Thế giới trực tuyến với tất cả sự đa dạng của nó, cùng với những cơ hội và thách thức, đã trở thành một ma trận văn hóa cho sự dấn thân của Giáo Hội trong thế giới này. Việc Giáo Hội tham gia vào văn hóa số đã bắt đầu từ nhiều năm trước và đến nay vẫn còn là một lĩnh vực được dẫn dắt vững vàng bởi các cá nhân và người trẻ. Thậm chí là từ thời Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Tòa Thánh đã tham gia một số nền tảng mạng xã hội và xây dựng các trang web hướng đến giới trẻ. Sự dấn thân của Giáo Hội vào lĩnh vực kỹ thuật số phản ánh điều mà cố Hồng y Avery Dulles gọi là mô hình Giáo Hội như một cộng đoàn, tập trung vào Dân Thiên Chúa.[1] Hiện tượng Giáo Hội hiện diện trong lĩnh vực kỹ thuật số vốn được phát triển từ các phong trào xã hội, do các cá nhân dẫn dắt thông qua các tài khoản mạng xã hội của họ và thường tự gọi mình là “những nhà truyền giáo kỹ thuật số”.
Thượng Hội đồng về tính Hiệp hành đã nhìn nhận tầm quan trọng của kỹ thuật số trong đời sống thực tế và sứ mạng của Giáo Hội. Trong Bản Tổng hợp của Phiên họp Thứ nhất, Thượng Hội Đồng xác quyết:
“Văn hóa số đánh dấu một sự chuyển biến nền tảng trong cách con người hiểu về thực tại, và từ đó, trong cách họ tương quan với chính mình, với tha nhân, với môi trường sống, và thậm chí với Thiên Chúa. […] Vì thế, văn hóa số không đơn thuần là một lĩnh vực sứ vụ riêng biệt, nhưng là một chiều kích thiết yếu trong chứng tá của Giáo Hội giữa lòng văn hóa đương đại.”
Bản phúc trình chung cuộc của Thượng Hội Đồng tiếp tục đào sâu xác tín này và kêu gọi một Giáo Hội hiệp hành biết dấn thân cụ thể: “Sự lan tỏa của văn hóa kỹ thuật số, đặc biệt rõ nét nơi người trẻ, đang làm biến đổi sâu xa kinh nghiệm của họ về không gian và thời gian; đồng thời ảnh hưởng đến các sinh hoạt hằng ngày, cách thức truyền thông và các mối tương quan liên vị, kể cả đời sống đức tin.” Văn hóa ấy vừa mở ra những cơ hội mới, vừa đặt ra không ít thách đố.
Trước thực trạng đó, Thượng Hội Đồng mời gọi Giáo Hội “đầu tư các nguồn lực cần thiết để môi trường kỹ thuật số trở thành một không gian mang tính ngôn sứ cho sứ vụ và việc loan báo Tin Mừng,” trong đó các Giáo Hội địa phương có trách nhiệm khích lệ và đồng hành với “những ai đang dấn thân cho sứ vụ trong môi trường kỹ thuật số.”
Đồng thời, Thượng Hội Đồng cũng kêu gọi “các cộng đoàn và nhóm Kitô hữu trong không gian kỹ thuật số, cách riêng là người trẻ, […] suy tư về cách họ xây dựng sự hiệp thông và cảm thức thuộc về, thúc đẩy gặp gỡ và đối thoại. Chính họ được mời gọi trao ban sự đào luyện cho những người đồng trang lứa, nhằm phát triển một cung cách hiệp hành trong việc sống và làm Giáo Hội.” Thật vậy, thế giới kỹ thuật số đang mở ra một con đường “giúp Giáo Hội sống chiều kích hiệp hành cách trọn vẹn hơn.” Việc tham dự vào văn hóa kỹ thuật số hôm nay không phải là trách nhiệm của riêng ai, nhưng là sứ mạng chung của toàn thể Dân Chúa và đòi hỏi sự dấn thân của toàn thể Giáo Hội.
Bài tiểu luận này trình bày việc Giáo Hội tham dự vào văn hóa kỹ thuật số qua hai chiều kích: trước hết là bản tường trình về Năm Thánh của các “Nhà Truyền giáo kỹ thuật số” và những “Người Công giáo có ảnh hưởng” diễn ra vào tháng 7 năm 2025; tiếp đến là những suy tư về thế giới kỹ thuật số qua bốn chủ đề then chốt của Thượng Hội Đồng.
Năm Thánh các “Nhà Truyền giáo kỹ thuật số” và “Những Người Công giáo có ảnh hưởng”
Trong tinh thần đáp lại lời mời gọi của Thượng Hội Đồng về việc đón nhận văn hóa số, Bộ Truyền thông của Tòa Thánh đã góp phần tổ chức Năm Thánh của các “Nhà Truyền giáo kỹ thuật số” và “Những Người Công giáo có ảnh hưởng”, diễn ra tại Rôma trong hai ngày 28–29 tháng 7 năm 2025. Được triệu tập ngay trước Năm Thánh Giới trẻ. Cuộc gặp gỡ đã quy tụ gần 1.000 tham dự viên đến từ 75 quốc gia, những người tự nhận mình là “Những Người Công giáo có ảnh hưởng” (influencer) trên nhiều nền tảng khác nhau như YouTube, Instagram, TikTok, Facebook, WhatsApp, Telegram, v.v. Những hình ảnh, hashtag và phần giới thiệu về sự hiện diện kỹ thuật số của hơn 300 tham dự viên được đăng tải trên trang web chính thức của Năm Thánh (www.digitalismissio.org/#participants). Danh sách này cho thấy một gương mặt Giáo Hội khác với hình ảnh quen thuộc thường gặp trên các trang mạng mang tính truyền thống: các tham dự viên phần lớn là người trẻ, nhiều người ở độ tuổi 20, 30 hoặc 40; đa số là giáo dân; và mang đậm tính đa văn hóa.
