Thánh I-nhã : Tự do để yêu mến và phục vụ (V)

Thánh I-nhã : Tự do để yêu mến và phục vụ (V)

2717999670_97cd68e37dHoàng Sóc Sơn, SJ.

Chương V: ƠN GỌI TÔNG ĐỒ

             Khoảng cuối tháng 2 hay đầu tháng 3 năm 1522[1], thánh I-nhã rời Loyola, ra đi mà không hẹn ngày về. Đang cuối mùa đông, cảnh vật chung quanh chẳng có gì tươi vui[2]. Tại sao người chọn thời điểm ấy? Trước hết, chắc chắn vì ngài “thường xuyên nghĩ đến quyết tâm đã có và ước gì mình khỏi hoàn toàn rồi để lên đường”[3]. Mặt khác, chắc ngài đã âm thầm tính ngày giờ để đến Montserrat tham dự đại hội hằng năm vào cuối tháng 3. Ngoài ra, có thể ngài cũng muốn tránh gặp đoàn của Đức Giáo Hoàng tân cử Adrianô VI[4] sắp từ Vitoria đi Rôma. Chân ngài còn hơi đau và khập khiễng. Ngài mặc trang phục quý tộc, cỡi la. Trong túi hành trang có cuốn vở 300 trang chép tay[5], cuốn Các Giờ Kinh Đức Mẹ[6], và bút mực. Cùng đi với ngài có người anh linh mục[7] và hai gia nhân.

            Nơi đầu tiên ngài muốn đến là đền Đức Mẹ Aránzazu. Pedro de Leturia cho rằng điều này cho thấy thánh I-nhã vẫn theo lòng mộ mến của dân chúng địa phương[8].Thực vậy, mặc dầu đền Đức Mẹ Aránzazu chưa phải là lâu đời, nhưng đã ăn sâu vào đời sống dân chúng và các tầng lớp xã hội trong khu vực[9]. Hai điều quan trọng cần ghi nhận ở đây. Trước hết, ngài thuyết phục được người anh linh mục cùng đi và cùng canh thức với ngài. Thứ đến là 33 năm sau ngài viết cho thánh Phanxicô Borja: “Khi Thiên Chúa ban ơn cho tôi thay đổi đời sống, tôi nhớ là đã nhận được một số ích lợi cho linh hồn tôi khi canh thức một đêm ở nhà thờ ấy.”[10] Diego Laínez cho biết vì sợ nhất là sa ngã vào tội dâm ô, trên đường thánh I-nhã đã khấn khiết tịnh với Đức Mẹ[11]. Trước đó, ngài từng bị tấn công và gục ngã vì thói xấu xác thịt; nhưng từ đó Chúa ban ơn khiết tịnh ở mức độ rất cao, nên ngài rất ít gặp khó khăn[12]. Điều này có gì mới so với thị kiến ở Loyola? Về lần trước, thánh I-nhã nói từ đó ngài “không bao giờ mảy may ưng thuận với những cám dỗ xác thịt”. Về lần này, từ đó người rất ít gặp khó khăn về đức khiết tịnh. Nói cho chi li thì với lần trước, ngài có thể còn gặp nhiều khó khăn, mặc dầu không bao giờ ưng thuận; với lần này, ngài tiến thêm một bước là rất ít gặp khó khăn. Tuy nhiên, so với cả cuộc đời còn lại của ngài là 43 năm, khoảng cách vài tháng phải được coi là không đáng kể. Điều cần lưu ý là nhờ trung gian của Đức Mẹ mà ngài được ơn khiết tịnh.

            Luis Gonçalves da Câmara ghi nhận: “Từ ngày rời bỏ gia đình, đêm nào cha cũng đánh tội.”[13] Đối với thánh I-nhã, chắc chắn đây là điều mới. Tuy nhiên, một lần nữa, chúng ta thấy ngài vẫn theo thói quen thời ấy trong đời sống đạo đức: tự đánh mình để đền tội hoặc để tránh tội, đặc biệt theo gương các thánh ngài đọc được trong sách. Thực ra, mục đích chính của việc đánh tội không chỉ là tiêu cực, tự phạt mình vì đã phạm tội, nhưng cũng rất tích cực: để có thể tự chủ, không chiều theo cám dỗ, và hơn nữa thắng được bản thân để theo ý Chúa. Sau này, trong Linh Thao, ngài sẽ viết: “Linh Thao để tự thắng mình và tổ chức cuộc đời cho có trật tự mà không quyết định theo một tình cảm lệch lạc nào”[14]. Điều cần ghi nhận là muốn theo Chúa, ngài phải chiến thắng bản thân, vì thế ngài vận dụng phương thế của nền tu đức đương thời để đạt tới mục đích. Ngày nay, chắc không ai đánh tội nữa, nhưng vấn đề “thắng mình” để theo Chúa là vấn đề muôn thuở: phương thế có thể thay đổi, nhưng mục đích vẫn là một.

            Sau đêm canh thức ở Aránzazu, ngài chia tay người anh để đi Navarrete[15]. Hai anh em mỗi người theo một hướng và hình như không còn dịp nào gặp lại nhau nữa[16]. Navarrete cách Aránzazu khoảng 100 km đường núi về hướng nam[17]. Chắc ngài tránh đi qua Vitoria vì Đức Giáo Hoàng tân cử đang ở đó và hẳn là có đông người đến chúc mừng hoặc chuẩn bị tháp tùng ngài sang Rôma. Trong thời gian ngài dưỡng bệnh, Don Antonio đã “cho người đến thăm mấy lần”[18], nên khi bình phục, ngài phải đi thăm để cám ơn. Ngài kể: “Kẻ ấy nhớ là vị công tước còn nợ mình một số tiền, nên viết một hóa đơn cho viên quản lý. Người này cho biết ông không còn tiền để trả. Được tin ấy, vị công tước cho biết ông có thể thiếu tiền bất kỳ ai khác, nhưng không được thiếu một người thuộc gia đình Loyola. Vì những công trạng kẻ ấy đã lập được trong quá khứ, vị công tước còn muốn trao cho kẻ ấy một chức vụ quan trọng, nếu kẻ ấy muốn nhận. Kẻ ấy nhận tiền, thanh toán nợ nần, phần còn lại để sửa sang và trang hoàng một ảnh tượng Đức Mẹ đã cũ kỹ.”[19] Lúc ngài đến Navarrete, Don Antonio đang ở Nájera: hai người có gặp nhau không? Paul Dudon cho là không với câu hỏi: “Để làm gì?”[20] Tuy nhiên, Ricardo García-Villoslada cho là chắc Don Antonio đã gặp thánh I-nhã tại Navarrete[21].

            Thiết nghĩ điều quan trọng là nội dung trao đổi giữa hai người như thánh I-nhã kể lại. Thánh I-nhã xin được hưởng số lương mà có lẽ ngài chưa lãnh. Vị công tước đã khánh tận và bị cách chức phó vương, nên viên quản lý trả lời là không còn tiền để trả. Chắc đó là câu trả lời chung cho mọi người đến đòi thanh toán tiền bạc. Nhưng thánh I-nhã được hưởng luật trừ. Sau khi thanh toán nợ nần, ngài cho sửa sang và trang hoàng một ảnh hay tượng Đức Mẹ, có thể ở nhà thờ Navarrete hay ở một ẩn viện gần đó. Don Antonio cũng muốn trao cho ngài “một chức vụ quan trọng”[22], nhưng ngài tỏ ra hoàn toàn thờ ơ. Ngài “không mơ tưởng gì đến danh lợi nữa”[23].

           

Thánh I-nhã đã đến Navarrete đúng như đã nói với anh. Có lẽ trước khi cho hai gia nhân[24] về, ngài nhờ họ nhắn với người anh là là ngài đi Montserrat. Rồi một mình trên lưng la, ngài tiếp tục hành trình đã dự tính. Trước hết ngài phải vượt qua gần 400 km đường băng qua đồi núi về hướng đông, có lẽ theo lộ trình Logrono, Calahorra, Tudela, Zaragoza, Igualada, để đến Montserrat.

            Có hai điều được thánh I-nhã ghi nhận trên quãng đường này. Trước hết là việc hãm mình đền tội. “Khi nhớ đến một việc phạt xác các thánh đã làm xưa kia, kẻ ấy nghĩ mình cũng phải làm như vậy, và ngay cả hơn nữa. Tất cả mọi an ủi kẻ ấy có được đều xuất phát từ những ý tưởng như vậy. Kẻ ấy không hề chú tâm gì đến chiều sâu nội tâm, cũng chẳng biết thế nào là khiêm tốn, bác ái, kiên nhẫn, hay đức khôn ngoan là khuôn mẫu và thước đo các nhân đức ấy. Kẻ ấy chỉ có ý thực hiện những công to việc lớn bên ngoài, vì các thánh đã từng làm như vậy để tôn vinh Thiên Chúa mà không để ý gì đến những hoàn cảnh riêng của mỗi vị.”[25] Một mặt ngài theo quan niệm bình dân đương thời là sự thánh thiện được thể hiện qua sự khổ hạnh. Mặt khác, theo phong cách hiệp sĩ và tính khí riêng, ngài thích làm hơn cả cách thánh nữa. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào trong lòng ngài: “đầy những ước nguyện nóng bỏng theo Chúa bất kỳ cách nào biết được”, cách ngài biết được lúc ấy là phạt xác, nhưng ngài làm “không chỉ để đền tội, mà chính là để làm vừa lòng Chúa và vui lòng Chúa”[26]. Bên trong việc phạt xác là một lòng yêu mến nóng bỏng muốn làm bất cứ điều gì để tôn vinh Thiên Chúa[27]. Ngài chỉ “tối tăm” phương thế thôi.

            Thứ đến là chuyện gặp người Môrô. “Kẻ ấy đang đi đường thì có một anh chàng Môrô cỡi la bắt kịp. Trong khi hai bên trao đổi với nhau chuyện này chuyện kia, họ nói đến Đức Mẹ. Anh chàng Môrô nói chắc Đức Mẹ thụ thai mà không cần đến người nam, nhưng không thể tin là khi sinh con, Đức Mẹ vẫn còn đồng trinh. Anh ta đưa ra những lý lẽ thuộc bình diện tự nhiên nảy sinh trong trí. Mặc dầu kẻ hành hương đem bao nhiêu luận cứ ra chống đỡ, nhưng vẫn không làm được anh ta thay đổi ý kiến. Anh chàng Môrô lúc ấy phóng nhanh lên trước rồi mất hút; kẻ ấy nghĩ lại những điều vừa diễn ra. Một số cảm xúc trỗi dậy trong kẻ ấy và gợi lên trong lòng sự bất bình, vì kẻ ấy có cảm tưởng đã không tròn bổn phận. Lòng đầy tức giận anh chàng Môrô, và tự cho là mình đã sai khi để anh ta xổ ra những lời lẽ như vậy về Đức Mẹ, kẻ ấy thấy nhất định phải bảo vệ danh dự cho Đức Mẹ. Phải đuổi theo anh ta và cho anh ta mấy nhát dao găm, vì đã nói như vậy. Ý tưởng này thúc đẩy kẻ ấy một lúc lâu, nhưng cuối cùng kẻ ấy lưỡng lự, không biết phải làm gì. Trước khi phóng lên mất hút, anh chàng Môrô đã nói là sẽ đến một nơi cách đó không xa, gần ngay đường lớn, nhưng đường lớn không chạy ngang qua. Mãi không biết nên làm thế nào thì hơn, không quyết định dứt khoát được, kẻ ấy quyết định thế này: thả lỏng dây cương trên cổ la, để nó đi đến chỗ ngã ba; nếu nó theo con đường vào làng, kẻ ấy sẽ đi tìm anh chàng Môrô và cho anh ta ăn dao găm; nếu nó theo đường lớn, không vào làng, thì sẽ bỏ qua cho anh ta. Nghĩ sao kẻ ấy làm vậy, nhưng Chúa đã muốn cho con la theo đường lớn chứ không theo đường vào làng, mặc dầu làng chỉ cách đó 30 hay 40 bước, mà đường vào làng vừa rộng vừa tốt”[28].

            Có lẽ sự kiện diễn ra tại làng Pedrola, cách Zaragoza khoảng 33 km về hướng đông bắc, nơi có đông người Môrô[29]. Tây Ban Nha bị người Arập Hồi Giáo cai trị suốt 7 thế kỷ. Trong thời gian ấy, có một số người Tây Ban Nha theo Hồi Giáo. Người Tây Ban Nha gọi tất cả những người theo Hồi Giáo là Mô-rô. Khi Tây Ban Nha được giải phóng vào thế kỷ XV, một số người Môrô theo Công Giáo, nhưng chỉ theo ngoài mặt. Có thể đó là trường hợp của người Mô-rô trong câu chuyện này. Có lẽ hai người hỏi thăm nhau, và thánh I-nhã cho biết ngài mới viếng Đức Mẹ Bụi Gai và đang đi viếng Đức Mẹ Đen ở Montserrat, thế là câu chuyện xoay quanh đề tài về Đức Mẹ. Theo kinh Koran của Hồi Giáo, Đức Mẹ thụ thai do quyền năng của Thiên Chúa, chứ không phải do người nam[30]. Nhưng trong khi người Công Giáo tin Đức Mẹ đồng trinh cả trong khi sinh và sau khi sinh Chúa Giêsu, người Hồi Giáo cho rằng khi sinh Chúa Giêsu, Đức Mẹ không còn đồng trinh nữa[31]. Thánh I-nhã lúc ấy chưa hiểu biết bao nhiêu về giáo lý, nên không “bênh vực” được Đức Mẹ. Sau đó, ngài suy nghĩ và phản ứng theo phong cách hiệp sĩ: người Môrô kia đã xúc phạm đến danh dự của Đức Mẹ, nên bổn phận của người là phải “bảo vệ danh dự cho Đức Mẹ”. Nhưng có lẽ ngài lại bối rối: Chúa có cho phép giết người không? Lưỡng lự mãi, cuối cùng ngài để cho con la quyết định! Phương pháp tìm ý Chúa dưới mức thô thiển! Thực ra không chỉ một mình thánh I-nhã làm như vậy. Thời Trung Cổ, nhiều người tin rằng loài vật biết thánh ý Thiên Chúa. Don Quijote của Cervantes cũng thả dây cương con Rocinante để tùy nó quyết định chủ phải theo hướng nào[32]. Thánh I-nhã kể chuyện này có ý minh họa điều ngài nói là lúc ấy ngài còn tối tăm. Sau này ở Manresa, ngài sẽ được soi sáng.

            “Đến một làng lớn trước khi tới Montserrat, kẻ ấy mua quần áo dự tính sẽ mặc để đi Giêrusalem. Kẻ ấy mua loại vải bố, dệt thô và nhám, rồi may một cái áo dài đến gót chân. Kẻ ấy cũng kiếm được một cái gậy và một bi đông, buộc tất cả vào cái yên trên lưng con la.”[33] Chắc thánh I-nhã nói đến làng Igualada, ngay dưới chân Montserrat, địa điểm nổi tiếng về vải vóc và may mặc cho giới bình dân. Ngài “quyết định tại đó sẽ cởi bỏ trang phục đang mặc để mang trang phục của Đức Kitô”[34]. Giờ đây ngài “đã có trong tay trang phục riêng của các hiệp sĩ Đức Kitô, những người muốn theo Vua và Chúa mình trong thanh bần tột bậc, cả trong tinh thần cũng như trong thực tế”[35]. Sau 20 ngày đường, vượt qua khoảng 550 km, giờ đây thánh I-nhã sẵn sàng ra mắt Đức Mẹ Đen.

