Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật V Thường Niên A
(Mt 5,13-16; Is 58,7-10; 1Cr 2,1-5)
SỐNG NGHỊCH LÝ
Dò dẫm và lật mở từng trang Kinh Thánh, ta dễ dàng bắt gặp điều mà đời thường quen gọi là “nghịch lý”. Nào là nghịch lý giàu-nghèo: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3); nào là nghịch lý mạnh-yếu: “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10); hay là nghịch lý được-mất: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25).
Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ V mùa Thường niên năm A, Chúa Giê-su sử dụng hai hình ảnh muối và ánh sáng, vốn chứa đựng những nét nghịch lý, để đưa dẫn mỗi người đến chiêm ngắm nghịch lý vĩ đại nơi chính cuộc đời của Chúa Giê-su.
Nghịch lý nơi hạt muối: tiêu hao nhưng hiện hữu
“Chính anh em là muối cho đời” (Mt 5,13). Với trí khôn bình thường và kinh nghiệm thực tế, có lẽ ai cũng hiểu muối là gì, và muối để làm gì. Khi tạo vị cho món ăn, muối chấp nhận tiêu hao và tan biến. Lúc ấy, người ta chẳng còn nhìn thấy muối bằng đôi mắt thường; nhưng không vì thế mà muối trở nên buồn chán. Muối tiêu hao, nhưng thực sự ý nghĩa. Khi tiêu hao, muối cho người ta cảm nhận thế nào là hương vị đậm đà của món ăn. Đúng là nghịch lý: tiêu hao nhưng hiện hữu!
Hẳn rằng, khi dùng hình ảnh muối để nói với các môn đệ, Chúa Giê-su cũng muốn họ phải “tiêu hao” trên đường thi hành sứ mạng. Ai thực sự làm việc tông đồ, người ấy cần phải thao thức, trăn trở, lắng lo, và hy sinh cả về tâm sức lẫn trí lực. Ai dấn thân là muối cho đời, người ấy không thể giữ khư khư những gì đang có, nhưng sẵn lòng tiêu hao và trao ban chính mình. Càng tiêu hao, càng trao ban, người môn đệ càng có nhiều hy vọng nơi những hoa trái thiêng liêng sẽ được trổ sinh. Đúng là: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35)!
Tất nhiên, Chúa không muốn người môn đệ tiêu hao một cách thiếu nhận định và thiếu khôn ngoan. Giống như muối chấp nhận hòa tan là để tạo vị cho món ăn, thì sự tiêu hao của người môn đệ cũng luôn cần được gắn liền với mục đích giúp mở mang Nước Chúa, và vì lợi ích của các linh hồn. Ý thức như thế, người môn đệ sẽ tránh được cám dỗ quy kỷ: thay vì miệt mài tiêu hao để tìm kiếm vinh quang cho mình, thì âm thầm tiêu hao để chỉ kiếm tìm vinh quang Thiên Chúa.
Nghịch lý nơi ánh sáng: chiếu dọi nhưng lu mờ
“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Với đôi mắt bình thường và kinh nghiệm thực tế, ai cũng dễ mường tượng được tác dụng của ánh sáng. Một căn phòng sẽ chẳng còn tối, nếu ánh sáng được thắp lên ở đó. Nơi có ánh sáng, người ta rất sợ làm điều “ tăm tối”.
Hẳn rằng, khi dùng hình ảnh ánh sáng để nói với các môn đệ, Chúa Giê-su cũng ước mong các ông trở thành “ánh sáng” trong hành trình thực thi sứ mạng. Thế gian vẫn còn đó những bóng tối của chia rẽ, hận thù, ghen ghét, ích kỷ…cần được xua tan bởi ánh sáng của hiệp nhất, thứ tha, yêu thương và quảng đại. Đời sống của người môn đệ phải là ánh sáng giúp người khác thoát khỏi những bóng tối đang rình rập bủa vây. Mỗi suy nghĩ, từng lời nói, và mọi hành động phải góp phần đẩy lui bóng tối.
Lẽ dĩ nhiên, Chúa không muốn người môn đệ sống theo kiểu tự mình là ánh sáng. Giống như ngọn đèn không thể tự sáng nếu không có nguồn sáng; tia nắng chẳng thể xuất hiện nếu không có mặt trời, thì cuộc đời của người môn đệ cũng không thể là ánh sáng nếu không gắn liền với Chúa, Đấng là nguồn sáng. Chẳng phải Chúa Giê-su đã từng dặn dò các môn đệ: “không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5) đó sao!
Nhờ ơn Chúa, hoa trái tông đồ sẽ tới, ánh sáng cũng sẽ chiếu dọi. Thế nhưng, ai thật lòng đi theo Chúa, người ấy phải luôn sống trong tâm tình khiêm tốn lu mờ và có nét nghịch lý. Dù góp phần dọi sáng, dù góp phần trổ sinh hoa trái, thì người môn đệ luôn cần thuộc nằm lòng tinh thần sống: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30).
Nghịch lý nơi Chúa Giê-su: cao sang nhưng gần gũi
Hạt muối có nét nghịch lý của việc tiêu hao nhưng hiện hữu. Ánh sáng có nét nghịch lý của việc chiếu dọi nhưng lu mờ. Tất cả đều góp phần đưa ta tới chiêm ngắm nghịch lý vĩ đại nơi đời sống của Chúa Giê-su: cao sang nhưng gần gũi. Là Ngôi Hai Thiên Chúa, Chúa Giê-su thuộc “đẳng cấp” khác so với con người. Là Ngôi Hai Thiên Chúa, Chúa Giê-su có đầy đủ uy quyền và vinh quang.
Uy quyền là thế, địa vị là vậy; nhưng Chúa Giê-su lại quá đỗi gần gũi con người. Chúa gần gũi đến độ làm người, sống như con người ngoại trừ tội lỗi. Khi nói tới muối và ánh sáng, Chúa Giê-su cho thấy Người quen thuộc với đời sống con người là dường nào. Hình ảnh mà Chúa dùng thật là dễ hiểu, lối giải thích mà Chúa sử dụng thật là thích nghe!
Chúa thực sự cao sang, và Chúa thực sự gần gũi thân tình với con người. Chúa cũng muốn con người sống gần gũi và thân tình, để được trở nên “cao sang” với Chúa. Gần gũi với Chúa Giê-su, thân tình với Chúa Giê-su, nhưng ta luôn phải ý thức rằng Người là Thiên Chúa. Như thế, ta đến với Chúa bằng tâm tình thờ lạy, kính tôn; và cũng đến với Chúa bằng tất cả sự đơn sơ gần gũi. Thật là sống nghịch lý!
Lm Fx. Phạm Quang Khanh, S.J.