Ban tổ chức Năm Thánh đã mô tả sự kiện này như sau: “Năm Thánh này dành cho tất cả những ai loan báo Tin Mừng trên nền tảng kỹ thuật số, chia sẻ sứ điệp Tin Mừng trên các mạng xã hội, blog, kênh truyền thông và ứng dụng. Đây là cơ hội để trao đổi kinh nghiệm và củng cố sứ mạng chung của chúng ta. […] Chúng ta sẽ liên kết nỗ lực để cử hành, đào luyện và khơi dậy cảm hứng nơi những người được mời gọi loan báo Tin Mừng trên các nền tảng kỹ thuật số.”
Đây là kỳ gặp gỡ thứ hai thuộc loại này dành cho các influencer Công giáo, tiếp nối sự kiện tương tự được tổ chức vào năm 2023 nhân Ngày Giới trẻ Thế giới tại Lisboa.
Phản tỉnh
Hai ngày của Năm Thánh được dành cho việc phản tỉnh và các bài tập linh thao. Sau khi tham dự Thánh lễ tại nhiều nhà thờ khác nhau ở Rôma, các tham dự viên quy tụ về Hội trường Conciliazione, nơi những lời chào mừng và huấn từ đã định hướng chủ đề cho toàn bộ chương trình: vai trò của các nhà truyền giáo kỹ thuật số trong công cuộc loan báo Tin Mừng và trong đời sống của Giáo Hội, với sự hiện diện của Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh; Đức Tổng Giám mục Rino Fisichella, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng; ông Paolo Ruffini, Tổng trưởng Bộ Truyền thông; và Đức Ông Lucio Ruiz, Thư ký Bộ Truyền thông. Các ngài đã khích lệ tham dự viên quảng đại đón nhận ơn gọi phục vụ của mình, luôn đặt Chúa Giêsu ở trung tâm đời sống và ở cốt lõi mọi hoạt động truyền thông.
Tiếp đó, cộng đoàn cùng suy niệm về vai trò của Lời Chúa trong đời sống cá nhân cũng như trong sứ vụ truyền thông của mình, qua một buổi thực hành chuyên đề do cha David McAllum, S.J., đồng sáng lập hội “Contemplative Leaders in Action” (Những người lãnh đạo chiêm niệm trong hoạt động) hướng dẫn. Cả ý niệm lẫn các thực hành của những nhà truyền giáo kỹ thuật số đều phát xuất từ ơn gọi, tức là cách thế cụ thể để sống căn tính Kitô hữu. Điều này có nghĩa là những ai dấn thân trong thế giới kỹ thuật số không chỉ đơn thuần truyền tải dữ liệu hay thông tin, nhưng được mời gọi xây dựng các mối tương quan: vừa với những người theo dõi mình, vừa với một nhóm mục vụ, một cộng đoàn cùng phân định.
Cha Antonio Spadaro, S.J., Thứ trưởng Bộ Văn hóa và Giáo dục của Tòa Thánh, đồng thời là một cây bút quen thuộc trong lĩnh vực thần học kỹ thuật số, đã thử thách các influencer Công giáo dấn thân kiến tạo một thế giới kỹ thuật số khác biệt. Ngài khẳng định: “Anh chị em không hiện diện nơi đây để tiếp nhận một chiến lược truyền thông Công giáo hay để trở thành những người sử dụng mạng hiệu quả hơn,” nhưng bởi vì chúng ta được mời gọi thắp lên ngọn lửa nơi những gì tưởng như đã tắt lịm: “Chúng ta được mời gọi bừng cháy, chứ không chỉ vận hành.”
Cha Spadaro nhắc nhớ rằng Internet cũng là một không gian của mầu nhiệm Nhập Thể, và nội dung truyền thông đích thực nhất phát xuất từ ngọn lửa đang cháy bên trong mỗi người, điều thôi thúc chúng ta phải chia sẻ với tha nhân. “Anh chị em không phải là một thuật toán; anh chị em là một linh hồn.” Thuật toán có thể biết rất nhiều về người dùng trực tuyến, nhưng không thể biết linh hồn của họ, điều thúc đẩy họ biết yêu thương.
Các influencer Công giáo, vì thế, được mời gọi sáng tạo theo cách Tin Mừng sáng tạo. “Anh chị em không phải là một thương hiệu; anh chị em là một phúc lành.” Sau đó, cha Spadaro đã trích dẫn sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Thế giới Truyền thông năm 2014:
“Chứng tá Kitô giáo không được thực hiện bằng cách dồn dập áp đặt những thông điệp tôn giáo, nhưng bằng sự sẵn sàng hiến thân cho người khác, qua thái độ kiên nhẫn và tôn trọng khi đối thoại với những câu hỏi và nghi vấn của họ, trong hành trình tìm kiếm chân lý và ý nghĩa của sự hiện hữu con người.”