           

Montserrat[36], cách Barcelona hơn 30 km về hướng tây bắc, là địa điểm hành hương “rất nổi tiếng trên toàn Tây Ban Nha, chỉ thua Guadalupe”[37]. Trước hết đó là một thắng cảnh. Do ánh sáng mặt trời, cảnh sắc thiên nhiên của dãy núi thay màu đổi sắc liên tục. Trên núi, người ta có được một cái nhìn bao quát cả khu vực rộng lớn chung quanh. Vào những ngày trời quang mây tạnh, người tinh mắt có thể thấy được cả Địa Trung Hải ở chân trời. Thứ đến, đó là một địa điểm mang đậm màu sắc tôn giáo. Hai nét nổi bật về phương diện này là Dòng Biển Đức và tượng Đức Mẹ Đen. Vào thế kỷ VI, các đan sĩ Biển Đức đến lập một tu viện ở chân núi. Dòng Biển Đức thường chọn những nơi cảnh trí đẹp để tu, vì quan niệm phần nào như Platon: “Cái Đẹp là vẻ huy hoàng của Sự Thật.” Trên những đỉnh cao, có một số chòi ẩn tu, không dễ mấy ai đến được. Chẳng những đẹp về địa điểm, đan viện dòng Biển Đức còn muốn đẹp cả về kiến trúc, âm nhạc và phụng vụ nữa, như hình ảnh của thiên đàng. Khi người Arập chiếm đóng Tây Ban Nha, các đan sĩ phải di tản, một tượng Đức Mẹ được các đan sĩ cất giấu trong một chòi nào đó, rồi quên mất. Năm 880, người ta tìm lại được. Một nhóm mục tử một hôm thấy ánh sáng và nghe tiếng hát trên núi nhiều lần. Họ báo cho cha sở. Chính vị này đến cũng thấy ánh sáng và nghe tiếng hát nên trình với giám mục. Chính đức cha cũng thấy ánh sáng và nghe tiếng hát. Bức tượng được tìm thấy trong một cái động. Người ta đặt tên cho bức tượng theo tiếng địa phương là La Moreneta (Bà Đen Nhỏ). Một nhà nguyện được xây dựng để kính Đức Mẹ Đen[38]. Cuối thế kỷ X, tu viện Biển Đức được tái lập và việc tôn sùng Đức Mẹ Đen được phổ biến rất nhanh, vì truyền tụng có nhiều phép lạ. Các cuộc hành hương được tổ chức thường xuyên: người đến xin ơn, kẻ đến tạ ơn.

            Có thể trước đó thánh I-nhã chưa đến Montserrat, nhưng chắc chắn ngài phải nghe nói, vì đó là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng nhất Tây Ban Nha[39], và vợ cũng như chị (hay em gái) công tước Nájera rất mộ mến. Ngài theo con đường ngoằn ngoèo dẫn lên đến đan viện ở điểm cao 725 mét, xin ở nhà khách đan viện vào tối ngày 21.3.1522. Không biết vì Đức Mẹ Đen hay vì đan viện Biển Đức mà thánh I-nhã đến Montserrat. Có lẽ ngài đến vì lòng mộ mến Đức Mẹ, nhưng Chúa cho ngài đến ngay điểm đang nhen nhúm ngọn lửa canh tân trong Hội Thánh để chuẩn bị ngài góp phần vào công cuộc canh tân Hội Thánh. Hôm ấy là lễ thánh Biển Đức[40], và cũng khởi đầu 3 ngày đại hội mừng lễ Truyền Tin, nên chắc là một thời điểm nhiều khách hành hương[41].

Trong những năm 1500-1520, đan viện Montserrat có 50 đan sĩ, 12 ẩn sĩ, 40 giáo dân và hiến sinh cùng với 15 đệ tử. Đời sống đan viện được coi là trật tự và phong phú. Trọng tâm của đời sống Biển Đức là thánh lễ và kinh thần vụ. Đặc biệt ở Montserrat việc suy niệm và chiêm niệm được đề cao. Thực ra đây là một lò canh tân Hội Thánh. Nhân vật nổi bật của Montserrat là viện phụ Garcia Ximenes de Cisneros (+1510), người anh em chú bác với hồng y nhiếp chính Gonzalo Ximenes de Cisneros. Ngài cho rằng thời kỳ của những thủ bản viết tay nắn nón thật đẹp đã qua rồi, nên cho lập nhà in ngay tại đan viện. Ngài là một trong những người đưa vào Tây Ban Nha Devotio Moderna, phong trào canh tân đời sống thiêng liêng bằng việc cá nhân hóa và nội tâm hóa[42]. Hai tác phẩm “Luyện Tập Đời Sống Thiêng Liêng” “Hướng Dẫn Các Giờ Kinh Thần Vụ”[43]của ngài được phổ biến rộng rãi thời ấy đã đưa Devotio Moderna vào đời sống thiêng liêng vào Tây Ban Nha.

Ở đan viện Monserrat, có các vị linh hướng thuộc nhiều quốc tịch, đáp ứng nhu cầu của khách hành hương quốc tế. Linh hướng cho thánh I-nhã là cha Jean Chanon, người Pháp[44]. Ricardo García-Villoslada cho rằng thánh I-nhã thật là may mắn gặp được một đan sĩ thánh thiện và khôn ngoan như vậy[45]. Con người thánh thiện và giàu kinh nghiệp thiêng liêng ấy hẳn là dễ dàng nhận ra chàng công tử Inigo không phải là một kẻ tầm thường. Trong 3 ngày 3 đêm vị linh mục giúp chàng công tử cầu nguyện, xét mình và xưng tội chung. Có lẽ thánh I-nhã trình bày với ngài toàn bộ đời sống quá khứ, ý định đi Giêrusalem, rồi sau đó chưa biết sẽ phải vào dòng Chartreux hay sống như các vị ẩn tu. Trong 3 ngày, thánh I-nhã được dạy dỗ về đời sống thiêng liêng và xưng tội chung. Gần như chắc chắn nội dung là cách thức cầu nguyện và những bài tập về đời sống thanh luyện. Thánh I-nhã có đọc cuốn Luyện tập đời sống thiêng liêng[46]không? Ngài chỉ ở Montserrat 3 ngày, chắc chắn không có giờ để đọc kỹ và đọc hết. Ba ngày không phải là trường hợp cá biệt, vì thời ấy các tập sinh xưng tội lần đầu, khi mới vào đan viện, còn lâu hơn nữa. Trong ba ngày ấy, thánh I-nhã suy niệm theo các đề tài cuốn Thực hành đời sống thiêng liêng đã dọn sẵn, xét mình, ghi lại các tội lỗi nhớ được trên giấy. Hôm trước lễ Truyền Tin, ngài đọc bản xét mình cho cha giải tội nghe và nhận ơn xá giải. Ribadeneira cho rằng “Anh em Dòng Tên chúng ta phải tạ ơn Thiên Chúa vì sau khi thoát khỏi sóng gió trần gian đã đến được cửa ấy, đã gặp được một cha giải tội như vậy, và đã tận dụng được cuốn sách như thế.”[47]

Trên đường lên Montserrat, thánh I-nhã đã quyết định sẽ thực hiện hai điều: “làm một đêm canh thức võ trang, trọn một đêm, không ngồi hay nằm, nhưng khi thì đứng, lúc thì quì trước bàn thờ Đức Mẹ ở Montserrat” “cởi bỏ trang phục đang mặc để mang trang phục của Đức Kitô.”[48] Sau khi thanh luyện tâm hồn, ngài thi hành ý định:

“Vào lúc đêm xuống, kẻ ấy ra đi, hết sức kín đáo. Tìm được một người nghèo, kẻ ấy cởi bỏ trang phục của mình, cho người ấy, và mặc chiếc áo mình từng ao ước. Kẻ ấy đến quì trước bàn thờ Đức Mẹ, tay cầm gậy, ở đó suốt đêm, khi quỳ, lúc đứng.”[49]

Trang phục là dấu hiệu bên ngoài cho thấy một hiệp sĩ đang phục vụ ai. Các hiệp sĩ thuộc về cùng một thủ lãnh có trang phục giống nhau và huy hiệu của thủ lãnh. Khi thay đôi thủ lãnh, hiệp sĩ cũng thay đổi trang phục. Trong một cuộc hội diễn, chẳng hạn những ngày mừng vua Carlos I ở Valladolid, các hiệp sĩ mặc trang phục khác nhau, nhưng nhìn vào trang phục, người ta biết hiệp sĩ nào thuộc về ai. Phần nào giống ngày nay như học sinh có đồng phục của trường mình, hay công nhân viên có đồng phục của công ty mình… Do đó, thánh I-nhã không chỉ thay đổi trang phục bên ngoài, nhưng ngài muốn diễn tả việc ngài nhận Chúa Giêsu làm thủ lãnh mới. Sau này, trong Hiến Chương Dòng Tên (số 101), thánh I-nhã muốn người vào Dòng Tên phải mang trang phục của Đức Kitô. Trong Linh Thao, thánh I-nhã cho biết cờ hiệu của Chúa Giêsu là thanh bần, sỉ nhục, khiêm tốn[50]. Cởi bỏ trang phục quý tộc, mang trang phục của người hành hương, thánh I-nhã muốn nói lên việc mình đã là một người mới, đã trở thành hiệp sĩ của Chúa Giêsu, như các thánh mà ngài đọc được trong sách truyện[51]. Trong thư ngày 7.8.1547, thánh I-nhã viết: “Kết thân với người nghèo, chúng ta sẽ trở thành bạn của Đức Vua muôn đời” “Ai tự nguyện trở nên nghèo về của cải trần gian sẽ được giàu có về ân huệ của Thiên Chúa”[52].

Trong trang phục mới, đêm hôm rạng lễ Truyền Tin, thánh I-nhã đến trước tượng Đức Mẹ Đen, có lẽ vào giờ kinh chiều, treo kiếm và dao găm ở bàn thờ , rồi tay cầm gậy, thực hiện đêm “canh thức võ trang”[53]. Canh thức trước tượng Đức Mẹ Đen là tập tục thường xuyên và đã có từ lâu đời[54]. Điều đặc biệt là thánh I-nhã thực hiện đúng theo nghi thức tấn phong hiệp sĩ mà ngài đọc được trong sách truyện[55]. Việc cầu nguyện kéo dài suốt đêm. Hiệp sĩ phải mặc áo giáp, mang kiếm và dao găm, quỳ bao lâu còn quỳ được. Muốn nghỉ, được phép đứng lên, nhưng không bao giờ được ngồi hay nằm. Buổi canh thức chỉ được thực hiện một lần trong đời, vào đêm hôm trước ngày được nhận làm người phục vụ một lãnh chúa. Trước khi canh thức, phải xưng tội và sau khi canh thức phải rước lễ. Chắc chắn thánh I-nhã muốn trở nên hiệp sĩ hay đầy tớ và môn đệ của Chúa Giêsu nhân ngày lễ mừng Chúa nhập thể. Nhìn bên ngoài, có thể ngài làm một điều kỳ dị, nhưng Polanco giải thích: “Như thế, người chiến sĩ mới của Đức Kitô bắt đầu sử dụng võ khí mới để phục vụ, không phải một vua chúa trần gian, nhưng là Đức Vua uy quyền trên trời.”[56]Theo Dudon, nội dung đêm canh thức sau này được chuyển thành bài chiêm niệm Nhập Thể của Linh Thao[57]. Theo Ricardo García-Villoslada, đó là Kinh Dâng Hiến kết thúc Linh Thao[58].

            Có thể nói Montserrat đánh dấu quyết tâm của thánh I-nhã hoàn toàn dứt khoát với quá khứ để trở thành một con người mới, chẳng những trước mặt Thiên Chúa, nhưng ngay cả trước mặt người đời. Ngài đã tặng con la cho đan viện để cám ơn, rồi sau khi dự lễ và rước lễ, có lẽ trước khi trời sáng, ngài đi bộ xuống núi, mình mặc áo vải gai dài đến gót chân, tay cầm gậy dài, chân phải mang dép (vừa đỡ đau ở vết thương cũ, vừa để hai chân cao bằng nhau), lưng đeo balô đựng vài quyển sách, một tay chống gậy, một tay xách bình nước.

            Thánh I-nhã không đi thẳng đến Barcelona để đón tàu đi Rôma và rồi đi Giêrusalem, nhưng ngài hướng về Manresa, một làng cách Montserrat chừng 20 km về hướng bắc. Tại sao? Chính thánh I-nhã cho biết: “Sáng tinh sương, kẻ ấy ra đi, để khỏi ai biết. Kẻ ấy không theo đường đến thẳng Barcelona, vì sợ có thể gặp nhiều người quen biết và kính nể, nhưng đi đường vòng đến một làng gọi là Manresa để lưu lại trong một nhà tế bần, ở đó mấy ngày và ghi chép đôi điều trong cuốn vở kẻ ấy giữ rất cẩn thận và đem lại cho kẻ ấy nhiều an ủi.”[59] Vì ngài không nói rõ, chúng ta có thể phỏng đoán như sau[60]. Một phần vì ngài muốn tránh đoàn của Đức Giáo Hoàng tân cử Adrianô VI[61], một phần vì ngài cần nghỉ ngơi lại sức trước khi thực hiện chuyến đi dài ngày, mặt khác ngài muốn ghi chép những điều cảm nghiệm từ khi rời Loyola, nên Jean Chanon khuyên ngài đến làng Manresa[62]. Sau đó, ở Manresa, người ta cho biết là Barcelona đang bị bệnh dịch hạch hoành hành, không ai được phép vào, nên ngài phải lưu lại[63]. Mấy ngày của thánh I-nhã kéo dài hơn 10 tháng! Theo Javier Melloni Ribas, ‘mấy ngày’ trong tiếng Castellano cổ có nghĩa là ít lâu. Vì đan viện Montserrat chỉ cho một khách hành hương ở tối đa 3 ngày, nên thánh I-nhã theo lời khuyên của cha Jean Chanon đến ở trong nhà tế bần dành cho người nghèo và thỉnh thoảng trở lại gặp cha ở Montserrat[64]. Bên trên những nguyên nhân tự nhiên, có lẽ còn phải thấy là Thiên Chúa thường gây bất ngờ: con người không dễ gì lên chương trình cho Thiên Chúa được[65].

            Thánh I-nhã đến Manresa khoảng trưa hay chiều ngày 25.3.1522. Gần đến Manresa, ngài gặp một nhóm bốn phụ nữ và hai thiếu niên. Bà Inés Pascual[66] nhớ lại hình ảnh ngài trong lần gặp đầu tiên tại Manresa : “Không cao lớn mấy, nước da trắng trẻo, hồng hào, nét mặt đẹp trai, đặc biệt ánh mắt rất khiêm tốn… dáng vẻ rất mệt mỏi và chân phải khập khiễng.”[67]Ngài hỏi họ nhà tế bần ở đâu để ngài xin ở trọ. May mắn một trong 4 phụ nữ là bà Jerónima Claver phục vụ tại nhà tế bần Santa Lucia, nên ngài đến xin trọ tại đó[68]. Nhà tế bần Santa Lucia ở ngoài tường thành là một ngôi nhà tường đá, mái ngói, chỉ có một phòng đặt 4 cái phản gỗ dành cho bệnh nhân nghèo và người không có nhà ở[69].

Hiện nay, Manresa là một đô thị công nghiệp với 65 ngàn dân, đường xá đi lại rất thuận tiện. Vào thời thánh I-nhã, Thung Lũng Địa Đàng[70] Manresa, với con sông nhỏ Cardoner chảy giữa những cánh rừng bậc thang và những cánh đồng đầy hoa, là một làng bông vải nhỏ bé và hẻo lánh với khoảng 2000 dân, đa số làm nghề trồng, chế biến hay buôn bán bông vải. Về mặt tôn giáo phải công nhận là Manresa có rất nhiều cơ sở. Ngoài Nhà Thờ Lớn[71], một công trình kiến trúc đáng kể của thế kỷ XIV trên điểm cao nhất đô thị, cạnh bờ sông, còn có khoảng 20 nhà thờ, nhà nguyện, đền, tu viện và ẩn viện. Đây đó bên đường, người ta dựng những cây thánh giá bằng đá cao khoảng 3-4 mét và được dân chúng rất sùng kính. Nhưng đậm nét hơn hết vẫn là lòng sùng kính Đức Mẹ.

