bước đi trong Ánh Sáng Đức Kitô | Suy tư Tin Mừng CN IV Mùa Chay – Năm A

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay A BƯỚC ĐI TRONG ÁNH SÁNG …

Tông Đồ Cầu Nguyện, 13-03-2026

TÔNG ĐỒ CẦU NGUYỆN, NGÀY 13/03/2026 CÙNG CHÚA GIÊ-SU BUỔI SÁNG Yêu Thương “Ngươi phải …