Vì thế, những nhà truyền giáo Công giáo trong môi trường kỹ thuật số không được “tạo dựng một nhóm người hâm mộ, nhưng phải trở nên bạn hữu của mọi người.” Internet nên và phải là một không gian của lòng trắc ẩn. Ngài nhấn mạnh:
“Ngay cả cái gọi là truyền thông Công giáo, nếu đánh mất lòng trắc ẩn, thì cũng trở thành sự loại trừ khỏi hiệp thông. Truyền thông mà loại trừ hiệp thông thì là điều hết sức sai lạc. Chúng ta phải thoát ra khỏi mô thức ấy.”
Những lời của Đức Giáo hoàng Lêô trong buổi gặp gỡ đầu tiên với giới báo chí cũng được nhắc lại: “Truyền thông, thực vậy, không chỉ là việc chuyển tải thông tin, nhưng còn là việc kiến tạo một nền văn hóa, những môi trường nhân bản và kỹ thuật số, để trở thành những không gian của đối thoại và trao đổi.”
Lời khuyên cuối cùng của cha Spadaro dành cho cộng đoàn tham dự thật sâu sắc: “Hãy luôn giữ trọn tình người. Ngay cả khi anh chị em bị phê phán. Ngay cả khi anh chị em bị lãng quên. Ngay cả khi anh chị em được tôn vinh. Hãy kiên vững. Có kết nối, vâng, nhưng trên hết là phải bén rễ. Bén rễ trong Thiên Chúa. Bén rễ trong đời sống cầu nguyện. Bén rễ trong cộng đoàn của mình. Bén rễ trong một đời sống thực, được dệt nên từ những cuộc gặp gỡ thật, những tình bạn thật, từ thời gian không phải để tích lũy, nhưng để yêu thương.” Chính nơi đó, anh chị em sẽ tìm thấy ngọn lửa có thể biến đổi thế giới.
Sau đó trong ngày, cộng đoàn được lắng nghe một buổi tọa đàm với các “nhà truyền giáo kỹ thuật số” chia sẻ về sứ vụ của họ, cũng như một buổi tọa đàm khác với những chứng từ về kinh nghiệm gặp gỡ “những người ảnh hưởng của Thiên Chúa” – các vị thánh đương đại, trong đó có Thánh Carlo Acutis. Thời gian làm việc theo nhóm giúp các tham dự viên hồi tưởng lại những kinh nghiệm của mình và đóng góp những ý kiến theo tinh thần hiệp hành cho các thành viên của nhóm công tác Thượng Hội Đồng, những người đang suy tư về ý nghĩa của việc Giáo Hội dấn thân trọn vẹn vào nền văn hóa kỹ thuật số. Ngày làm việc khép lại với giờ chầu Thánh Thể tại Đền thờ Thánh Phêrô.
Linh Thao
Ngày thứ hai tập trung vào chiều kích thiêng liêng của việc dấn thân, khởi đầu bằng cuộc hành hương Năm Thánh và việc bước qua Cửa Thánh, tiếp đến là nghi thức Chầu Thánh Thể do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng, chủ sự.
Trong bài giảng, Đức Hồng y Tagle đã nhắn nhủ cộng đoàn tham dự: “Chúa Giêsu yêu thương anh chị em. Đừng nghi ngờ điều ấy; hãy đón nhận Người như ảnh hưởng lớn nhất trong đời mình. Và ước chi, qua chính anh chị em, con người của Chúa Giêsu có thể tác động đến nhiều người, cả trong không gian nhân bản lẫn kỹ thuật số, để chân lý, công lý, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được tuôn chảy đến tận cùng trái đất.”
Sau Thánh lễ, Đức Lêô XIV đã đến gặp gỡ cộng đoàn trong một buổi tiếp kiến ngắn ngoài chương trình, trong đó ngài nêu lên ba thách đố đối với các nhà truyền giáo và những người ảnh hưởng Công giáo trong môi trường kỹ thuật số.
Trước hết, ngài nói: “Anh chị em hiện diện nơi đây để canh tân cam kết nuôi dưỡng niềm hy vọng Kitô giáo trên các mạng xã hội và trong không gian trực tuyến. Hòa bình cần được tìm kiếm, loan báo và chia sẻ ở mọi nơi, cả tại những vùng đất đang chứng kiến thảm kịch chiến tranh, lẫn trong những cõi lòng trống rỗng của những người đã đánh mất ý nghĩa cuộc sống, cũng như khát vọng suy tư nội tâm và đời sống thiêng liêng.” Các nhà truyền giáo kỹ thuật số được mời gọi loan báo Đức Kitô Phục Sinh.
Thứ đến, ngài nhấn mạnh: “Hãy luôn tìm kiếm ‘thân xác đau khổ của Đức Kitô’ nơi mỗi người anh chị em mà anh chị em gặp gỡ trên không gian mạng. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một nền văn hóa mới, được định hình và chi phối sâu đậm bởi công nghệ. Trách nhiệm của chúng ta – của từng người trong anh chị em – là bảo đảm để nền văn hóa ấy vẫn luôn mang tính nhân bản.”