Hằng ngày, thánh I-nhã đến Nhà Thờ Lớn[72] “dự lễ hát, dự các giờ kinh chiều và kinh tối, luôn luôn hát, và kẻ ấy được an ủi nhiều”[73]. Trở về nhà tế bần, ngài giúp đỡ bệnh nhân và ngủ đêm. “Hằng ngày, kẻ ấy đi ăn xin tại Manresa. Kẻ ấy không ăn thịt, không uống rượu, mặc dầu người ta cho. Các Chúa Nhật, kẻ ấy không ăn chay, và nếu ai cho một chút rượu thì kẻ ấy uống.”[74] Chẳng bao lâu, ngài trở thành nổi tiếng ở Manresa: mặc áo dài đến gót, một chân mang dép một chân không. Chẳng những vậy, “trước đây, chạy theo thời trang, kẻ ấy từng rất lưu tâm chăm sóc mái tóc của mình, vốn rất đẹp; nay kẻ ấy để mặc râu tóc mọc tự nhiên, không chải, không cắt, để đầu trần cả ngày lẫn đêm. Cũng vậy, kẻ ấy để móng chân móng tay tha hồ mọc, vì trước kia từng chăm lo quá.”[75] Chắc chắn đó là một con người kỳ dị: trẻ em gọi ngài là “ông bao bố”[76]. Đối với người lớn thì khác. Mỗi ngài quỳ gối cầu nguyện 7 giờ, đánh tội 3 lần[77]. Các nơi ngài thường đến cầu nguyện là tu viện dòng Thánh Đaminh[78], tu viện Thánh Clara[79], đền Đức Mẹ Cứu Rỗi[80]. Đặc biệt sau này ngài thường đến một hang đá bên bờ sông[81], nơi hoàn toàn thanh vắng, để cầu nguyện. Thấy ngài sống nghèo, siêng năng cầu nguyện và giúp đỡ bệnh nhân, người ta kính phục và gọi là “ông thánh”[82]. Qua cử chỉ và cách nói, lại có những người nhận ra ngài từng mặc quần áo quý tộc ở Montserrat, người ta biết ngài thuộc tầng lớp quý tộc. “Mặc dầu đã hết sức tránh việc người ta tỏ lòng quí trọng, kẻ ấy mới đến Manresa chưa được bao lâu thì người ta đã nói nhiều điều về kẻ ấy, tất cả vì những gì đã diễn ra tại Montserrat. Kẻ ấy càng nổi tiếng hơn và người ta nói còn hơn cả sự thật nữa: thí dụ kẻ ấy đã từ bỏ một gia tài kếch sù, v.v…”[83]

“Lúc dự lễ, kẻ ấy thường đọc Bài Thương Khó, tâm hồn lúc nào cũng sốt sắng”[84]. Có lẽ thánh I-nhã dùng cuốn Sách Các Giờ Kinh Đức Mẹ, trong đó có các giờ kinh thần vụ rút ngắn, và thường có cả Bài Thương Khó theo thánh Gioan[85] hay Bài Thương Khó hợp tuyển dựa trên 4 Tin Mừng. Năm 1598, cha Balduin Delange cho biết là vào năm 1551, thánh I-nhã có nói với cha ấy là ngài đã dùng quyển sách ấy lúc ngài mới hoán cải[86]. Thời ấy, linh mục cử hành thánh lễ bằng tiếng Latinh. Hầu hết giáo dân không hiểu gì, nên thường đọc và suy ngắm cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu. Một quyển sách khác trở thành sách gối đầu giường của thánh I-nhã là quyển Gương Chúa Giêsu. Luis Gonçalves da Câmara cho biết: “Ở Manresa, lần đầu tiên ngài gặp quyển Gương Chúa Giêsu[87], và từ đó không bao giờ ngài muốn tìm đọc cuốn sách đạo đức nào khác nữa… Mỗi ngày ngài đọc một chương theo thứ tự…”[88] Nói chung, thánh I-nhã khởi đầu những ngày tháng tại Manresa với những điều khá bình thường, không có gì độc đáo, thậm chí có thể nói là ngày nay không còn thích hợp nữa, nhưng đó là giai đoạn ngài sống trong “niềm vui mãnh liệt và liên tục”, mặc dầu “chưa biết gì về đời sống nội tâm hay đời sống thiêng liêng”[89].

Giai đoạn hạnh phúc đơn sơ và hồn nhiên, phần nào ngây ngô, trên đây được ước lượng là kéo dài trong 4 tháng[90]. Ngài cảm nhận niềm vui của một người từ bỏ mọi sự, trở nên bé nhỏ, để nhận lấy Chúa làm gia nghiệp, mặc dầu chưa hiểu biết bao nhiêu về đời sống thiêng liêng. Kế đến là giai đoạn thử thách. Những cám dỗ đầu tiên đã khởi sự ngay trong giai đoạn đầu:

“Trong thời gian ở nhà tế bần, nhiều lần giữa ban ngày ban mặt, kẻ ấy thấy trong không khí, gần mình, một điều gì đó đem lại cho mình nhiều an ủi, vì nó tuyệt đẹp. Kẻ ấy chưa hiểu thực sự nó là gì, nhưng phần nào kẻ ấy thấy nó có hình dạng một con rắn, với nhiều điểm lấp lánh như những con mắt, nhưng không phải mắt. Thấy nó, kẻ ấy rất thích và được an ủi nhiều. Càng nhìn, kẻ ấy càng được an ủi hơn, và khi nó biến đi, kẻ ấy buồn”[91]“Trong thời gian thấy hình ảnh ấy, hoặc ít lâu trước khi nó bắt đầu xuất hiện, vì điều ấy kéo dài nhiều ngày, một ý nghĩ dai dẳng quấy rầy kẻ ấy là khó lòng sống được như vậy mãi. Làm như có ai nói trong đáy lòng kẻ ấy: ‘Làm sao mi chịu đựng nổi cuộc sống này suốt 70 năm còn lại?’ Nhận ra đó là tiếng nói của kẻ thù, kẻ ấy đáp lại rất mạnh mẽ trong lòng: ‘Ồ! Đồ khốn kiếp! Mày có hứa cho tao sống được một giờ không?’ Thế là kẻ ấy thắng được cám dỗ và lấy lại bình an.”[92] Thánh I-nhã cảm thấy có điều gì đó khác thường. Một cái gì đó tuyệt đẹp, có hình dạng một con rắn, có nhiều điểm lấp lánh… Có phải do đói và thiếu ngủ mà ngài hoa mắt không? Liên hệ với hình ảnh ấy lại là câu hỏi: có sống được như vậy 70 năm không? Đến đây, ngài nhận ra là một cám dỗ bỏ cuộc, và ngài chiến thắng khá dễ dàng. Nhưng đó mới chỉ là màn giáo đầu báo hiệu những sóng gió đang ập đến.

            Sau cám dỗ nói trên, kẻ ấy bắt đầu cảm thấy có những thay đổi đáng kể trong tâm hồn. Đôi khi kẻ ấy cảm thấy khô khan nguội lạnh đến nỗi không còn thú vị gì khi đọc kinh, dự lễ hay cầu nguyện bất kỳ cách nào. Đôi khi ngược hẳn lại, kẻ ấy đột ngột có cảm tưởng tất cả buồn chán và sầu khổ được cất đi như người ta tháo bỏ cái áo choàng ra khỏi vai. Kẻ ấy ngạc nhiên về các thay đổi này, vì trước kia chưa bao giờ trải qua, nên tự hỏi: "Mình bắt đầu cuộc sống mới nào đây?”[93] Có thể nói sau khi được Chúa bồng bế và nâng niu, giờ đây ngài bắt đầu phải tập đi. Ngài ngạc nhiên: đôi khi thấy Chúa thật xa, đôi khi lại thấy thật gần, giống như bà mẹ lúc cầm hai tay dẫn con bước đi, lúc buông hai tay ra khiến con hốt hoảng. Đúng là ngài bắt đầu cuộc sống mới, hay đúng hơn là một giai đoạn mới trong đời sống thiêng liêng.

“Trong thời gian này, đôi khi kẻ ấy trao đổi với những người đạo đức kính trọng kẻ ấy và muốn nói chuyện với kẻ ấy, vì mặc dầu không hiểu biết gì các vấn đề của đời sống thiêng liêng, các lời nói của kẻ ấy cho thấy kẻ ấy rất sốt sắng và quyết tâm tiến tới trong việc phục vụ Thiên Chúa. Lúc ấy ở Manresa có một bà đã cao tuổi, đã phục vụ Thiên Chúa từ lâu, được nhiều người ở Tây Ban Nha nhìn nhận như vậy, đến nỗi có lần vị Vua Công Giáo đã mời bà đến để xin ý kiến[94]. Một hôm người phụ nữ ấy nói chuyện với người lính mới của Đức Kitô[95]. Bà nói: ‘Ôi, ước gì có ngày Chúa Giêsu Kitô hiện ra với anh!’ Rất ngạc nhiên và hiểu lời ấy theo nghĩa đen, kẻ ấy đáp lại: Đời nào Chúa Giêsu Kitô lại hiện ra với con!”[96] Chúa vẫn nâng đỡ ngài qua những người đạo đức: chẳng những khích lệ ngài mà còn hướng ngài về một hy vọng được thấy Chúa hiện ra.

            “Đến đây, kẻ ấy bắt đầu bị khuấy động mạnh vì các bối rối[97]. Mặc dầu ở Montserrat, kẻ ấy đã xưng tội chung rất cẩn thận, viết hết ra giấy như đã nói, đôi khi kẻ ấy thấy như còn gì đó chưa xưng thú, nên bị dằn vặt nhiều. Mặc dầu có xưng thú hết rồi, kẻ ấy vẫn chưa yên lòng. Vì vậy, kẻ ấy bắt đầu đi tìm những người đạo đức để chữa trị bệnh bối rối. Nhưng uổng công. Cuối cùng, một người thông thái ở nhà thờ Chính Tòa[98], một người rất đạo đức, thường giảng ở nhà thờ ấy, một hôm, trong tòa giải tội, bảo kẻ ấy viết ra tất cả những gì nhớ được. Kẻ ấy làm theo, nhưng sau khi kẻ ấy xưng tội, các bối rối trở lại mỗi lần một tinh vi hơn, nên kẻ ấy hết sức khổ tâm. Kẻ ấy biết là các bối rối ấy làm hại mình nhiều, nên phải xua đuổi đi, nhưng không sao xua đuổi được. Đôi khi kẻ ấy nghĩ là muốn chữa trị được, cha giải tội phải nhân danh Chúa Giêsu ra lệnh cho kẻ ấy không được xưng lại bất cứ điều gì trong quá khứ nữa. Kẻ ấy mong nhận được lệnh như vậy, nhưng không dám đề nghị với cha giải tội. Tuy nhiên, mặc dầu kẻ ấy không nói với cha giải tội, ngài đã ra lệnh cho kẻ ấy không được trở lại với quá khứ, trừ phi có gì rất rõ. Khốn nỗi đối với kẻ ấy cái gì cũng rất rõ, nên lệnh ấy chẳng đem lại ích lợi nào. Day dứt vẫn nguyên.”[99]Như bà mẹ, giờ đây Chúa buông hẳn tay ra, để thánh I-nhã tự đi một mình. Có thể nói ngài chới với như người đang rơi lơ lửng trên không. Những bối rối đưa ngài đến chỗ hoàn toàn mất định hướng.

            “Lúc ấy, trong một phòng nhỏ các cha Đaminh cho ở tại đan viện[100], kẻ ấy trung thành mỗi ngày quỳ gối cầu nguyện 7 giờ [101], hôm nào cũng thức dậy vào nửa đêm[102], và làm tất cả các việc đạo đức khác như đã nói[103]. Dầu vậy, kẻ ấy không tìm ra phương thuốc chữa trị bệnh bối rối đã hành hạ mình từ mấy tháng rồi. Một lần, quá rời rã, kẻ ấy đi cầu nguyện và tha thiết kêu gào thật lớn với Thiên Chúa: ‘Lạy Chúa, xin cứu con! Không còn ai, không còn thụ tạo nào cứu chữa được con nữa. Nếu biết phải làm thế nào thì khó khăn đến đâu con cũng làm. Lạy Chúa, xin cho con biết phải tìm ở đâu. Dù có phải đi theo một con chó con để tìm được thuốc chữa trị, con cũng sẽ đi.’ Trong lúc đang miên man với những ý tưởng ấy, các cơn cám dỗ dồn dập tấn công, mãnh liệt thôi thúc kẻ ấy lao mình vào một hố sâu trong phòng, gần nơi kẻ ấy cầu nguyện. Nhưng biết tự tử là phạm tội, nên kẻ ấy lại kêu gào lên: ‘Lạy Chúa, con nhất định không làm gì xúc phạm đến Chúa!’ Kẻ ấy lặp đi lặp lại những lời này cũng như những lời trên kia nhiều lần.”[104] Có lẽ khởi đi từ việc nhớ lại tội lỗi đã phạm trong quá khứ, thánh I-nhã cảm thấy bối rối, và bị khủng hoảng. Ngài không biết có được Chúa tha thứ không, rồi rơi vào tình trạng hoàn toàn tuyệt vọng. Cuối cùng, ngài bị cám dỗ tự tử[105]. Phần nào giống Giona bị xô xuống vực thẳm: "Ngài đã ném con vào vực sâu, giữa lòng biển, làn nước mênh mông vây bọc con, sóng cồn theo nước cuốn, Ngài để cho tràn ngập thân này" (Gn 2,4).

Có thể nói kinh nghiệm của thánh I-nhã phần nào tương tự kinh nghiệm Chúa Giêsu cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi trên thập giá: "Lạy Thiên Chúa! Lạy Thiên Chúa! Sao Ngài bỏ rơi con ?" (Mc 15,34). Chúng ta cũng có thể nghe vang vọng lời cầu xin của người lâm cơn cùng khốn: "Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa" (Tv 129,1). Cảm nghiệm vực thẳm là một chặng đường rất quan trọng để một người biết đặt trọn tin tưởng nơi một mình Thiên Chúa. Khoa sư phạm của Chúa: dồn người muốn tiến tới trên đường thiêng liêng đến chỗ phải nhìn nhận bản thân không tự cứu được mình (tự độ), mà mọi người khác cũng không ai cứu được mình (tha độ), để người ấy tìm ơn giải thoát nơi một mình Thiên Chúa. Như thánh Phaolô: "Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta" (Rm 7,25).

