Thế hệ Z là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những người sinh sau năm 1995. Sau đó, để phân biệt họ với các thế hệ Alpha, Beta và bất kỳ nhóm thế hệ mới nào khác, Thế hệ Z được xác định rõ ràng là những người sinh khoảng từ năm 1996 đến 2012, là thế hệ đầu tiên lớn lên hoàn toàn cùng với Internet và điện thoại thông minh, và có những trải nghiệm về thế giới rất khác so với các thế hệ trước.
Trước khi Jonathan Haidt, một nhà tâm lý xã hội người Mỹ, đặt ra thuật ngữ “Thế hệ Lo âu” để mô tả Thế hệ Z, thuật ngữ này đã từng xuất hiện rải rác trong nhiều bài viết, báo cáo và bình luận. Tuy nhiên, Haidt đã hệ thống hóa một loạt đặc điểm của thế hệ này, chẳng hạn như đây là thế hệ đầu tiên trong lịch sử trải qua tuổi vị thành niên với một thiết bị điện tử trong túi, thứ liên tục kéo họ ra khỏi môi trường xung quanh và nhấn chìm họ vào một vũ trụ ảo gây nghiện và bất ổn. Thế hệ này bắt đầu bước vào tuổi vị thành niên vào khoảng năm 2009, chính xác là thời điểm các xu hướng công nghệ như Internet băng thông rộng, sự ra đời của iPhone (2007) và những chức năng gây nghiện của mạng xã hội như các nút “Thích” và “Chia sẻ” (2009) hội tụ. Sự phụ thuộc của “thế hệ lo âu” vào Internet và không gian kỹ thuật số giờ đây đã mở rộng sang trí tuệ nhân tạo.
Haidt gọi sự thay đổi ấy là “Sự Tái kết nối Lớn của Tuổi thơ” (Great Rewiring of Childhood): từ một tuổi thơ dựa trên vui chơi, khám phá thể chất và những rủi ro được kiểm soát sang một tuổi thơ dựa trên điện thoại. Khoảng từ năm 2010 đến 2015, đời sống xã hội của thanh thiếu niên ngày càng chuyển vào các hệ sinh thái ảo. Thay vì gặp nhau, chơi với nhau và học cách giải quyết xung đột trong thế giới thực, các em ngày càng dành nhiều thời gian trong một thế giới được thiết kế để giữ sự chú ý của mình càng lâu càng tốt. Một đứa trẻ cần va chạm với thế giới để trưởng thành: chơi, thất bại, tranh cãi, làm hòa, chờ đợi, chịu buồn chán, tự giải quyết một vấn đề mà không lập tức tìm kiếm câu trả lời. Những trải nghiệm ấy có vẻ chậm, đôi khi khó chịu và không hiệu quả. Nhưng chính chúng tạo nên khả năng tự kiểm soát, khả năng chịu đựng sự thất vọng và khả năng sống cùng người khác.
Ở một thực tại khác, thiết bị kỹ thuật số được tích hợp nhiều tính năng, lại đang có một tiêu chí khác: nhanh, tiện lợi, đồng bộ và ít rào cản. Chỉ một cú chạm là có thể chuyển sang một video khác, một cuộc trò chuyện khác, một người khác. Mối quan hệ cũng có thể trở nên dễ dàng thay thế. Vậy, liệu việc có thêm công nghệ và thêm trí thông minh nhân tạo có thực sự khiến con người sống tốt hơn?
Một hệ thống có thể xử lý hàng triệu dữ liệu trong vài giây, nhưng không thể thay thế trải nghiệm của một con người phải sống đủ lâu với một vấn đề để hiểu nó. Một thuật toán có thể giúp chúng ta tìm kiếm câu trả lời nhanh hơn, nhưng sự khôn ngoan không đơn giản là có thêm nhiều câu trả lời. Sự khôn ngoan được hình thành qua trải nghiệm, qua sự hiện diện của cơ thể, qua những mối quan hệ không thể dễ dàng bỏ đi và qua những tình huống buộc con người phải ở lại đủ lâu để hiểu một điều gì đó. Nói cách khác, làm nhiều hơn không đồng nghĩa với sống sâu sắc hơn.