Những người Công giáo có ảnh hưởng được mời gọi vun đắp một nền văn hóa nhân bản Kitô giáo, phát triển một lối tư duy và một ngôn ngữ có khả năng diễn tả tình yêu của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng như cộng đoàn đã được lắng nghe trong ngày hôm trước, công việc của họ không hệ tại trước hết ở việc sản xuất nội dung, nhưng là tạo nên cuộc gặp gỡ giữa những con tim.
“Điều này đòi hỏi việc tìm đến những người đang đau khổ, những người cần được biết đến Chúa, để họ có thể được chữa lành các vết thương, đứng dậy và tìm lại ý nghĩa cho cuộc đời mình. Trên hết, tiến trình này khởi đi từ việc chấp nhận sự nghèo khó của chính mình, từ bỏ mọi giả tạo, và nhìn nhận nhu cầu thiết yếu của bản thân đối với Tin Mừng. Và đây là một hành trình mang tính cộng đoàn.”
Thứ ba, khởi đi từ hình ảnh Chúa Giêsu kêu gọi những môn đệ tiên khởi khi các ông đang vá lại lưới cá của mình (Mt 4,21–22), Đức Giáo hoàng Lêô đã nói với các nhà truyền giáo kỹ thuật số của Giáo Hội rằng Chúa Giêsu “mời gọi chúng ta đan dệt những tấm lưới khác: những mạng lưới của các mối tương quan, của tình yêu và của sự sẻ chia nhưng không, nơi tình bằng hữu sâu sắc và chân thật; những mạng lưới trong đó chúng ta có thể hàn gắn những gì đã đổ vỡ, được chữa lành khỏi nỗi cô đơn, không còn chú tâm vào số lượng người theo dõi, nhưng cảm nghiệm được sự cao cả của Tình Yêu vô biên trong mỗi cuộc gặp gỡ; những mạng lưới biết dành chỗ cho người khác hơn cho chính mình, nơi không một ‘bong bóng’ nào có thể làm câm lặng tiếng nói của những người yếu thế nhất; những mạng lưới giải phóng và cứu độ; những mạng lưới giúp chúng ta tái khám phá vẻ đẹp của việc nhìn thẳng vào mắt nhau; những mạng lưới của chân lý.”
“Như thế, mỗi câu chuyện về sự thiện được sẻ chia sẽ trở thành một mối thắt trong một mạng lưới duy nhất và bao la: mạng lưới của các mạng lưới, chính là mạng lưới của Thiên Chúa.”
Tiếp nối bầu khí cầu nguyện của ngày sống ấy, cộng đoàn quy tụ trong giờ cầu nguyện Taizé cho niềm hy vọng do Đức Hồng y Michael Czerny, Tổng trưởng Bộ Thăng tiến Phát triển Con người Toàn diện, chủ sự. Sau đó, mọi người lên đường hành hương đến đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức trong khu Vườn Vatican, nơi họ long trọng cử hành nghi thức dâng hiến sứ vụ kỹ thuật số cho Đức Trinh Nữ Maria.
Năm Thánh dành cho các Nhà Truyền giáo Kỹ thuật số và Những Người Công giáo có ảnh hưởng khép lại với một buổi tiệc, một đêm hội âm nhạc và chia sẻ chứng từ đức tin. Giữa bầu khí cử hành và sự trân trọng dành cho công việc của các nhà truyền giáo và những người có ảnh hưởng trong môi trường kỹ thuật số, vẫn thấp thoáng một dòng chảy ngầm, đó là cơn cám dỗ tìm kiếm sự nổi tiếng, lấy các thước đo của thế giới trực tuyến thay thế cho lời mời gọi của Tin Mừng.
Những tràng pháo tay cổ vũ dành cho các diễn giả và cho các “influencer” bước lên sân khấu cho thấy sự va chạm giữa những hệ giá trị khác nhau. Các chuẩn mực của văn hóa mạng dường như hòa trộn vào những trải nghiệm trong khán phòng. “Hãy làm điều ấy vì Chúa Giêsu,” hết diễn giả này đến diễn giả khác kêu gọi. Hãy nuôi dưỡng đối thoại và biết lắng nghe. Hãy xây dựng cộng đoàn. Thế nhưng, một mức độ cám dỗ nào đó vẫn còn hiện diện: người ta có thể đánh mất tầm nhìn về việc phục vụ Tin Mừng giữa những hào nhoáng của các hình thức cử hành mang màu sắc văn hóa giới trẻ đương đại.
Dẫu vậy, trong các phiên sinh hoạt cũng như trong những tương tác xã hội, vẫn toát lên một niềm lạc quan: lời mời gọi trở nên môn đệ truyền giáo rốt cuộc sẽ chiếm ưu thế và sinh hoa kết trái.
Hướng dẫn Hiệp hành cho việc Dấn thân trong Môi trường Kỹ thuật số
Sự hiện diện, tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa toàn cầu của các influencer Công giáo đang đặt ra cho Giáo Hội không ít vấn đề khi Giáo Hội suy tư về hình thức sứ vụ truyền giáo mới mẻ này. Những người hoạch định Thượng Hội Đồng cũng như các thành viên của các Bộ thuộc Giáo triều Rôma không hề xa lạ với những thách đố ấy.