            “Kẻ ấy nhớ đến chuyện một vị thánh, vì muốn xin Chúa ban một ơn vị ấy rất mong ước, nên đã nhịn đói nhiều ngày cho tới khi nhận được ơn. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng kẻ ấy quyết định cũng làm như vậy: tự nhủ sẽ không ăn không uống gì cho tới khi Chúa giải cứu, hoặc thấy mình đã gần đất xa trời. Vì nếu thấy mình bị nguy tử, nghĩa là nếu không ăn thì chẳng bao lâu nữa sẽ chết, kẻ ấy sẽ xin bánh mì để ăn. Làm như lúc nguy tử còn xin và ăn được![106] Một hôm Chúa Nhật, sau khi rước lễ, kẻ ấy bắt đầu nhịn đói. Suốt một tuần, không bỏ một miếng gì vào miệng, nhưng kẻ ấy vẫn giữ các việc đạo đức thường lệ như dự các giờ kinh thần vụ, quì gối cầu nguyện, thức dậy nửa đêm v.v... Chúa Nhật sau đó, kẻ ấy đi xưng tội như thường làm. Vì vẫn quen trình với cha giải tội chi li mọi điều mình làm, nên kẻ ấy cũng cho cha biết suốt tuần chưa ăn gì. Cha giải tội ra lệnh cho kẻ ấy chấm dứt việc nhịn đói. Mặc dầu thấy mình vẫn khỏe, kẻ ấy vâng lời cha. Hôm ấy và hôm sau, kẻ ấy thấy mình thoát được các bối rối. Nhưng đến hôm thứ ba, cũng là ngày thứ ba trong tuần, đang lúc cầu nguyện, kẻ ấy lại nhớ đến tội cũ, rồi từ chuyện này sang chuyện nọ, kẻ ấy nghĩ hết tội này đến tội khác trong đời sống quá khứ, và cảm thấy phải đi xưng tội lại. Nghĩ mãi, kẻ ấy thấy mình hết sức chán ngán cuộc sống đang theo đuổi và bị cám dỗ bỏ cuộc rất mạnh. Chúa đã chọn cách ấy để đánh thức kẻ ấy khỏi cơn mê. Lúc này đã có đôi chút kinh nghiệm về các tác nhân, nhờ Chúa đã dạy cho, nên kẻ ấy bắt đầu suy xét ý tưởng ấy đã đến với mình thế nào. Thế là hoàn toàn sáng suốt, kẻ ấy quyết định không xưng lại bất cứ tội cũ nào nữa. Từ đó về sau, kẻ ấy được giải thoát khỏi các bối rối.”[107]

            Nhờ hết người này đến người khác giúp, ngài vẫn không thoát khỏi được những bối rối. Chúa Giêsu nói có những thứ quỷ chỉ trừ được nhờ ăn chay và cầu nguyện, nghĩa là chỉ còn trông chờ vào sức mạnh thần linh. Cuốn Tuyển truyện Các Thánh, mà thánh I-nhã đọc ở Loyola, có thuật chuyện thánh Anrê Tông đồ nhịn ăn để cầu xin Chúa thương một kẻ tội lỗi. Một ông già tên là Nicôla đến gặp thánh Anrê: “Thưa thầy, suốt 60 năm qua, tôi luôn luôn ham mê sắc dục. Tôi đã nghe được Tin Mừng và xin Chúa ban ơn thanh sạch. Nhưng ý tưởng xấu vẫn luôn luôn ở trong đáy lòng tôi, nên khi bị cám dỗ, tôi lại ngựa quen đường cũ. Một hôm, dục vọng bừng lên, tôi quên mất Tin Mừng vẫn mang trên mình, tôi đến nhà chứa, gặp một cô gái xấu, nhưng cô này nói ngay: ‘Ông già, đi ra khỏi đây, đừng đụng vào tôi. Không được bước qua cửa, vì tôi thấy nơi ông những điều kỳ diệu.’ Rất ngạc nhiên về lời cô gái, tôi nhớ có mang Tin Mừng trong người. Giờ đây, thầy là bạn của Thiên Chúa, xin cầu nguyện cho tôi.” Nghe vậy, thánh Anrê bắt đầu cầu nguyện, từ giờ thứ ba đến giờ thứ chín. Khi chỗi dậy, ngài không muốn ăn và tự nhủ: “Tôi sẽ không ăn gì hết cho tới khi biết Chúa thương đến ông già ấy.” Sau khi nhịn ăn 5 ngày, ngài nghe có tiếng nói: “Anrê, con xin ơn cho ông già được rồi đấy; nhưng cũng như con đã hãm mình bằng việc ăn chay, nếu muốn được cứu, ông ấy cũng phải thanh luyện bằng việc kiêng thịt và đền tội.” Trong sáu tháng, ông già chỉ ăn bánh mì và uống nước lã. Sau đó, đầy công phúc, ông ấy đã được an nghỉ. Còn thánh Anrê thì nghe có tiếng nói: “Nhờ lời cầu nguyện của con, Ta đã tìm lại được người đầy tớ đi lạc.” Thánh I-nhã muốn bắt chước để được Chúa ban ơn.

            “Chắc chắn nhờ lòng từ bi của Chúa mà kẻ ấy đã được giải thoát”[108]. Như dân Do Thái trong cuộc xuất hành tin tưởng được giải thoát hoàn toàn do quyền năng của Thiên Chúa, thánh I-nhã thấy rõ chính mình cũng như không ai khác làm được gì: ngài xác tin chính Chúa đã thương giải thoát ngài. Có thể so sánh tâm trạng của ngài với tâm trạng của người bị lưu đày được Chúa giải thoát: "Khi Chúa dẫn tù nhân Sion trở về, ta tưởng mình như giữa giấc mơ. Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng" (Tv 125,1-2).

            “Thiên Chúa đối xử với kẻ ấy như một thầy giáo đối xử với một học trò: Thiên Chúa dạy, kẻ ấy học.”[109] Người ta thường chia thời gian thánh I-nhã ở Manresa thành ba giai đoạn: trước hết là giai đoạn bình an và phấn khởi; rồi đến giai đoạn bối rối và chiến đấu nội tâm; cuối cùng là giai đoạn những ân huệ trọng đại[110]. Chúng ta biết vốn học vấn và giáo lý của thánh I-nhã lúc đến Manresa chỉ là những điều cơ bản, như Laínez nói: “một người đơn sơ, chỉ biết đọc biết viết tiếng phổ thông”[111]. Giờ đây, ngài được Thiên Chúa đích thân dạy dỗ. Ngài kể ra mấy “bài học” và một “ơn lớn”.

            Trước hết là bài học về Thiên Chúa Ba Ngôi. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là điều rất quan trọng đối với người Công Giáo Tây Ban Nha. Dân Wisigoth định cư ở Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ V theo lạc thuyết Ariô, chỉ tin Thiên Chúa duy nhất, phủ nhận thiên tính của Chúa Giêsu. Sau đó Tây Ban Nha chịu ảnh hưởng Hồi giáo và Do Thái giáo: tin Thiên Chúa độc nhất, nhưng không tin Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế Hội Thánh ở Tây Ban Nha thời thánh I-nhã nhấn mạnh đến mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngay từ nhà bà Garín, ngài đã học cầu nguyện với từng ngôi, rồi với cả Ba Ngôi. Nhưng điều ngài được Thiên Chúa dạy ở tu viện dòng Thánh Đaminh là một bài học đặc biệt: ngài “được nhấc bổng lên như thể thấy được Ba Ngôi Chí Thánh dưới dạng ba phím đàn”. Không phải ngài suy nghĩ ra, nhưng được nhấc lên. Ba phím đàn làm thành một hợp âm là một hình ảnh rất độc đáo. Nhưng hiệu quả một mới thật đáng kể. Trước hết, ngài “trào nước mắt” “không sao cầm được nước mắt mãi cho đến bữa ăn trưa”. Rồi hôm ấy, “không gì ngăn cản được kẻ ấy nói về Ba Ngôi Chí Thánh, trong lòng đầy niềm vui và an ủi, dùng nhiều thí dụ khác nhau để diễn tả”. Sau hết, “kẻ ấy còn giữ ấn tượng này suốt đời, nên hễ cầu nguyện với Ba Ngôi Chí Thánh kẻ ấy bắt đầu cảm thấy rất sốt sắng.”[112] Laínez cho biết ngài bắt đầu viết một quyển sách về Mầu Nhiệm Tam Vị[113]. Nền thần bí của ngài sẽ chủ yếu đặt nền tảng trên mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi[114]. Đó là bài học cơ bản.

            Kế đến là ba bài học về Mầu nhiệm Sáng Tạo, về Đức Kitô và về Mẹ Maria[115]. Các diễn tả của thánh I-nhã khá mông lung. Về sáng tạo: “Làm như kẻ ấy thấy một vật thể trắng phát ra những tia sáng và Thiên Chúa làm thành ánh sáng”. Về Đức Kitô: “Kẻ ấy thấy rõ ràng, bằng tâm trí, Chúa Giêsu Kitô ở trong bí tích Thánh Thể thế nào”,“Nhân tính của Đức Kitô… như một vật thể trắng, không lớn lắm cũng không nhỏ lắm, nhưng kẻ ấy không phân biệt được các phần thân thể.” Về Đức Mẹ, ngài cũng thấy, nhưng “không phân biệt được các phần thân thể”. Chính ngài “không biết giải thích thế nào, mà cũng không nhớ rõ lắm những hiểu biết thiêng liêng Thiên Chúa ghi tạc trong linh hồn”, mặc dầu ngài “thấy như vậy rất thường xuyên, nếu nói là 20 hay 40 lần, kẻ ấy ấy không nghĩ là nói dối”. Có thể nói đó là tóm tắt toàn bộ công trình sáng tạo và cứu độ. Đức Kitô được nhìn theo nhân tính và hiện diện trong Thánh Thể, tức là mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Vượt Qua. Cuối cùng là hình ảnh Mẹ Maria như tuyệt tác và mẫu mực của cả công trình sáng tạo cũng như công trình cứu độ.

            Joseph de Guibert giải thích: Các thị kiến này rất nghèo về hình ảnh, nhưng ảnh hưởng sâu xa và lâu dài nơi thánh I-nhã. Theo tác giả này, chúng ta không giải thích được thấu đáo nếu đó chỉ là những thị kiến bằng hình ảnh, cho dù có nguồn gốc ngoại nhiên. Nội dung của các thi kiến ấy được diễn tả qua những hình dạng thị giác và theo mức độ những hình ảnh này có thể bộc lộ được. Nhưng các hình ảnh thánh I-nhã thuật lại chỉ có thể cho ngài biết những chân lý sơ sài nhất về Ba Ngôi. Giả như đó chỉ là những ảo giác thì lại càng khó giải thích hơn nữa. Do đó, phải nhìn nhận là ngay từ Manresa, các ân huệ thánh I-nhã nhận được thực chất là những ơn soi sáng cao trọng, đó Thiên Chúa trực tiếp phú ban cho trí khôn ngài, còn các hình ảnh ngài ghi nhận chỉ là hiệu ứng của ơn soi sáng ấy trên một tâm hồn dễ rung động nhưng thiếu hình ảnh tượng trưng thích hợp với bình diện nhận thức này[116].

            Hiệu quả nơi thánh I-nhã rất mạnh mẽ và lâu dài. Trong tâm hồn: “Các thị kiến này củng cố và nâng đỡ đức tin của kẻ ấy rất nhiều, đến nỗi kẻ ấy vẫn thường tự nhủ: Giả như không có Kinh Thánh dạy chúng ta các chân lý đức tin ấy, thì chỉ cần căn cứ vào những điều đã thấy, kẻ ấy vẫn sẵn lòng chết vì các chân lý ấy.” Bên ngoài, ngài bắt đầu “gặp gỡ tha nhân”, và khi thấy “hoa trái trổ sinh”, ngài thay đổi cách sống: “từ bỏ những điều thái quá trước kia đã thực hành, nên từ đây cắt móng chân móng tay và hớt tóc”. Đây không chỉ là thay đổi từ nếp sống phần nào “hoang dã” sang nếp sống “văn minh” hơn, nhưng là một bước nhảy rất quan trọng về ơn gọi: ngài bắt đầu “giúp đỡ các linh hồn”, nghĩa là thay vì sống ẩn tu hay đan tu, ngài trở thành một “tông đồ”. Toàn bộ cái nhìn của ngài về việc “phục vụ Đức Kitô” sẽ chuyển từ lý tưởng hãm mình đền tội và đọc kinh dự lễ sang sứ mạng tông đồ.

            “Một hôm, do lòng sùng kính, kẻ ấy đang trên đường đến một nhà thờ cách Manresa chừng hơn một dặm, tôi nghĩ là nhà thờ Thánh Phaolô, con đường men theo bờ sông, lòng đầy sốt sắng, kẻ ấy ngồi xuống một chút, nhìn xuống dòng sông chảy bên dưới. Đang lúc ngồi đó, mắt tâm trí kẻ ấy bắt đầu mở ra. Đó không phải là một thị kiến, nhưng kẻ ấy hiểu và biết được nhiều điều, cả những điều thuộc bình diện thiêng liêng cũng như những điều thuộc lãnh vực đức tin và kiến thức. Việc ấy diễn ra sáng tỏ đến nỗi đối với kẻ ấy mọi sự đều như mới mẻ. Không sao nói rõ các chi tiết trong những điều kẻ ấy hiểu được lúc ấy, vì rất nhiều. Tuy nhiên, có thể khẳng định là tâm trí kẻ ấy được soi sáng đến nỗi suốt đời, đến nay đã 62 năm, nếu kẻ ấy gom lại tất cả những trợ giúp đã nhận được từ Thiên Chúa và mọi điều kẻ ấy biết được, cộng chung lại, kẻ ấy không nghĩ là bằng những gì đã nhận được chỉ một lần ấy.”[117].

Những điều có vẻ đơn giản nhưng rất quan trọng trên đây, thường được gọi là Ơn Soi Sáng Cardoner, diễn ra vào cuối tháng 8 hay đầu tháng 9 năm 1522, trên quãng đường giữa Thánh Giá Tort[118] và nhà nguyện Sant Pau, chỗ đường gần sát sông Cardoner. Luis Gonçalves de Câmara viết: “Điều ấy để lại trong tâm hồn Cha một ánh sáng mạnh đến nỗi Cha thấy mình như trở thành một người khác, có một trí khôn khác với trí khôn đã có trước đó.”[119] Sự kiện này được coi là “một trong những đỉnh thần bí cao nhất trong đời sống thánh I-nhã”[120], “một trong những đỉnh cao nhất Thiên Chúa thực hiện được trong đời sống một con người”[121].

Phải thú thực là rất khó nói chính xác điều gì đã xảy ra. Polanco cho rằng thánh I-nhã “có được cặp mắt tinh thần mới để nhìn thấu suốt được mọi sự liên hệ đến Thiên Chúa và con người, nhờ đó biết phân biệt tác động của tự nhiên với tác động của ân sủng.”[122] Cándido de Dalmases giải thích rộng hơn[123]. Như chính thánh I-nhã nói, đó không phải là một thị kiến, nhưng là trí tuệ được soi sáng. Đối tượng không phải là bất kỳ mầu nhiệm đặc biệt nào. Thánh I-nhã “hiểu và biết được nhiều điều, cả những điều thuộc bình diện thiêng liêng cũng như những điều thuộc lãnh vực đức tin và kiến thức” và kết quả là đối với ngài “mọi sự đều như mới mẻ”. Chúng ta biết là sau đó thánh I-nhã còn nhận được nhiều ơn thần bí nữa, nhưng ngài nói “nếu gom lại tất cả những trợ giúp suốt đời đã nhận được từ Thiên Chúa và mọi điều kẻ ấy biết được, cộng chung lại, kẻ ấy không nghĩ là bằng những gì đã nhận được chỉ một lần ấy”: chúng ta có thể hình dung ơn soi sáng Cardoner quan trọng đến mức nào. Trong kinh nghiệm thiêng liêng hết sức đặc biệt ấy, thánh I-nhã thấy con đường ngài sẽ phải theo, tức là cách thức ngài phải sống. Nội dung sau này được ngài khai triển trong hai bài suy niệm nòng cốt của Linh Thao: Đức Vua và Hai Cờ Hiệu. Chúa Giêsu, vị Vua muôn đời và Chúa muôn loài, mời gọi ngài cộng tác vào chương trình cứu độ. Không chỉ cộng tác trong công việc, ngài muốn chia sẻ cả cuộc sống và cái chết của Đức Kitô nghèo khó, chịu sỉ nhục và khiêm tốn.