Những suy tư này cũng gặp gỡ với điều Đức Thánh Cha Lêô XIV gọi là nhiệm vụ “bảo vệ tính người” trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Magnifica Humanitas nhắc rằng A.I. có thể vượt con người về tốc độ và khả năng xử lý dữ liệu, nhưng không có thân thể, không trải qua niềm vui hay đau khổ, không trưởng thành qua các mối tương quan và không biết từ bên trong tình yêu, tình bạn, lao động hay trách nhiệm là gì (số 99). Vì thế, khi hiệu quả trở thành thước đo tối thượng, con người có nguy cơ nhìn chính mình như một dự án cần được tối ưu hóa, thay vì một hữu thể được mời gọi bước vào tương quan và hiệp thông (số 112). Chúng ta còn muốn giữ lại điều gì để được sống trọn vẹn như một con người? Rõ ràng, công nghệ giúp chúng ta thực hiện công việc nhanh hơn; nó bắt đầu định nghĩa thế nào là một cuộc sống tốt: phản hồi nhanh, năng suất cao, luôn sẵn sàng, luôn kết nối và không được bỏ lỡ điều gì. Khi hiệu quả trở thành tiêu chuẩn cho mọi thứ, chúng ta có nguy cơ đánh mất không gian dành cho sự cảm nếm cuộc sống.
Đó là lúc sự lo âu xuất hiện.
Gen Z không chỉ lớn lên trong một thế giới có nhiều thông tin hơn. Họ lớn lên trong một thế giới liên tục đòi hỏi sự chú ý của họ. Mạng xã hội khiến con người phải quản lý hình ảnh của chính mình, so sánh mình với người khác và lo sợ bị loại khỏi một cộng đồng mà họ có thể không bao giờ thực sự gặp mặt. Trong thế giới ấy, ngay cả sự nghỉ ngơi cũng có thể trở thành một hoạt động phải được tối ưu hóa.
Haidt nói đến một nghịch lý khác: “sự bảo vệ quá mức trong thế giới thực và sự bảo vệ không đầy đủ trong thế giới ảo”. Trong xã hội hiện tại, người ta bắt đầu quan tâm hơn đến việc bảo vệ nhân phẩm con người, nhưng những xâm phạm trên không gian ảo dường như vẫn là một tranh cãi mơ hồ. Ai cũng hiểu bạo lực mạng, nhưng lại không có một khung pháp lý thật sự dành cho điều này. Ai cũng biết một khi đã sử dụng Internet, thông tin cá nhân sẽ bị rò rỉ cách này hay cách khác; nhưng lại không có một cơ chế rõ ràng để các công ty công nghệ báo cáo công khai cách họ thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của người dùng. Ai cũng biết không phải nội dung số hóa nào cũng có thể được dùng đại trà, nhưng quy định kiểm duyệt và dán nhãn nội dung thì còn lỏng lẻo và chưa mang tính khách quan.
Sống chậm có nghĩa là lấy lại quyền quyết định tốc độ của chính mình. Điều này càng trở nên quan trọng khi thế hệ Z bước vào thị trường lao động.
Một người đã quen với sự phân mảnh của chú ý, với phản hồi tức thời và với việc luôn phải hiện diện trên không gian số sẽ mang những thói quen ấy vào công việc. Thị trường lao động lại tiếp tục củng cố chúng bằng các nền tảng kỹ thuật số, công việc theo nhu cầu và nền kinh tế gig (mô hình lao động nơi người lao động nhận từng công việc hoặc nhiệm vụ ngắn hạn thay vì gắn bó với một công việc ổn định, lâu dài).
Công nghệ được quảng bá như một công cụ giải phóng con người khỏi công việc nặng nhọc, nhưng đồng thời có thể tạo ra những dạng lao động mới khiến con người trở nên vô hình. Trong cuốn sách “Ghost Work”, Mary L. Gray và Siddharth Suri mô tả những người lao động đứng phía sau vẻ ngoài của một nền kinh tế tự động hóa. Họ thực hiện những nhiệm vụ mà hệ thống công nghệ không thể hoàn toàn tự làm, nhưng sự hiện diện của họ thường bị che khuất sau giao diện của máy móc và thuật toán. Như thế, con người vẫn ở đó, nhưng ngày càng ít được nhìn thấy.