Trong khuôn khổ chương trình của phiên họp đầu tiên thuộc Năm Thánh dành cho các Nhà Truyền giáo Kỹ thuật số và Những Người Công giáo có ảnh hưởng, các thành viên của nhóm nghiên cứu Thượng Hội Đồng về tính hiệp hành, trong đó có nữ tu Nathalie Becquart, XMCJ, Phó Tổng Thư ký Thượng Hội Đồng, Đức ông Ruiz và cha Spadaro, đã trình bày trước cộng đoàn những báo cáo xoay quanh chủ đề “những suy tư và cơ hội của sứ mạng Giáo hội trong kỷ nguyên kỹ thuật số.”
Trong suốt năm qua, nhóm này đã làm việc theo một tiến trình lắng nghe mang tính hiệp hành, cùng với các influencer, các giáo phận trên khắp thế giới, các học giả và những người làm mục vụ, nhằm tìm lời đáp cho một số câu hỏi then chốt do thế giới kỹ thuật số đặt ra, chẳng hạn như: “Một Giáo Hội hiệp hành mang tính truyền giáo có thể học được điều gì từ việc dấn thân sâu rộng hơn vào môi trường kỹ thuật số?”; “Làm thế nào để sứ vụ kỹ thuật số có thể được hội nhập một cách thường xuyên hơn vào đời sống Giáo hội cũng như vào các cơ cấu của Giáo Hội?”
Nói cách khác: Giáo Hội có thể học được gì từ các influencer? Và các influencer Công giáo có thể học được gì từ tiến trình Thượng Hội Đồng? Nhóm nghiên cứu đã nêu bật những điều mà các thành viên của họ đã lắng nghe và đúc kết được từ hành trình ấy.
Lấy cảm hứng từ nhóm công tác Thượng Hội Đồng đó, một cách để suy ngẫm về vai trò của các nhà truyền giáo kỹ thuật số và những influencer Công giáo có thể được rút ra ngay từ chính Thượng Hội Đồng. Bốn chủ đề từ Văn kiện cuối cùng của Thượng Hội Đồng có thể chỉ rõ vai trò của các nhà truyền giáo kỹ thuật số: phân định Giáo Hội (ecclesial discernment), đào tạo (formation), đời sống môn đệ truyền giáo (missionary discipleship), và cộng đoàn (community).
Phân định Giáo hội
Thế giới kỹ thuật số mang tiềm năng sâu sắc về sự hiểu biết mang tính hiệp hành. Dù việc dấn thân vào môi trường kỹ thuật số tự nó cũng là đối tượng của việc phân định Giáo Hội, lĩnh vực này cũng thúc đẩy phân định thông qua việc phát triển các mối dây kết nối giữa các tín hữu, bằng cách tạo nên những mối quan hệ cần thiết cho phân định Giáo Hội; nó cũng có thể cung cấp thông tin và kiến thức để hỗ trợ tiến trình phân định đó.
Quá trình phân định đã bắt đầu khi chúng ta nhìn vào số lượng thanh thiếu niên đã tham gia các hoạt động kỹ thuật số nhân danh Giáo Hội, dù các phản tỉnh chính thức vẫn còn chậm trễ. Các cơ cấu Giáo Hội đã tiếp nhận môi trường kỹ thuật số với nhiều năm kinh nghiệm trong truyền thông kỹ thuật số một chiều: trên toàn thế giới, việc sử dụng rộng rãi các trang web, trang mạng xã hội, các luồng thông tin trên mạng xã hội, việc sử dụng thường xuyên email và các cuộc họp trực tuyến, phát trực tiếp các nghi lễ và sự kiện… là điều phổ biến.
Bên cạnh những hoạt động mang tính thể chế này, các cá nhân tín hữu Công giáo, như các nhà truyền giáo kỹ thuật số họp mặt trong sự kiện Năm Thánh, tích cực tham gia vào các không gian kỹ thuật số mang tính tương tác thông qua việc viết blog, đăng bài trên các trang như Instagram và TikTok, cũng như tổ chức các nhóm cầu nguyện và suy ngẫm.
Thực hành này cho thấy một sự đồng thuận âm thầm nhưng rõ ràng rằng Giáo hội được mời gọi bước vào môi trường kỹ thuật số, không phải như một chọn lựa phụ thêm, nhưng như một cách thức để hiện diện, gặp gỡ và đồng hành với con người trong chính đời sống hằng ngày của họ. Điều đó đòi hỏi nơi Giáo hội thái độ biết lắng nghe và học hỏi, tiếp cận không gian kỹ thuật số với tinh thần khiêm tốn. Giáo Hội không phải là chủ nhân của môi trường này, cũng không thể kiểm soát cách con người sử dụng nó, nhưng có thể học hỏi từ chính nền văn hóa, ngôn ngữ và những cách diễn đạt đặc thù của thế giới kỹ thuật số.