Đây là cao điểm của 'giáo án''thầy giáo' Thiên Chúa dành cho 'học trò' I-nhã. Hình như những gì Thiên Chúa ban không phải là điều này hay điều kia, nhưng là một ánh sáng siêu nhiên mãnh liệt giúp thánh I-nhã xác tín về các chân lý đức tin đã được dạy trước đó, đồng thời xác tín về ơn gọi tông đồ ngài đã bắt đầu nhận ra. Điều này chẳng những được coi là cốt lõi của Linh Thao, mà còn được coi là hạt giống sẽ nảy nở thành Dòng Tên. Có thể so sánh với kinh nghiệm Giođan: phần nào như Chúa Giêsu khi chịu phép rửa, thánh I-nhã được Thiên Chúa cho biết kế hoạch cứu độ và vai trò mình phải thể hiện trong kế hoạch ấy[124]. Luis Gonçalves de Câmara cho biết sau này, trong cương vị Bề Trên Cả Dòng Tên, nhiều lần ngài phải đưa ra những quyết định liên hệ đến cung cách hành sử đặc trưng của Dòng, ngài thường giải thích: “Tất cả những điều ấy ứng với những gì đã xảy đến cho tôi ở Manresa.”[125]

Thánh I-nhã kể về ba quyết định khá quan trọng. “Khi đi ngủ, kẻ ấy thường được soi sáng mãnh liệt và được an ủi mãnh liệt, khiến kẻ ấy mất một số giờ để ngủ vốn đã chẳng nhiều nhặn gì. Sau khi suy đi nghĩ lại nhiều lần, kẻ ấy tự nhủ đã ấn định giờ để chuyện trò với Chúa rồi, lại còn những dịp khác trong ngày nữa, nên tự hỏi không biết những ánh sáng ấy có do thần lành không. Cuối cùng kẻ ấy kết luận nên gạt bỏ để đến giờ ngủ thì đi ngủ”[126]. “Kẻ ấy vẫn không ăn thịt. Đã quyết định như vậy, kẻ ấy không hề nghĩ đến việc thay đổi. Đến một buổi sáng kia, lúc vừa thức dậy, kẻ ấy thấy thịt đã dọn sẵn để ăn, hình như thấy bằng mắt thật, dù trước đó không hề thèm thịt. Đồng thời, kẻ ấy cảm thấy rất muốn từ đó về sau sẽ ăn thịt. Mặc dầu vẫn nhớ quyết định đã có trước, kẻ ấy không do dự, nhưng quyết định phải ăn thịt”[127]. Sau Ơn Soi Sáng Cardoner, ngài “đến quì gối trước một Thánh Giá gần đó để tạ ơn Thiên Chúa. Chính tại đó, kẻ ấy thấy thị kiến trước đây đã thấy nhiều lần mà chưa bao giờ hiểu, tức là điều đã nói trên kia, vật thể có vẻ rất đẹp và có nhiều mắt. Nhưng trước Thánh Giá[128], kẻ ấy thấy rõ nó không có màu đẹp như trước, và hiểu rất rõ, hoàn toàn phù hợp với ý chí, đó là ma quỉ. Về sau, nó còn xuất hiện nhiều lần nữa, và lâu, nhưng kẻ ấy dùng cái gậy vẫn thường cầm trong tay để đuổi nó với vẻ khinh bỉ.”[129]

Đến giai đoạn này, thánh I-nhã tỏ ra đã thành thạo về nhận định thần loại. Những kinh nghiệm thiêng liêng quan trọng của giai đoạn đang tiến tới trong đời sống thiêng liêng này sẽ được ngài đúc kết trong Các quy tắc nhận định thần loại trong tuần 2 của Linh Thao.

"Đặc điểm của Thiên Chúa và của các thiên thần của Ngài trong những thúc đẩy của Ngài và của các thiên thần là ban sự hoan hỉ và niềm vui thiêng liêng chân thật, trong khi gạt bỏ đi mọi sự buồn rầu và xáo động do kẻ thù gây ra; đặc điểm của kẻ thù này là chiến đấu chống lại sự hoan hỉ và sự yên ủi thiêng liêng kia bằng cách đưa ra những lý do (chỉ có dáng vẻ) bề ngoài, những cái xảo diệu và những lừa đảo liên tiếp”[130]. Thánh Phaolô cảnh giác: "Chính Satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng" (2 Cr 11,14). Vì thế, "Chúng ta phải chú ý nhiều đến diễn biến của các ý tưởng và nếu phần khởi đầu, phần giữa và phần cuối, tất cả đều thật là tốt, hướng về sự thiện trọn vẹn, thì là dấu hiệu của thiện thần; nhưng nếu diễn biến của các ý tưởng (do thần) đưa tới, kết thúc bằng một điều nào đó xấu hoặc làm cho đãng trí, hoặc bằng một điều nào đó không tốt bằng điều mà trước đó linh hồn đã định làm, hoặc nếu diễn biến đó làm cho linh hồn suy nhược hoặc lo lắng hoặc bối rối bằng cách cất khỏi linh hồn sự bằng yên, sự êm lặng và sự an tĩnh mà linh hồn đã có trước kia, thì là dấu hiện rõ ràng điều đó đến từ ác thần, kẻ thù chống lại ích lợi và phần rỗi đời đời của chúng ta"[131].

Giữa bao soi sáng và an ủi trong giai đoạn cuối ở Manresa, thánh I-nhã vẫn phải lần mò tiến bước, nhưng kết quả là ngài thực sự trở thành bậc thầy về đời sống thiêng liêng nói chung và cách riêng về nhận định nguồn gốc các tác động, do bản tính tự nhiên hay do ân sủng.

Đến đây, có hai thay đổi lớn nơi thánh I-nhã là nói chuyện thiêng liêng và soạn Linh Thao.

Laínez cho biết tại Manresa, thánh I-nhã “cảm nếm những điều thuộc về Chúa và thông truyền cho người khác với sự đơn sơ và bác ái”[132]. Bà Margarita Capdepos, vợ góa của một người thợ mộc tại Manresa, khai trước tòa điều tra phong thánh: “Ngài mặc áo như một hối nhân. Ngài ở trong nhà tế bần Santa Lucia với những người nghèo. Ngài phục vụ họ, đặc biệt những người bệnh tật, một cách rất khiêm tốn, lo cho các nhu cầu của họ… Ngài năng xưng tội rước lễ, đọc tất cả các giờ kinh (thần vụ). Ngài sống rất nhiệm nhặt và làm việc đền tội, nhịn đói cả tuần, đánh tội bằng dây… Ngài đi dạy giáo lý công khai ở phố và chính bà là một trong nhiều người theo ngài. Ngài cũng đi hành khất từ nhà này đến nhà khác trong phố, một cách rất khiêm tốn. Bà nghe ngài nói với người ta là với những điều họ cho ngài, ngài giúp đỡ được nhiều người nghèo. Ngài cũng đi thăm viếng người đau ốm khắp nơi trong phố. Bà cũng nhớ là ngài thúc giục người ta năng xưng tội rước lễ.”[133] Đó là điều ngài gọi là “giúp đỡ các linh hồn”[134] : không chỉ chăm lo việc đạo hay phần hồn, mà cả về đời sống vật chất, đặc biệt những người nghèo và ốm đau.

Nadal cho biết ân sủng mà thánh I-nhã nhận được trước hết biến đổi bản thân ngài, và khi đã bén rễ sâu trong tâm hồn, các hành động của ngài cũng biến đổi theo. Sau đó, ngài truyền sang cho người khác[135]. Ban đầu ngài gặp và nói chuyện với những người trong nhà tế bần Santa Lucia. Ít lâu sau, những người khác cũng muốn đến nghe. Dần dần ngài tập họp được một số phụ nữ đạo đức như các bà Inés Pascual, Angela Amigant, Micaela Canyelles, Inés Claver, Brianda de Paguera… Ngài nói về đời sống thiêng liêng với họ, khuyến khích họ năng xưng tội rước lễ và làm việc bác ái. Dân Manresa gọi họ là các Iniguas, theo tên ngài. Joseph F. Conwell cho rằng chắc chắn những điều thánh I-nhã, lúc ấy chỉ là một giáo dân, làm tại Manresa đề ra một cách sống, và có thể nói phần nào đó nêu lên một khuôn mẫu cho hoạt động tông đồ của Dòng Tên mà ngài sẽ sáng lập[136].

Theo truyền tụng, Đức Mẹ đã đọc cho thánh I-nhã chép cuốn Linh Thao tại hang đá ở Manresa. Luis Gonçalves da Câmara cho biết thánh I-nhã “đã không soạn toàn bộ Linh Thao ngay một lúc, nhưng khi nhận ra những diễn biến trong tâm hồn mình, và thấy là có thể giúp người khác”[137]. Theo Laínez, “cốt lõi” của Linh Thao được thánh I-nhã soạn ở Manresa[138]: trong những tháng cuối ở Manresa, ngài hướng dẫn một số người về cách thức thanh luyện tâm hồn, giúp họ suy niệm các mầu nhiệm Đức Kitô, chỉ họ cách lựa chọn bậc sốngnhững cách cầu nguyện, rồi sau đó, ngài hoàn chỉnh dần[139]. Theo Nadal, “Trong thời gian ấy, … ngài bắt đầu ghi chép các điểm và các bài tập của tuần 1, tức là các bài suy niệm về tội lỗi, địa ngục và phán xét… Sau đó, đi xa hơn, ngài bắt đầu suy niệm về Cuộc Sống Đức Kitô… ước ao bắt chước Người và giúp đỡ các linh hồn.[140] Theo Leturia, Linh Thao được thánh I-nhã soạn trong ba giai đoạn: (1) Mùa hè 1521 đến mùa hè 1522; (2) Ơn soi sáng Cardoner; (3) Bổ sung đến năm 1534 tại Paris. Việc “soạn thảo cơ bản” được thực hiện trong giai đoạn 2[141].

Thánh I-nhã dựa vào đâu để soạn Linh Thao? Hẳn là Linh Thao là ơn Chúa ban cho thánh I-nhã, nhưng điều ấy không có nghĩa là ngài hoàn toàn thụ động. Cách nói “Đức Mẹ đọc cho thánh I-nhã viết” cũng chỉ muốn nói ngài đã được Đức Mẹ giúp một cách đặc biệt.

Với ơn soi sáng, ngài vận dụng những hiểu biết và kinh nghiệm để chuyển thành văn bản. Vốn liếng hiểu biết và kinh nghiệm của ngài khi đến Manresa là lòng đạo đức của một giáo dân Tây Ban Nha bình thường cộng với hai cuốn sách ngài đã đọc và suy niệm ở Loyola trong thời gian dưỡng bệnh. Tại Manresa, chúng ta có thể chắc chắn một số điều. Trước hết, hằng ngày ngài tham dự thánh lễ và hát thánh vịnh trong các giờ kinh thần vụ, đọc và suy niệm Tân Ước, đọc cuốn Gương Chúa Giêsu[142]. Thứ đến, ngài thường xuyên nghe giảng, gặp gỡ và nói chuyện với những người bình dân đạo đức. Cuối cùng, thỉnh thoảng ngài gặp gỡ và nói chuyện với những người thành thạo về đời sống thiêng liêng. Đó là mảnh đất để hạt giống Thiên Chúa ban trong Ơn Soi Sáng được gieo vào, nảy mầm và lớn lên. Linh Thao không phải là một thiên thạch, nhưng là một cây có gốc có rễ mọc lên từ một mảnh đất cụ thể.

Có thể xác định mức độ ảnh hưởng của hai cuốn Exercitatorio de la vida espiritual (Luyện Tập đời sống thiêng liêng) của García Ximenes de Cisneros De Spiritualibus Ascensionibus (Thăng tiến thiêng liêng) của Gerard Zerbolt de Zutphen không?

Luyện tập đời sống thiêng liêng ảnh hưởng trên thánh I-nhã thế nào? Ribadeneira viết: “Cuốn sách của cha I-nhã khác xa cuốn của cha García, vì mặc dầu cả hai cùng đề cập một số đề tài y hệt nhau, nhưng cách thức và hình thức thì khác hẳn.”[143] Các nhà nghiên cứu lịch sử có nhiều ý kiến khác nhau. Ngài chỉ ở Montserrat 3 ngày nên nếu được trao chắc cũng không thể đọc hết cuốn sách được, nhất là đọc chăm chú và nghiền ngẫm để chịu ảnh hưởng sâu đậm. Khi đi Manresa thánh I-nhã có mang theo cuốn Luyện tập đời sống thiêng liêng không? Nhiều nghi vấn và tranh luận. Cha Paul Dudon viết: “Chắc chắn thánh I-nhã được cha Jean Chanon hướng dẫn theo những gì học được với Garcia Ximenes. Như vậy, ngài được khai tâm với cuốn Luyện tập đời sống thiêng liêng. Có thể ngài đã đọc Luyện tập đời sống thiêng liêng, nhưng không chép. Giữa Luyện tập đời sống thiêng liêng và Linh Thao chỉ có chừng 20 câu gần giống nhau. Ngoài ra, phần chủ yếu của Linh Thao, thứ tự các bài, những hướng dẫn, nhất là các bài tiêu biểu, là của riêng thánh I-nhã.”[144] Theo Louis Boyer[145], cuốn Linh Thao của thánh I-nhã là một tác phẩm độc đáo chứ không chỉ góp nhặt như cuốn Luyện tập đời sống thiêng liêng. Năm 1995, Aimé Solignac cho biết đã tìm thấy một cuốn sách nhỏ, bằng tiếng Tây Ban Nha, không đề tên tác giả, in tại Barcelona năm 1555, tựa là Tóm lược các bài thao luyện thiêng liêng[146], có nhiều điểm tương đồng với Linh Thao hơn cuốn Luyện Tập Đời Sống Thiêng Liêng, và suy đoán là có thể trước khi sách được in thì đã có bản văn ở Montserrat và thánh I-nhã đã sử dụng và đã chịu ảnh hưởng[147]. Mặc dầu Pedro Leturia[148], nhà nghiên cứu rất đáng tin cậy về giai đoạn thánh I-nhã ở Tây Ban Nha, bác bỏ giả thuyết thánh I-nhã từ Manresa trở lại gặp Jean Chanon, nhưng vì các đan sĩ Montserrat đều làm chứng là đúng như vậy[149], nên Javier Melloni Bibas cho rằng thánh I-nhã có trong tay cuốn Tóm lược, và người ta không thể không nhìn nhận ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của cuốn Luyện Tập trên việc thai nghén cuốn Linh Thao, đặc biệt về ba điểm: phương pháp cầu nguyện, chú trọng đến việc chiêm ngắm cuộc sống Đức Kitô, ba ‘chặng đường’ và sự tiến tới trong đời sống thiêng liêng. Dầu vậy, Linh Thao vẫn là một sáng tác: trong khi cuốn Luyện Tập vẫn giữ nguyên truyền thống đan tu là kết hiệp với Thiên Chúa qua việc xa lánh sự đời, còn Linh Thao đề ra một đường hướng mới là kết hiệp với Thiên Chúa qua việc nhận định và chọn lựa ngay trong cuộc sống giữa đời[150].