Công việc theo nhu cầu biến phán đoán của con người thành một “đầu ra” của thuật toán. Người lao động có thể được kết nối với công việc trong vài giây, nhưng lại thiếu những yếu tố từng làm nên ý nghĩa của lao động: sự liên tục, cộng đồng và những mối quan hệ thực sự. Khi giao tiếp trực tiếp bị thay thế bởi các tín hiệu kỹ thuật số và công việc bị chia nhỏ thành những nhiệm vụ có thể dễ dàng thay thế, người lao động có nguy cơ trở thành một mắt xích vô hình trong một hệ thống lớn hơn mình.
Đây chính là lúc câu chuyện về sự lo âu của tuổi trẻ gặp câu chuyện về thị trường lao động. Một thế hệ được nuôi dưỡng trong môi trường luôn đòi hỏi sự chú ý lại bước vào một thị trường cũng đòi hỏi sự chú ý liên tục. Một thế hệ được dạy rằng phải nhanh chóng thích nghi lại bước vào một nền kinh tế thưởng cho tốc độ, năng suất và khả năng phản ứng tức thời.
Nếu một người trẻ cảm thấy kiệt sức vì phải liên tục trực tuyến, liên tục phản hồi và liên tục chứng minh giá trị của mình, câu trả lời không thể chỉ là “hãy quản lý thời gian tốt hơn”. Có thể chính môi trường mà chúng ta tạo ra đang khiến con người khó có được một đời sống có chiều sâu. Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở cá nhân. Haidt gọi đây là một “vấn đề hành động tập thể”. Nếu mỗi cá nhân tự rút khỏi cuộc đua trong khi tất cả những người khác vẫn tiếp tục chạy, việc dừng lại có thể trở thành một bất lợi. Vì thế, chúng ta cần những cộng đồng nơi các mối quan hệ có đủ thời gian để được hình thành, duy trì và sửa chữa trong thế giới thực.
Điều này không có nghĩa là phải chống lại công nghệ. Công nghệ đã trở thành một phần không thể tách rời của đời sống. Vấn đề là liệu chúng ta còn có khả năng sử dụng công nghệ mà không để nó dần dần giành lấy quyền quyết định cách chúng ta sống.
Nếu smartphone từng đưa thế giới vào túi của mỗi người, thì AI đang bắt đầu tham gia vào cách chúng ta suy nghĩ, viết, học tập và làm việc. Chúng ta cần một thế giới trong đó công nghệ phục vụ con người thay vì buộc con người phải sống theo tốc độ của nó.
Một thế hệ lớn lên trong thế giới số cần học lại những điều tưởng như rất cũ: những cuộc chơi không cần check-in địa điểm, lượt tương tác; ở bên nhau mà không cần ghi hình; im lặng mà không cần âm nhạc số lấp đầy; làm một việc trong một khoảng thời gian đủ dài để thực sự hiểu nó.
Bởi cuối cùng, hiệu quả không phải là thước đo duy nhất của một đời sống tốt.
“Mở quá nhiều tab sẽ nhanh cạn pin.”
Con người cũng vậy.
Vi, ACI

![[Suy tư cùng ĐGH] - Từ Bàn Ăn Đến Nước Trời [Suy tư cùng ĐGH] - Từ Bàn Ăn Đến Nước Trời](https://files.dongten.net/dongten/storage/2026/05/2026_05_27_WEB_STDGH_w300.webp?X-Amz-Algorithm=AWS4-HMAC-SHA256&X-Amz-Credential=cf834cba-572d-4598-8c21-86275f3840b8%2F20260917%2Fus-east-1%2Fs3%2Faws4_request&X-Amz-Date=20260917T143908Z&X-Amz-Expires=86400&X-Amz-SignedHeaders=host&X-Amz-Signature=e2073c953e29945dbb3dd4c78a54d2c7386f7715b00782126afbacec07a5922b)

![[Suy tư cùng ĐGH] - Bánh được bẻ ra [Suy tư cùng ĐGH] - Bánh được bẻ ra](https://files.dongten.net/dongten/storage/2026/05/2026_05_10_WEB_STDGH_lon_w300.webp?X-Amz-Algorithm=AWS4-HMAC-SHA256&X-Amz-Credential=cf834cba-572d-4598-8c21-86275f3840b8%2F20260917%2Fus-east-1%2Fs3%2Faws4_request&X-Amz-Date=20260917T143908Z&X-Amz-Expires=86400&X-Amz-SignedHeaders=host&X-Amz-Signature=e9954fe53d692f5f0cf50b3c8de46a2b68d61ae0f90f5b908d6721476866a361)