Những người tham dự Năm Thánh đã cùng nhau nhận ra một lời mời gọi mạnh mẽ: phục vụ và loan báo Tin Mừng theo những cách thức mới mẻ trong và qua môi trường kỹ thuật số, đồng thời khám phá những cách thức khác nhau để sống và thể hiện căn tính Giáo hội. Sự hiện diện và việc loan báo Tin Mừng trong không gian số cần biết đón nhận những yếu tố tích cực của văn hóa số, các công cụ và lối tư duy của nó, như nghệ thuật kể chuyện, hình ảnh, âm nhạc, sự đồng hành, và những giá trị, mối quan tâm được chia sẻ chung.
Tuy nhiên, sự dấn thân này luôn cần được thực hiện trong tinh thần phân định, ở từng bước đi, để trước hết tìm kiếm Nước Thiên Chúa, đồng thời tỉnh thức trước những cám dỗ và thách đố mà chính văn hóa số mang lại.
Mọi sự phân định đối với môi trường kỹ thuật số cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những thách đố và nguy cơ mà nó đặt ra. Các tập đoàn tìm cách thương mại hóa mọi khía cạnh của không gian này; thông tin cá nhân trở thành món hàng trao đổi; các chính phủ và phong trào chính trị lợi dụng nó để tung ra tuyên truyền; định kiến và tin giả lan tràn; con người cư xử thiếu trách nhiệm, từ bắt nạt trên mạng cho đến bóc lột tình dục. Trước những thực tại ấy và nhiều thách đố khác, sự phân định của Giáo Hội giúp ta nhận ra và phân biệt điều xấu với điều tốt.
Xa hơn nữa, dù môi trường trực tuyến là một phương tiện mạnh mẽ có khả năng biến đổi văn hóa nhân loại, thế giới kỹ thuật số vẫn bị chia cắt giữa những người có điều kiện tiếp cận và những người bị bỏ lại phía sau. Nó cũng đòi hỏi những nguồn lực gây áp lực nặng nề lên môi trường sống. Trong không gian kỹ thuật số này, chúng ta có thể nhận ra một hình ảnh mới mẻ của dụ ngôn cỏ lùng và lúa tốt mà Chúa Giêsu đã kể (Mt 13,24-30).
Đào luyện
Thượng Hội đồng đã nhấn mạnh đến nhu cầu cần được đào luyện về phân định và về đời sống môn đệ. Điều này cũng áp dụng cho mối tương quan của Giáo hội với không gian kỹ thuật số, cả trong việc đào luyện chính Giáo hội lẫn đào luyện cho và về thế giới kỹ thuật số.
Trước hết, Giáo hội và những người thi hành tác vụ mục vụ cần được đào luyện cho chính mình, để khám phá những cách thức mới mẻ nhằm sống căn tính là Giáo hội. Các Giám mục, những người làm mục vụ và giáo dân đều được mời gọi nhìn nhận nghiêm túc tầm quan trọng của môi trường kỹ thuật số và nâng đỡ lẫn nhau. Những ai đang hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật số, các nhà truyền giáo kỹ thuật số và những người có ảnh hưởng, cần thường xuyên gặp gỡ các Giám mục của mình, là những vị có thể trao ban sự hướng dẫn và nâng đỡ thiêng liêng; đồng thời, các Giám mục cũng có thể lắng nghe họ và học hỏi từ chính kinh nghiệm của họ.
Bởi vì công việc của các thừa tác viên kỹ thuật số gắn liền với việc giáo lý, loan báo Tin Mừng nên những người dấn thân trong lĩnh vực này cần đến cả sự hướng dẫn thiêng liêng lẫn việc đào luyện đời sống thiêng liêng. Nhiều người, được thúc đẩy bởi sự phân định để chia sẻ đức tin của mình trong môi trường kỹ thuật số, có thể nhận ra rằng họ cần được củng cố sâu xa hơn nền tảng đức tin ấy.
Lời mời gọi của Thượng Hội Đồng về việc đào luyện trong phân định và đời sống môn đệ thúc đẩy các Giám mục, linh mục chánh xứ, các bề trên dòng tu và các cơ sở học thuật Công giáo nâng đỡ các nhà truyền giáo kỹ thuật số, ngay cả khi họ không thuộc mẫu hình truyền thống của các giáo lý viên hay những người loan báo Tin Mừng. Tất cả những ai gắn bó với môi trường kỹ thuật số đều cần được đào luyện, để học biết cách kết nối những người đang tìm hiểu đức tin và linh đạo Kitô giáo trên không gian mạng với những kho tàng phong phú của các giáo xứ và đời sống giáo xứ trong tương quan trực tiếp. Mọi người phải chống lại cám dỗ phân tách Giáo hội thành một bên “trực tuyến” và bên kia “trực tiếp”: chỉ có một Giáo Hội duy nhất, dù con người gặp gỡ Giáo hội bằng bất cứ cách thức nào, cũng như chính con người không tồn tại tách biệt giữa đời sống trực tuyến và đời sống ngoài đời thực.
Thứ hai, sự cần thiết của việc đào luyện cho những ai dấn thân trong lĩnh vực kỹ thuật số không chỉ giới hạn trong chiều kích thiêng liêng, mà còn mở rộng sang phương diện thực hành. Một đóng góp thiết thực cho tiến trình đào luyện này có thể là việc thiết lập các trung tâm nguồn lực ở cấp địa phương, khu vực, và thậm chí cả hoàn vũ, nơi mọi người có thể gặp gỡ hoặc tìm kiếm các tài liệu, chia sẻ các ý tưởng và những thực hành tốt nhất trong không gian kỹ thuật số.