Về cuốn sau[151], Pierre Debongnie[152] viết: “Chắc chắn tác giả Linh Thao đã không đọc cuốn De Spiritualibus Ascensionibus của Gerard Zerbolt, nhưng hai cuốn có nhiều điểm tương đồng về tinh thần và phương pháp đến nỗi người ta không thể phủ nhận cuốn sau chịu ảnh hưởng ít là gián tiếp của cuốn trước: (1) phương pháp cầu nguyện dựa theo tâm lý; (2) những chủ đề được sắp đặt tiệm tiến; (3) những chân lý cơ bản về đời sống Chúa Giêsu; (4) việc xét mình riêng… Có lẽ De Spiritualibus Ascensionibus ảnh hưởng trên Linh Thao qua trung gian Luyện tập đời sống thiêng liêng của Ximenes de Cisneros.” Thiết tưởng nếu thực sự thánh I-nhã đã sử dụng thì cuốn Luyện tập đời sống thiêng liêng cũng không thể khiến Linh Thao có nhiều điểm tương đồng với De Spiritualibus Ascensionibus hơn với Luyện tập đời sống thiêng liêng được.

Dầu sao, các tác giả lịch sử linh đạo đều đồng ý Linh Thao không chỉ là một bản sao chép hay góp nhặt, nhưng là một sáng tác độc đáo mang đậm nét đặc sủng thánh I-nhã. Theo Dudon, hai nguồn gốc của Linh Thao là cuốn tập vở thánh I-nhã ghi chép kiểu nhật ký ở Loyola và ơn soi sáng ở Manresa[153]. Theo Louis Cognet, vào thời điểm quyết định, thánh I-nhã không có ai là linh hướng đúng nghĩa, cũng không có những tác phẩm cổ điển giúp ngài theo một linh đạo nào nhất định: “Ngài chỉ được hướng dẫn do chính các kinh nghiệm của mình.”[154] Aimé Solignac cũng đồng ý: “Tập sách nhỏ của thánh I-nhã độc đáo ở chỗ bắt nguồn trước hết và chính yếu từ những ánh sáng ngài nhận được do Thiên Chúa ban riêng, để chuẩn bị ngài cho sứ mạng trong Hội Thánh phổ quát.”[155]

Chúng ta trở về với sức khỏe thể xác của ngài. “Trong một cơn bệnh tại Manresa, kẻ ấy bị sốt nặng đến nỗi tưởng không sao qua khỏi được. Kẻ ấy cầm chắc là linh hồn sắp lìa khỏi xác”[156]. “Khi mùa đông đến, kẻ ấy ngã bệnh nặng… Kẻ ấy được chăm sóc chu đáo và nhiều phụ nữ nổi tiếng quí mến nên đến canh suốt đêm.”[157]

Thánh I-nhã sống quá khắc khổ[158]: thiếu ăn thiếu ngủ, ăn mặc sơ sài, thiếu nghỉ ngơi và giải trí, làm việc không ngừng, nên ngài ngã bệnh nặng hai lần, lần trước vào mùa hè, lần sau vào mùa đông. Cả hai lần ngài đều được đón về chăm sóc tại gia đình Amigant, cách nhà tế bần Santa Lucia chưa tới 100 mét[159]. Gia đình này từ lâu đời vẫn dành hai phòng cho người bệnh. Ngài được nhiều người đến thăm viếng và giúp đỡ. Đặc biệt lần sau ngài được chính quyền địa phương trả mọi chi phí. Đáng lưu ý là qua hai lần, ngài rút ra hai kinh nghiệm quan trọng. Lần trước, ngài tự cho mình là thánh thiện. Vì thế, khi khỏi, ngài xin những người đến thăm nếu lần sau thấy ngài sắp chết thì “phải hét lớn lên kẻ ấy là người tội lỗi”. Lần sau, “vì tình trạng của kẻ ấy và vì mùa đông rất khắc nghiệt, các bà cho kẻ ấy mặc quần áo đầy đủ, mang giày và đội mũ. Họ bắt kẻ ấy phải nhận hai chiếc áo ngoài màu nâu, bằng vải rất thô, và một cái mũ nồi cũng bằng thứ vải ấy.” Hai lần bệnh nặng này cho thấy thánh I-nhã ngày càng trở nên một người bên trong sâu sắc hơn và bên ngoài bình thường hơn.

Nhiều chứng nhân khai trước tòa điều tra phong thánh về việc thánh I-nhã “ngất 8 ngày”, từ ngày 15 đến ngày 22 tháng 7: trong những người ấy, ngài “không cử động chút nào và một số người cho là ngài đã chết”[160]. Ngài đầu tiên nêu lên trong sách vở là Pedro Ribadeneira[161]. Đa số dân chúng tin là ngài ngất trí và đó là một phép lạ. Các sử gia kẻ tin người không. Đi xa nhất có lẽ là Ignacio Casanovas: “Những ánh sáng thánh I-nhã nhận được ở Manresa, đặc biệt ơn soi sáng phi thường Cardoner và 8 ngày ngất trí, có một giá trị vượt khỏi đời sống thâm sâu của ngài, và ảnh hưởng đến việc thành lập cũng như toàn bộ đời sống của Dòng Tên.”[162] Nhưng theo Ricardo García-Villoslada, hiện nay các nhà phê bình lịch sử không coi việc thánh I-nhã ngất 8 ngày ấy như ngất trí thần bí mà chỉ là ngất xỉu thường tình thôi[163]. Có lẽ chính thánh I-nhã cũng coi việc đó chẳng có gì quan trọng, nên không đề cập trong Hồi Ký.

Lúc thánh I-nhã khỏe lại, có thể làm việc tông đồ được, thì mùa xuân đã đến. Đây là thời gian thuận tiện để đáp tàu từ Barcelona sang Ý, xin phép Đức Thánh Cha tại Rôma, rồi phải đến Venezia vào mùa hè để đáp tàu hành hương đi Giêrusalem. Khoảng ngày 23.2.1523, ngài từ biệt Manresa, và được một nhóm thân hữu đi bộ 5 km tiễn đưa đến tận cầu Vilomara[164]. Trên đường, hẳn là ngài dừng lại cầu nguyện trước Thánh Giá del Tort, tu viện Thánh Clara, thánh giá Culla, đền Đức Mẹ Viladordis.

Joseph Conwell nói: “Thánh I-nhã không chọn Manresa, chính Manresa đã đến với ngài.[165] Nadal nói thánh I-nhã “được dẫn đến nơi ngài không biết”[166]. Laínez cho biết thánh I-nhã gọi Manresa là “Hội Thánh sơ khai” của ngài[167]. Chúng ta tạm kết luận với Pedro Arrupe: “Những ngày tháng ở Maresa, cùng với hàng loạt những soi sáng ở Cardoner, tạo nên một bước ngoặt Copernic nơi thánh I-nhã (cũng như việc khai sinh và đặc sủng Dòng về sau)… Sự kiện mỗi khi cần xác định cụ thể anh em trong Dòng phải phục vụ tha nhân thế nào, thánh I-nhã suốt đời nhắc đi nhắc lại ‘chuyện đã xảy ra cho tôi tại Manresa’ là một lời khẳng định về liên hệ chặt chẽ giữa những soi sáng ngài nhận được ở đó – mang dấu ấn Ba Ngôi, như chúng ta đã thấy - với sự chuyển biến sang đời sống tông đồ qua những chủ đề trọng tâm của Linh Thao, và với bước chuyển từ việc tông đồ cá nhân ban đầu sang việc tông đồ được định chế hóa trong Dòng Tên.”[168]

Manresa đã để lại dấu ấn không bao giờ phai mờ được nơi thánh I-nhã và trong Dòng Tên.

 

 Phụ trang 14

Devotio Moderna

 

Devotio Moderna là một phong trào canh tân đời sống thiêng liêng phát sinh tại Hà Lan vào cuối thế kỷ XIV, phát triển tại đó trong thế kỷ XV, rồi lan sang các nước khác ở Châu Âu. Có thể nói về đời sống thiêng liêng, thế kỷ XV là thế kỷ của Devotio Moderna.

            Hai khuynh hướng lớn chế ngự đời sống và sinh hoạt của Hội Thánh trong thế kỷ XIV là nền tu đức thần bí và nền thần học kinh viện. Người khai sinh Devotio Moderna là Gerard Groote (1340-1384). Sau khi tốt nghiệp đại học, ông gia nhập hàng giáo sĩ và nhận chức kinh sĩ ở Aix-la-Chapelle năm 1368. Sau một cơn bệnh nặng, ông từ bỏ chức vụ và tài sản, gia nhập dòng Chartreux năm 1378. Từ đó, suốt đời ông băn khoăn tìm một hướng đi mới cho đời sống thiêng liêng: vẫn giữ đức tin truyền thống, nhưng đổi mới về tâm tình đạo đức. Thay vì thụ phong linh mục, ông bỏ dòng Chartreux, lập một cộng đoàn nữ tu tại Deventer, rồi một tu viện tại Windesheim. Hai nét mới chính của phong trào: (1) trung dung, không tìm kiếm những điều vượt quá mức của những người bình thường; (2) đời sống nội tâm: suy niệm dưới nhiều hình thức, thay vì chỉ hát kinh thần vụ và hát lễ. Theo Pierre Chaunu[1], Devotio Moderna là “tôn giáo của các giáo sĩ triều và của các giáo dân có học” (Le Temps des Réformes, la crise de la chtétienté, l’éclatement 1250-1550, Fayard 1975).

Gerard Groote qua đời lúc mới 44 tuổi, và Devotio Moderna được Florent Radewijns củng cố và phát triển: hai tổ chức tu trì trở thành Anh Chị Em Đời Sống Chung (sống chung, không có lời khấn) và Hội Dòng Windesheim (đan viện, có lời khấn), phong trào vượt khỏi giới hạn hai tổ chức tu trì và lãnh thổ Hà Lan.

Devotio Moderna suy tàn vào thế kỷ XVI. Tác phẩm tiêu biểu và nổi tiếng nhất của phong trào này là quyển Gương Chúa Giêsu.

 

 Phụ trang 15

 

Luyện tập đời sống thiêng liêng

(Exercitatorio de la vida espiritual

của Garcia Ximenes)

 

 

Cuốn Exercitatorio de la vida espiritual (Luyện tập đời sống thiêng liêng) tương đối nhỏ: khoảng 300 trang khổ 13 cm x 18 cm.

            Garcia Ximenes (1455-1510) sinh tại Cisneros (nên thường được gọi là Cisneros), giáo phận Léon, miền tây bắc Tây Ban Nha; là anh em chú bác của hồng y nhiếp chính Tây Ban Nha Gonzalo Xímenez de Cisneros (1436-1517); có lẽ học đại học Salamanca; năm 1470 vào tu viện Biển Đức tại Valladolid (tu viện này được vua Fernando V thành lập năm 1390 với ước muốn phục hưng việc tuân giữ nghiêm ngặt qui luật Biển Đức ở Tây Ban Nha, đã có ảnh hưởng trên một số đan viện vùng Castilla). Lúc Garcia Ximenes gia nhập, tu viện đang ở đỉnh cao uy tín và sốt sắng. Ngay ở nhà tập, Garcia Ximenes rất chăm chỉ học hành, siêng năng đọc thánh vịnh và các chú giải của thánh Âutinh, thích đặc biệt thánh Bênađô, thánh Bonaventura và Gương Chúa Giêsu của Thomas Kempis. Về sau, hình như ngài phụ trách huấn luyện tập sinh của đan viện. Có thời gian ngài làm viện phó: thay viện trưởng, khi vị này đi vắng, huấn đức cho anh em. Chính đây là thời gian ngài nghiên cứu các tác giả thiêng liêng: trước là để huấn đức, sau này được đưa vào cuốn Luyện tập đời sống thiêng liêng.

            Vua Fernando Công Giáo muốn cải tổ tu viện Montserrat, nên xin và năm 1492 được Đức Giáo Hoàng chấp thuận cho tu viện này thuộc hội dòng Valladolid. 12 đan sĩ người Catalan được gởi từ Valladolid đến Montserrat. Năm 1493, Garcia Ximenes được cử làm viện trưởng. Năm 1499 tu viện Montserrat được nâng lên đan viện, và ngài làm viện phụ cho tới khi qua đời. Trong cương vị viện phụ, ngài xây nhà, tìm sách cho thư viện, hướng dẫn anh em về đời sống đạo đức và tâm nguyện, mở nhà in để phát hành sách đạo. Năm 1504, ngài được Đức Giáo Hoàng và vua Tây Ban Nha gởi đi cải tổ các đan viện ở vùng Catalonia, nhưng chỉ thành công với mấy đan viện nữ, thất bại với các đan viện nam. Ngài góp phần quan trọng vào việc soạn thảo hiến chương hội dòng Valladolid.

            Nhằm cải tổ đan viện Monserrat, Garcia Ximenes soạn một số sách hướng dẫn, đặc biệt cuốn Luyện tập đời sống thiêng liêng. Năm 1500, cuốn này được phát hành đồng thờibằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Latinh.

            Mateo Alamo, O.S.B. (Cisneros trong Dictionnaire de la Spiritualité) tóm tắt cấu trúc và nội dung: Sự cần thiết, hoa trái và các điều kiện của việc luyện tập đời sống thiêng liêng (chương 1-9); các bài tập về giai đoạn thanh luyện (phần 1, chương 10-19), giai đoạn soi sáng (phần 2, chương 20-25), giai đoạn kết hiệp (phần 3, chương 26-30). Cho đến đây phần riêng của Garcia Ximenes chỉ là xếp đặt các dữ kiện, và thêm vài ba câu trong mỗi chương. Phần còn lại (phần 4, chương 31-69) chỉ là nêu hết trích dẫn này đến trích dẫn khác: về chiêm niệm (chương 31-47), về đối tượng của chiêm niệm: cuộc sống, cuộc tử nạn và cuộc phục sinh của Chúa Giêsu (chương 48-60), về việc bền đỗ trong chiêm niệm và những trở ngại gặp phải (chương 61-64), về việc nhận biết Thiên Chúa và việc Người ngự trong linh hồn (chương 65-66), về các qui tắc chung phải giữ cả trong đời sống chiêm niệm cũng như trong đời sống hoạt động (chương 67-68); chương 69: tổng kết toàn bộ tác phẩm với “vài nguyên tắc phải theo về những điều đã nói trên”. Nói chung, quyển sách là một hợp tuyển các hướng dẫn về đời sống thiêng liêng.

            Mục đích việc luyện tập là lòng yêu mến Thiên Chúa và trái tim tinh tuyền. Mọi sự khác chỉ là phương tiện. Tác giả loại bỏ tất cả những tranh luận về thần học, nhưng chỉ dẫn cụ thể từng bước về thực hành đời sống thiêng liêng. Ảnh hưởng: trước hết đan viện Montserrat được canh tân và trở thành một trung tâm canh tân đời sống thiêng liêng ở Tây Ban Nha. Thứ đến, cả hội dòng Valladolid, rồi các đan viện Biển Đức Tây Ban Nha, rồi cả dòng Xitô đều sử dụng. Sau đó, sách được dịch sang Latinh, Pháp, Đức và ấn hành nhiều lần.

            Xin trích dẫn một đoạn có thể nói là tiêu biểu:

            “Nếu con muốn chịu đựng được một cách nhẫn nhục các nghịch cảnh, hãy trở nên một người cầu nguyện.

            Nếu con muốn thắng được các cám dỗ và vượt qua được các thử thách, hãy trở nên một người cầu nguyện.

            Nếu con muốn chế ngự được các khuynh hướng xấu, hãy trở nên một người cầu nguyện.

            Nếu con muốn phát hiện các ý đồ của ma quỷ và tránh được các cạm bẫy của chúng, hãy trở nên một người cầu nguyện.

Nếu con muốn sống hạnh phúc trong việc phục vụ Thiên Chúa và hân hoan tiến bước trên con đường nhọc nhằn và sầu khổ, hãy trở nên một người cầu nguyện.

Nếu con muốn thực hành đời sống thiêng liêng và khinh chê các ước muốn xác thịt, hãy trở nên một người cầu nguyện.

Nếu con muốn xua đuổi được những ý tưởng phù phiếm, hãy trở nên một người cầu nguyện.