Thứ ba, bên cạnh việc đào luyện cho thừa tác vụ trong môi trường kỹ thuật số, Giáo Hội và các thừa tác viên của mình cũng cần đào tạo chính những người mà các ngài gặp gỡ trên không gian mạng. Việc đào luyện này có thể mang nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như sự đồng hành và hướng dẫn thiêng liêng, suy tư luân lý, định hướng chính sách, cũng như các quy trình bảo vệ. Môi trường kỹ thuật số cũng phải trở thành một không gian đào luyện: một nơi để học hỏi về đức tin vào Đức Giêsu và lòng trung tín của Người. Tại đây, các giá trị Kitô giáo có thể đối trọng và chữa lành những giá trị tiêu cực của thế giới kỹ thuật số: Giáo Hội cổ võ các nhân đức, sự tôn trọng và lòng nhân ái trong môi trường kỹ thuật số, như chính Giáo Hội vẫn giảng dạy các giá trị của đời sống Kitô hữu. Những ai dành nhiều thời gian trong không gian mạng có thể được hưởng lợi từ một hình thức giáo dục truyền thông tương đương trong môi trường kỹ thuật số, điều mà Giáo Hội đã từng nâng đỡ trong những giai đoạn trước đây nhằm giúp con người hiểu rõ hơn những tác động của các phương tiện truyền thông hình ảnh như điện ảnh và truyền hình. Cả Giáo Hội lẫn những người tham gia trong không gian trực tuyến đều cần học hỏi và hội nhập vào nền văn hóa mới mẻ này.
Thứ tư, một thách đố lớn hơn trong công cuộc đào luyện của Giáo Hội là tìm ra những con đường thích hợp để có thể truyền đạt những tư vấn về luân lý và chính sách cho các chính phủ và các công ty truyền thông. Trong khi Giáo Hội và các thừa tác viên của mình phải hiểu biết và tuân thủ các luật lệ địa phương (chẳng hạn như những quy định liên quan đến việc bảo vệ an toàn và quyền riêng tư), thì đồng thời các ngài cũng được mời gọi cộng tác và dấn thân để tác động, định hướng và làm cho các luật lệ cũng như các thực hành ấy ngày càng phù hợp hơn với các giá trị Tin Mừng và phẩm giá con người.
Đời Sống Môn Đệ Thừa Sai
Thượng Hội đồng mời gọi Giáo Hội trở thành những môn đệ thừa sai, và không gian kỹ thuật số được đưa vào danh sách những nơi để đào luyện và hoạt động của đời sống môn đệ thừa sai. Giống như trong Năm Thánh, nhiều người dấn thân trong thế giới trực tuyến tự nhận mình là “các nhà truyền giáo kỹ thuật số”, những người “giảng dạy đời sống môn đệ và… đồng hành qua chứng tá.”[8] Hồng y Parolin đã nhấn mạnh điều này trong bài diễn văn tại Năm Thánh: “Các con không chỉ là những người sáng tạo nội dung, các con là những chứng nhân. Các con không chỉ xây dựng các nền tảng, các con đang xây dựng những cây cầu.”
Các nhà truyền giáo trực tuyến, cũng như mọi nhà truyền giáo khác, đảm nhận ba nhiệm vụ chính: công bố Tin Mừng, đào tạo các tín hữu và đồng hành, hướng đến những người cảm thấy thoải mái nhất trong môi trường kỹ thuật số, đặc biệt là giới trẻ. Giáo Hội không thể làm ngơ trước những người tìm kiếm này cũng như những người làm việc trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi một sự thay đổi trong thái độ, một sự nhận thức về một hình thức truyền giáo mới: Giáo Hội bước vào các không gian kỹ thuật số không như một cơ sở quyền lực, mà như một chứng nhân trước Chúa Kitô Phục Sinh, một người đồng hành đi bên những ai đang tìm kiếm Tin Mừng. Các hình thức biểu đạt có thể khác với giáo lý, thông điệp tông huấn hay bài giảng, nhưng các chứng tá ấy sẽ không kém phần chân thực nếu chúng có thể truyền đạt được các Tín điều của Giáo hội bằng ngôn ngữ của thời đại hôm nay.
Mặc dù đời sống môn đệ thừa sai luôn luôn bắt nguồn và gắn bó với Giáo Hội, các không gian trực tuyến mới có thể đòi hỏi việc tìm ra những phương thức mới trong việc thực thi quyền hạn và quản trị. Các nhóm thảo luận tại Năm Thánh đã xác định tính xác thực, trách nhiệm giải trình và sự gắn kết với cộng đồng là những yếu tố then chốt trong một hình thức quản trị mang tính tham gia hơn, điều này đòi hỏi các lãnh đạo Giáo Hội phải khích lệ và đồng hành cùng các người làm việc kỹ thuật số, đồng thời đảm bảo họ được đào luyện Kitô giáo đầy đủ và liên tục.