Nếu con muốn linh hồn vững mạnh trong những ước nguyện thánh thiện, giữ được lòng sốt sắng, và cháy lửa yêu mến Chúa, hãy trở nên một người cầu nguyện.

Nếu con muốn tâm hồn mình mạnh mẽ, không gì lay chuyển được quyết tâm làm đẹp lòng Chúa, hãy trở nên một người cầu nguyện.

Nếu con muốn tống cổ các nết xấu ra khỏi linh hồn và các nhân đức trổ sinh, hãy trở nên một người cầu nguyện.

Sau hết, nếu con muốn lên tới đỉnh cao chiêm niệm để được tận hưởng những nụ hôn ngọt ngào của Chúa, hãy trở nên một người cầu nguyện.

            Thực vậy, chính nhờ cầu nguyện mà linh hồn được Chúa Thánh Thần xức dầu: được dạy cho biết tất cả những điều cần biết, nhờ đó đạt tới trình độ chiêm niệm trong những sự trần gian.”

            Paul Dudon (trong Saint Ignace de Loyola, Beauchesne MXMXXXIV) nhận xét: “Trong bối cảnh văn chương tu đức lúc ấy và cả thời Trung Cổ, tác phẩm đã từ vùng đồng bằng Hà Lan, vùng sông Rhin đến khu vực sông Seine và khu vực sông Tibera lên đến tận miền núi Catalonia. Cisneros quan sát, suy tư, chọn lựa và viết lại những gì ngài thấy là phù hợp với ý định của mình.”

Phụ trang 16

Gương Chúa Giêsu

(De Imitatione Jesu của Thomas Hemerken)

 

            Cuốn sách tương đối nhỏ (đã được dịch và khá phổ biến tại Việt Nam từ lâu), được thánh I-nhã gọi thân mật là Gerson nhỏ, thực ra là của Thomas Hemerken (1379/80-1471), đại biểu quan trọng nhất và đầy đủ nhất của Devotio Moderna.

            Trong các sách in thời xưa, người ta thường không ghi tên tác giả. Đã có một thời người ta nghĩ cuốn sách này là của Jean Cherlier (1363-1429), mà người ta quen gọi theo sinh quán là Gerson, nguyên là sinh viên đại học Paris trong 15 năm và chưởng ấn đại học Paris trong 24 năm.

            Tác giả sinh tại Kempen (nên thường được gọi là Kempis), giáo phận Koeln (Đức), nhưng thời ấy thuộc Hà Lan; năm 1406: vào nhà tập đan viện St Agnietenberg ở Zwolle (anh ruột làm bề trên từ 1399), thuộc Hội Dòng Windesheim của phong trào Devotio Moderna; năm 1413 hay 1414: thụ phong linh mục; sau đó làm tập sư: (1) giúp tập sinh; (2) chép sách đạo đức; (3) viết sách đạo đức. Người ta nhận ra tác giả cuốn Gương Chúa Giêsu nhờ đặt trong toàn bộ tác phẩm của tác giả nói riêng và trong phong trào Devotio Moderna nói chung.

Gương Chúa Giêsu được soạn xong muọn nhất là năm 1423 (từ 1424 đã có những bản sao chép tay).

Cấu trúc tác phẩm: (1) 4 phần hoàn toàn biệt lập; (2) trong mỗi phần, các chương nối tiếp nhau không theo một dàn bài nào; (3) trong mỗi chương, tác giả nêu lên hết ý tưởng này đến ý tưởng khác, không có dàn bài chặt chẽ và rõ ràng. Louis Boyer[1] nhắc nhở: “Đừng căn cứ vào tựa sách mà lầm: được gợi hứng từ mấy chữ đầu của bản sưu tập chứ không nêu lên chủ đề cho toàn thể cuốn sách; chủ đề ấy là đời sống nội tâm và bí tích Thánh Thể. Việc bắt chước Chúa Giêsu chỉ là một chủ đề phụ và tương đối ít được đề cập”. Mấy chữ đầu cuốn sách là “Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm” (Ga 8,12).

            Có thể nói đó là một tập sách hướng dẫn: (1) về đời tu theo tinh thần phong trào Devotio Moderna; (2) những việc đạo đức trong đời tu; (3) những nhân đức của một tu sĩ tốt; (4) suy niệm về sự chết và những điều đến sau đó. Đó là toàn bộ nếp tu của Dòng Windesheim: chúng ta gặp được ở đó những trang chính yếu của Gerard Groot, Florent Radewijns, Joan de Schoonhoven và Joan Vos de Huesden, nghĩa là bốn tác giả cột trụ gầy dựng tinh thần và đường hướng của Dòng.

            Tác giả không quan tâm lắm đến giáo thuyết, nhưng chú trọng đến tu đức thực hành. Khởi điểm của đời sống thiêng liêng theo Gương Chúa Giêsu là: (1) kỷ luật tu viện (thinh lặng, hát thần vụ, làm việc chân tay); (2) các nhân đức Kitô giáo (tuân phục, tiết độ, khiết tịnh, mến Chúa yêu người); (3) các khía cạnh của cuộc sống Chúa Giêsu (gương mẫu cho đời sống tín hữu cũng như đời sống tu sĩ). Đời sống nội tâm được coi là một trong những giá trị cao quý nhất nơi một tu sĩ đạo hạnh. Với giọng văn mạnh mẽ nhưng duyên dáng, tác phẩm có sức thuyết phục rất cao.

André Vauchez (Histoire de la Spiritualité chrétienne, II, Aubier MCMLXI) cho rằng “tầm mức quan trọng của Gương Chúa Giêsu không chỉ ở chỗ nêu lên một quan niệm mới về lòng đạo, xây dựng trên việc siêu thoát khỏi trần gian, và một đời sống thực tế với những đòi hỏi cụ thể thường ngày của người môn đệ, mà còn chứng thực một bước dứt khoát cắt đứt giữa thần học và linh đạo, điều cho đến nay vẫn là một trong những nét tiêu biểu của Hội Thánh Công Giáo Rôma.”

Tiêu biểu cho Devotio Moderna, Gương Chúa Giêsu là chứng tích một giai đoạn lịch sử không chịu giới hạn đời sống đức tin vào những suy tư thuần lý dành riêng cho các nhà thần học hay những chiêm niệm cao siêu dành riêng cho các đan sĩ, nhưng muốn giúp những người bình thường đạt đến mức cao trong đời sống thiêng liêng. Tuy nhiên, cũng tiêu biểu cho Devotio Moderna, Gương Chúa Giêsu nặng phần cá nhân và nội tâm, ít chú ý đến đời sống cộng đoàn và hoạt động tông đồ. Trong một thời gian dài, Gương Chúa Giêsu được nhiều người coi như Tin Mừng Thứ Năm. Tuy nhiên, linh đạo của Devotio ModernaGương Chúa Giêsu là kết tinh không còn đáp ứng nhiều vấn đề lớn trong đời sống thiêng liêng hiện nay nữa.

Chắc Gương Chúa Giêsu đã ảnh hưởng trên đời sống nội tâm cá nhân của thánh I-nhã, và một phần trong Linh Thao, nhưng ít để lại dấu ấn rõ rệt hay đáng kể trong linh đạo nhập thế và tông đồ của Dòng Tên.

 

Phụ trang 17

Thăng tiến đời sống thiêng liêng

(De Spiritualibus Ascensionibus

của Gerard Zerbolt de Zutphen, Tu hội Anh em Đời Sống Chung)

 

            Gerard Zerbolt de Zutphen (1367-1398) có thể đã không gặp Gerard Groote, nhưng hình như đã chịu ảnh hưởng của Devotio Moderna ngay từ đầu, và sau đó gia nhập tu hội Anh em Đời Sống Chung nữa. Mặc dầu mất sớm, mới 31 tuổi, ông đã để lại một số văn phẩm, trong đó quan trọng nhất là hai cuốn De Reformatione virium animaeDe Spiritualibus Ascensionibus.

            Mở đầu cuốn trước, tác giả trích câu Tin Mừng Lc 10,30 (Có người đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô): do tội nguyên tổ, con người bỏ Giêrusalem là nơi bình an để đi Giêrikhô là thung lũng bất ổn và bất hạnh. Muốn tìm lại tâm hồn trong trắng và tình yêu, phải cải tổ ba khả năng của linh hồn là trí hiểu, trí nhớ và ý chí. Nhờ đọc Kinh Thánh và các giáo phụ, trí hiểu sẽ được soi sáng nhờ nhận thức và kinh nghiệm thiêng liêng. Nhờ những công việc hữu ích và việc suy niệm về tội lỗi, sự chết, địa ngục, phán xét chung và hạnh phúc thiên đàng, trí nhớ sẽ được thanh luyện. Muốn cải tổ ý chí, phải chiến đấu mạnh mẽ chống lại bảy mối tội đầu bằng việc thực hành bảy nhân đích đối nghịch.

            Các chủ đề được khai triển thêm trong cuốn sau (nhất là các chương 28-37, lấy lại các chương 24-36 của cuốn trước). Gerard Zerbolt nhấn mạnh việc con người tự bản chất hướng thượng và muốn vươn lên. Nhưng muốn thực hiện được ước nguyện ấy, phải nhờ ơn Chúa để tập các nhân đức. Đối nghịch với ba thảm cảnh (nguyên tội, vật dụctội riêng), là ba sức vươn: hoán cải, tình yêu đúng đắn thánh hóa các quan năng. Tác giả đề cao việc suy niệm đời sống và cuộc tử nạn của Đức Kitô, để bắt chước Người. Zerbolt sắp xếp việc suy ngắm kỹ hơn Groote: ấn định đề tài, thời điểm và thời lượng từng bài.

[1] Trong Hi Ký, thánh I-nhã không cho biết rõ thời điểm. Paul Dudon: “có lđầu tháng 3” (Saint Ignace de Loyola, tr. 64); Cándido Dalmases: “khong cui tháng 2” ( El Padre Maestro Ignacio, tr. 57);Ricardo García-Villoslada: “nhng ngày cui tháng 2” (San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 184).

[2] Xem Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 184.

[3] Hk 11.

[4] Người Hà Lan, hồng y giám mục Tortosa, nhiếp chính Tây Ban Nha, được bầu làm giáo hoàng vào tháng 1.1521, lúc đang ở Vitoria, cách Loyola hơn 100 km về hướng tây nam. Khoảng đầu tháng 3, ngài rời Vitoria lên đường đi nhậm chức tại Rôma qua ngả Barcelona, cùng tuyến đường thánh I-nhã dựđịnh đểđi hành hương Giêrusalem. Ngài sẽ lãnh đạo Hội Thánh đến năm 1523. Đó là “mt người thc s khc kh, rt nhit thành vi vic ci t Hi Thánh” (Paul Christophe, 2000 ans d’histoire de l’Eglise, Droguet-Ardant 2000, tr. 622). Ngài có hai dự tính lớn: cải tổ giáo triều Rôma và liên kết các cường quốc Châu Âu trước mối đe dọa của đế quốc Ottaman, nhưng mọi cố gắng của ngài đều vô vọng (Xem H. Tuechle, Nouvelle Histoire de l’Eglise, 3, Réforme et Contre-Réforme, Seuil 1968, tr. 154).

[5] Hk 11.

[6] Libro de Horas de Nuestra Senora. Xem Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 184.

[7] Hk 13 chỉ nói “mt người anh khác mun cùng đi vi ky đến Onate”. Các nhà nghiên cứu đều đồng ý đó là linh mục Péro López, lúc ấy đã là chánh sở nhà thờ Azpeitia.

[8] Xem El gentilhombre, tr. 215.

[9] Xem Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 185. Aránzazu, tiếng Basco, nghĩa là trong bi gai. Đền này cách Loyola khoảng 50 km về phía nam. Năm 1468, một chú bé chăn cừu cho biết đã thấy Đức Mẹ hiện ra trong bụi gai tại địa điểm ấy. Dân chúng trong vùng đã xây một ngôi đền nhỏ kính Đức Mẹ Bụi Gai. Vào thời thánh I-nhã, người ta thường đến canh thức tại ngôi đền này. Hiện nay, thay thế ngôi đền đơn sơ và nhỏ bé xưa kia là một Vương Cung Thánh Đường nguy nga tráng lệđược xây cất vào giữa thế kỷ XX. Tượng Đức Mẹ Bụi Gai vẫn được đặt ở chính điện. Đây cũng là một điểm thu hút nhiều du khách vì cảnh núi non rất hùng vĩ và thoáng đãng.

[10] Thư ngày 20.8.1554.

[11] Diego Laínez chỉ cho biết là ngài khấn khiết tịnh với Đức Mẹ, không cho biết tại đâu (Xem Cronicon I, tr. 16). Theo Ribadeneira, ngài khấn sau khi mua trang phục hành hương dưới chân Montserrat, trước khi lên đền Đức Mẹ (Xem Vita 16, FN, IV, tr. 103). Với lời của ngài viết cho thánh Phanxicô Borja, ngày nay hầu hết các tác giả cho là ngài khấn trước tượng Đức Mẹ Aránzazu.

[12] Thư Bolonia 17.6.1547, số 5.

[13] Hk 13.

[14] Linh Thao 21.

[15] Hk 13.

[16] Người anh linh mục của thánh I-nhã qua đời năm 1527 tại Barcelona, để lại nhiều gương xấu: tranh chấp quyền lợi vật chất liên miên với các nữ tu và để lại 4 người con hoang. Có thể lúc ấy thánh I-nhã cũng đang ở Barcelona. Hai anh em có gặp nhau ở đó không?

[17] Cách Logrono khoảng 10 km về hướng tây nam.

[18] Ribadeneira, Vita 12, FN, IV, tr. 97.

[19] HK 13.

[20] Saint Ignace de Loyola, tr. 68.

[21] San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 187.

[22] “Chc v quan trng”ấy là gì? Trích dẫn L. Fernández Martín (Inigo de Loyola “Teniente” del castillo de Fermoselle?: “Hisp. Sacra” 35, 1983, tr. 143-159), Ricardo García-Villoslada cho biết Don Antonio muốn trao cho thánh I-nhã pháo đài Fermoselle, trong tỉnh Zamora, giáp biên giới BồĐào Nha. Xem San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 188, cước chú 8.

[23] Paul Dudon, Saint Ignace de Loyola, tr. 69.

[24] Hai người nay tên là Andrea de Narbaiz và Juanes de Landeta cùng quê ở Azpeitia. Sau này, trước tòa điều tra phong thánh tại Pamplona, họ ca ngợi đời sống, sự thánh thiện và phong cách của thánh I-nhã, và cho biết ngài chia tay họ đểđi sng nghèo khó và khiêm h. Xem Scripta de S. Ignacio II, tr. 821.

[25] Hk 14.

[26] Hk 14.

[27] Thánh I-nhã là người suốt đời tha thiết hết lòng muốn Thiên Chúa được tôn vinh. Tôn vinh thường liên kết chặt chẽ với thái độ cung kính th ly mà ngài có đối với Thiên Chúa uy linh. Rất gần với cụm từđể tôn vinh Thiên Chúa (Hk 14, 36, 57, 85) là các cụm từđể phc v Thiên Chúa (Hk 21, 27, 60, 79, 82), và vì yêu mến Thiên Chúa (Hk 17, 60, 69).

[28] Hk 15-16.

[29] Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 190.

[30] Sura 3:47.

[31] Sura 19:22-23.

[32] Miguel Cervantes, Don Quijote, I, 4.

[33] Hk 16. Gonçalves da Câmara thêm: “Cha cũng mua mt đôi giày vi đế cói, nhưng ch mang mt chiếc, không phi vì lp d, nhưng vì mt chân còn phi băng và còn khá đau. Cho dù đi nga, mi ti chân y vn sưng lên, vì thế Cha nghĩ là bàn chân y phi mang giày.”