Cộng đồng
Thượng Hội Đồng kêu gọi “một Giáo Hội có khả năng hơn trong việc vun đắp các mối quan hệ: với Chúa, giữa nam và nữ, trong gia đình, trong cộng đồng địa phương, giữa các nhóm xã hội và tôn giáo, với toàn bộ tạo vật.”[9] Lời mời gọi này mở rộng đến và vượt ra ngoài không gian kỹ thuật số, nơi con người đã tụ họp và gặp gỡ nhau. Trong lời phát biểu khai mạc tại Năm Thánh, Tiến sĩ Ruffini đã nhấn mạnh: “Thật đẹp khi được hiện diện bên nhau… điều thực sự kết nối chúng ta không phải là mạng lưới, mà là điều gì đó vượt lên trên chúng ta: chính Thiên Chúa.” Ông còn lưu ý rằng Giáo Hội luôn là một mạng lưới, nhưng không phải là kết nối trực tuyến mà là kết nối giữa con người với con người. Những mối quan hệ cá nhân này dẫn đến cộng đồng; đây là một thách đố đối với Giáo Hội và cả thế giới kỹ thuật số. Giáo Hội cần thúc đẩy cộng đồng, tích hợp những gì xảy ra trực tuyến với những gì diễn ra trong các giáo xứ. Sự hiếu khách và chào đón phải trở thành đặc điểm nhận diện của Giáo Hội và các hoạt động trực tuyến của nó; các giáo xứ và cộng đồng địa phương cần mở rộng lòng hiếu khách đó đến với những người ưu tiên giao tiếp trực tuyến.
Giáo Hội có thể thúc đẩy tinh thần cộng đồng nơi những người làm việc kỹ thuật số của mình thông qua việc đồng hành, nuôi dưỡng trách nhiệm giải trình và chuẩn bị trong công tác bảo vệ. Giáo Hội cũng có thể tìm cách mở rộng một mạng lưới kết nối những người hoạt động trong môi trường kỹ thuật số ở các giáo phận và vùng miền khác nhau, đặt câu hỏi làm thế nào họ có thể tìm thấy sự hỗ trợ từ những linh hồn đồng điệu. Ví dụ, giống như đã từng thực hiện với những người làm việc trong các phương tiện truyền thông truyền thống, các văn phòng Giáo Hội có thể giúp các nhà lao động kỹ thuật số tổ chức các hiệp hội, hội thảo và nhóm hỗ trợ. Ở cấp bộ, cấp vùng, cấp giáo phận và thậm chí cấp giáo xứ, Giáo hội có thể cung cấp hướng dẫn, tài liệu đào tạo và những mối quan hệ tạo nền tảng cho cộng đồng các môn đệ. Năm Thánh chính là một minh chứng điển hình cho sự hỗ trợ như vậy.
Kết luận
Văn hóa kỹ thuật số sẽ không biến mất, dù giống như mọi nền văn hóa khác, nó sẽ phát triển và thay đổi theo thời gian. Giáo Hội không định nghĩa hay kiểm soát nền văn hóa đó, nhưng Giáo Hội được mời gọi tìm thấy trong đó một chỗ cho sứ vụ truyền giáo của mình. Như thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết trong Redemptoris Missio (RM): “Sau khi rao giảng tại nhiều nơi, thánh Phaolô đến Athen, nơi ngài đến Hội đồng Areopagus và công bố Tin Mừng bằng ngôn ngữ thích hợp và có thể hiểu được trong bối cảnh đó (x. Cv 17,22-31). Vào thời điểm đó, Areopagus là trung tâm văn hóa của những người học thức tại Athen, và ngày nay có thể được coi là biểu tượng cho những lĩnh vực mới mà Tin Mừng phải được công bố” (RM 37c).
Bản Tông huấn này đề cập đến thế giới truyền thông đại chúng, nhưng Areopagus ngày nay tồn tại trong văn hóa kỹ thuật số. Những gì Đức Giáo hoàng viết vào năm 1990 càng phù hợp hơn hôm nay: “Ở đây tồn tại một thực tại sâu xa hơn: vì chính việc truyền giáo cho văn hóa hiện đại phụ thuộc phần lớn vào ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, cho nên không đủ nếu chỉ sử dụng phương tiện truyền thông để lan tỏa thông điệp Kitô giáo và giáo huấn chân chính của Giáo Hội. Cũng cần thiết phải tích hợp thông điệp đó vào ‘nền văn hóa mới’ được tạo ra bởi các phương tiện truyền thông hiện đại. Đây là một vấn đề phức tạp, vì ‘nền văn hóa mới’ không chỉ phát sinh từ nội dung được truyền đạt, mà còn từ thực tế rằng tồn tại những cách thức giao tiếp mới, với ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới và tâm lý học mới. Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã nói rằng ‘sự tách rời giữa Tin Mừng và văn hóa chắc chắn là bi kịch của thời đại chúng ta’ (Evangelium Nuntiandi, số 20), và lĩnh vực truyền thông hoàn toàn xác nhận đánh giá này” (RM 37c).
Được Thiên Chúa liên tục đổi mới, Giáo Hội lại bắt đầu sứ vụ của mình trong Areopagus kỹ thuật số ngày nay.
Nguồn: La Civiltà Cattolica
Tác giả: Paul A. Soukup, S.J.
Chuyển ngữ: Gia Hân | CTV JESCOM – Truyền Thông Dòng Tên