[34] Hk 17.

[35] Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 193.

[36] Nghĩa đen là Núi Cưa, vì nhìn từ xa, đặc biệt từ Manresa, dãy núi giống hình một lưỡi cưa. Theo truyền tụng dân gian, ngày xưa khi còn nhỏ, Chúa Giêsu lúc vui chơi đã cưa dãy núi ấy ra như vậy. Theo Virolay de Verdaguer, “Núi đã được các thiên thn cưa thành như vy bng lưỡi cưa vàng” (Trích dẫn theo Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 193). Dãy Montserrat dài 10 km, rộng 5 km, đỉnh cao nhất, Sant Jeroni, 1235 mét.

[37] Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 189.

[38] Người ta truyền tụng rằng bức tượng ấy đã do thánh Luca tạc, rồi được thánh Pherô đưa đến Tây Ban Nha. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu khoa học và nghệ thuật, bức tượng hiện nay ở Monserrat có lẽ đã được tạc vào khoảng thế kỷ XII-XIII. Dầu sao, đây là bức tượng được coi là cổ kính và nổi tiếng nhất ở Tây Ban Nha, nhưng chỉ ở Tây Ban Nha thôi. Bức tượng bằng gỗ nâu đen cao 95 cm, trình bày Đức Mẹ ngồi trên ngai, đầu đội triều thiên vàng, mình mặc áo vàng; Chúa Giêsu nhỏ, đầu cũng đội triều thiên vàng và mình cũng mặc áo vàng, ngồi trong lòng Đức Mẹ. Vương Cung Thánh Đường hiện nay được xây dựng vào cuối thế kỷ XVI, tượng Đức Mẹ Đen được đặt tại chính điện từ năm 1592.

[39] Ngoài thánh I-nhã, các vị thánh sau đây cũng từng đến viếng Montserrat: Phêrô Nolasco, Raymunđô de Penafort, Vinh sơn Ferrer, Phanxicô de Borja, Lu-y Gonzaga, Giuse de Calasanz, Antôn María Claret. Ngày 31.3.1491, nữ hoàng Isabel viết: “Hoàng thượng (vua Fernando) và tôi rất mộ mến đền Đức Mẹ Montserrat, địa điểm cầu nguyện và hành hương được người ta từ khắp nơi trên thế giới đến viếng.” Xem Leturia, El Gentilhombre Ignacio de Loyola, tr. 212. Hoàng đế Karl V đến Montserrat 5 lần.  

[40] Hiện nay lễ thánh Biển Đức được mừng vào ngày 11 tháng 7.

[41] Theo Josep M. Rambla Blanch, vào các dịp lễ số khách hành hương lên tới 5000 người. Xem El Pegrino, tr. 38, cuớc chú 6.

[42] Xem Phụ trang 14: Devotio Moderna.

[43] Exercitatorio de la vida espiritual Directorio de las horas canonicas.

[44] Jean Chanon, người Pháp, sinh năm 1480, làm linh mục phụ tá nhà thờ Chính Tòa Mirepoix (Nam Pháp). Một hôm ngài gặp một đan sĩ Montserrat đi quyên tiền nên biết và đi thăm Montserrat. Sau đó, ngài quyết định thu xếp rồi vào dòng năm 1512. Trước khi làm linh hướng khách hành hương ở Monserrat, ngài từng làm tập sư ở Valladolid rồi tu viện trưởng một số đan viện ở Bồ Đào Nha. Ngài được nhiều người coi là bậc thánh. Pedro de Leturia cho biết vào năm 1522, cha Jean Chanon được kính nể vì: (1) sống khắc khổ, suốt đời kiêng thịt; (2) nhiệt thành trong nhiệm vụ giải tội cho khách hành hương; (3) siêng năng việc cầu nguyện, cả khẩu nguyện cũng như tâm nguyện; (4) đặc biệt sùng mộ Thánh Thể và kinh Mân Côi (Xem El gentilhombre Ignacio de Loyola, tr. 266-267). Ngài qua đời tại Monserrat ngày 16.6.1568.

[45] San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 196.

[46] Xem Phụ trang 15: Luyện tập đời sống thiêng liêng.

[47] Trích dẫn theo Pedro de Leturia, El gentilhmbre Ignacio de Loyola, tr. 268.

[48] Hk 17.

[49] Hk 18.

[50] LT 146.

[51] Theo Diego Laínez, trong thư Bolonia 17.6.1547, thánh I-nhã đổi trang phục trước khi lên Montserrat. Tuy nhiên, chính thánh I-nhã cho biết là ngài đổi trang phục trong đêm vọng lễ Truyền Tin.

[52] Diego Laínez cho biết sau này ở Manresa, “lúc mt mình trong nhà tế bn, ch mt ln có ý nghĩ: ‘Giá giđây có qun áo như cũđể mc thì có phi hơn không!’ Cm thy hơi bun, ngài ri nơi đó đến ch nhng người nghèo, và ý tưởng y biến mt.” Xem thư Bolonia 17.6.1547, số 6.

[53] Thời thánh I-nhã, các nhà thờ, đặc biệt trong các đan viện, thường có nhiều bàn thờđể các linh mục dâng lễđộc tế, vì lúc ấy chưa có đồng tế như hiện nay. Nơi mỗi bàn thờ, có một ảnh tượng Chúa Giêsu, Đức Mẹ hay các thánh. Hiện nay, tại Vương Cung Thánh Đường Montserrat, từ ngoài đi vào theo đường lên viếng Đức MẹĐen, phía tay phải, trên tường ở gian thứ hai, có trưng bày một thanh kiếm tại nơi xưa kia là nơi thánh I-nhã dâng kiếm và dao găm cho Đức MẹĐen. Đó là một thanh kiếm phục chế. Thanh kiếm được cho là đích thực mà thánh I-nhã đã dâng cho Đức Mẹ hiện được lưu giữ và trưng bày tại nhà thờ của Dòng Tên ở số 27 Carrer Casp, Barcelona (Tây Ban Nha). Tại Loyola một thanh kiếm được cho là của thánh I-nhã cũng được lưu giữ và trưng bày, nhưng không phải chính thanh kiếm ngài đã dâng cho Đức MẹĐen.

[54] Xem Josep M. Rambla Blanch, El peregrino, tr. 38, cước chú 7.

[55] Cuộc canh thức của Esplandián: “Trước tòa Đức M… sut đêm, rt st sng và khiêm tn, xin M làm trng sư trước mt Con rt vinh hin ca M.” Xem Josep M. Rambla Blanch, El peregrino, tr. 38, cước chú 7.

[56] Vita Ignatii, I, MHSI 1, tr. 17-18.

[57] Saint Ignace de Loyola, tr. 75. Lt 101.

[58] San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 201. Lt 234.

[59] Hk 18.

[60] Antonio de Araoz, S.J., rồi Anselm Albareda, OSB (Sant Ignasi a Monserrat, Monserrat 1935), cho rằng thánh I-nhã ở lại trong một ẩn viện tại Montserrat một thời gian trước khi đi Manresa: xem FN, III, tr. 200; 203-208. Ribadeneira cho rằng giả thuyết ấy không thể chấp nhận được: xem FN, III, tr. 219. Ngày nay tất cả các sử gia đều phi bác giả thuyết này, vì không có chứng cứ lịch sử và trái với lời kể của thánh I-nhã.

[61] Có lẽở Montserrat, ngài không biết là thực ra vào ngày 25.3, đoàn này còn ở Tudela (cách Barcelona hơn 350 km về hướng tây), đầu tháng 4 đến Zaragoza, ngày 10.7 đến Tarragona và ngày 6.8 mới đến Barcelona. Xem Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 202.

[62] Xem André Ravier, Ignace de Loyola et l’art de la décision, tr. 30.

[63] C. de Dalmases, El Padre Maestro Ignacio, tr. 46-47.

[64] Xem Las influencias cisnerianos de los Ejercicios, trong Las fuentes de los Ejercicions Espirituales de San Ignacio, Mensajo 1998, tr. 359.

[65] X. Rambla, El peregrino, tr. 39, ct. 2.

[66] Một phụ nữ ngoan đạo và giàu lòng bác ái, đã goá chồng hai lần, thường trú tại Barcelona, nhưng có nhà tại Manresa. Thường mỗi thứ bảy bà đi Monserrat đến hôm sau về.

[67] Narratio Joannis Pasqual, Ignatiana 4, Scripta de Ignatio II, MHSI 56, p.84.

[68]Đó là các bà Inés Pascual, Paula Amigrant, Catalina Molins và Jerónima Claver; hai thiếu niên là Juan Pascual và Miguel Caneyelles. Tất cả là người Manresa và cùng từ Montserrat về; cả bốn phụ nữ cùng là góa phụ. Xem FN, III, tr. 184-188; Joan Segarra Pijuan, Manresa y San Ignacio de Loyola, tr. 31.

[69] Một số chứng nhân khai trước tòa điều tra phong chân phước và phong thánh cho ngài là trước khi thánh I-nhã vào Manresa, ngài dừng lại cầu nguyện lâu giờ tại ẩn viện La Virgen de la Guía (Đức Trinh Nữ Dẫn Đường), rồi qua Pont Vell (Cầu Cũ) vượt sông Cardoner, vào thành, đến La Seu (Nhà Thờ Lớn) cầu nguyện 2 giờ rồi mới đến nhà tế bần Santa Lucia.

[70] Valle del Paraíso.

[71]Đã từng là nhà thờ chính tòa: Manresa có tòa giám mục riêng đến thế kỷ IX, nhưng từ năm 888 được sáp nhập giáo phận Vic cho đến nay. X. Dudon, Saint Ignace de Loyola, tr. 76.

[72] Cách nhà tế bần chừng 200 mét.

[73] Hk 19. Về hát lễ trọng thể, và hát kinh thần vụ, suốt đời thánh I-nhã vẫn thích. Năm 1554, ngài nói với cha Ribadeneira: "Theo s thích và thiên hướng cá nhân, chc tôi n định vic hát l và hát kinh thn v trong Dòng. Tôi không làm như vy vì Chúa cho tôi hiu là Chúa không mun điu đó: Chúa không mun dùng chúng ta để ca hát trong nhà th, nhưng mun chúng ta làm nhng vic khác để phc v Chúa." (Scripta de Sancto Ignatio de Loyola, M.I; series 4, vol I, 1904-1918, trang 418).

[74] Hk 19.

[75] Hk 19.

[76] L’home del sac.

[77] Polanco, Vita Ignatii, số 19.

[78] Cách nhà tế bần khoảng 100 mét.

[79] Cách nhà tế bần khoảng 500 mét.

[80] Ở xóm Viladordis, cách nhà tế bần chừng 4 km về hướng đông.

[81] Cách nhà tế bần chừng 200 mét. Thánh I-nhã không nói gì về hang này, nhưng các chứng nhân ở Manresa đều xác nhận. X. Josep M. Rambla Blanch, El peregrino, tr. 45, ct. 13. Trên một tảng đá trong hang, có khắc hai hình thập giá, cao khoảng 10 cm; theo truyền tụng, chính thánh I-nhã đã khắc: một của Chúa Giêsu, và một của ngài (nhỏ hơn đôi chút và ở bên phải thập giá của Chúa, có lẽ ngài tự coi mình là kẻ trộm lành; không có thập giá của kẻ trộm d). Xem Joan Segarra Pijuan, Manresa y San Ignacio de Loyola, tr. 125. Hang này đã được Dòng Tên biến thành nhà nguyện từđầu thế kỷ XVII.

[82] L’home sant.

[83] Hk 18.

[84] Hk 20.

[85] Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 212.

[86] X. FN, I, tr. 392, cước chú 5.

[87] Xem Phụ trang 17: Gương Chúa Giêsu.

[88] Memoriale, FN, I, MHSI 66, tr. 584.

[89] Hk 20.

[90] Laínez, Thư Bolonia 17.6.1547, số 8, FN, I, MHSI 66, tr. 79; Leturia, Genesis de los ejercicios de San Ignacio en la fundacion de la Compania de Jésus, trong Estudios Ignacianos; Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 212. André Ravier, Ignace de Loyola et l’art de la décision, tr. 31.

[91] Hk 19.

[92] Hk 20.

[93] Hk 21.

[94] Các nhà nghiên cứu về tiểu sử thánh I-nhã đã bỏ ra nhiều công sức để nhận diện nhân vật này, nhưng cho đến này vẫn chưa có kết quả nào.

[95] X. 2 Tm 2,3-10. Thánh Phaolô so sánh đời sống của người tông đồ với đời sống của một chiến binh, một vận động viên, một nông dân. Ngài khuyên người môn đệ 'đồng lao cng kh như mt người lính gii ca Đức Kitô Giêsu' và chia sẻ: "Tôi cam chu mi s, để mưu ích cho nhng người Thiên Chúa đã chn, để h cũng đạt ti ơn cu độ trong Đức Kitô Giêsu, và được hưởng vinh quang muôn đời." Thời Trung Cổ, người ta thường dùng hình ảnh chiến sĩ, chiến đấu, chiến trường, để chỉ người hiến thân cho Chúa trong đời tu hay đời tông đồ. Bản Định Thức Thể Chế Dòng Tên nói về người muốn vào Dòng: "chiến đấu cho Thiên Chúa dưới cĐức Kitô" (ĐT 1. Trong thư gởi anh em Dòng Tên ở Học viện Coimbra, ngày 7.5.1547, thánh I-nhã cũng viết: “Hơn bt cđiu gì khác, anh em phi đánh thc nơi mình lòng yêu mến tinh ròng đối vi Chúa Giêsu Kitô, lòng ước ao tôn vinh Người và cu ri các linh hn mà Người đã cu chuc. Vì trong Dòng này, anh em là chiến sĩ vi mt danh hiu đặc bit và mt lương bng đặc bit.” Thánh I-nhã dùng nhiều hình ảnh để diễn tảđời sống mới: thường xuyên là khánh hành hương, ởđây là chiến sĩ.

[96] Hk 21-22.

[97] Theo André Ravier, Ignace de Loyola et l’art de la décision, tr. 32: hình như khởi đầu do việc ngài nhớ lại tội cũ.

[98] Nhà thờ La Seu lúc ấy không còn là thờ chính tòa nữa, nhưng dân chúng vẫn quen gọi như vậy.

[99] Hk 22-23.

[100] Phải gọi là tu viện mới đúng, nhưng thánh I-nhã thường không phân biệt đan viện của dòng chiêm niệm với tu viện của dòng khất thực. Tu viện này ở cách Nhà Thờ Lớn chừng 500 mét về phía tây bắc, hiện nay đã bị phá hủy.

[101] Có lẽ tương ứng với 7 ‘giờ’ kinh thần vụ thời ấy: kinh đêm (nửa đêm), kinh sáng (khoảng 6 giờ), kinh giờ ba (9 giờ), kinh giờ 6 (12 giờ trưa), kinh giờ 9 (15 giờ), kinh chiều (khoảng 18 giờ), và kinh tối (khoảng 21 giờ).

[102]Để dự giờ kinh đêm của tu viện.

[103] Sau này, thánh I-nhã khuyên người gặp sầu khổ chẳng những phải trung thành mà còn phải tăng cường việc cầu nguyện và hãm mình (Lt 319).

[104] Hk 23-24.

[105] Bản văn nói rõ về một hố sâu (agujero) trong phòng. Thật khó hình dung được là có một hố sâu trong một phòng nhỏ tại tu viện. Có người nghĩđó là một lỗ trên tường. Nhưng theo thói quen của dòng Đaminh, phòng dành cho khách trọ thường ở tầng trệt, nên thánh I-nhã có lao ra cũng chẳng hề hấn gì! Có người phỏng đoán là vì tu viện xây dựng trên sườn đồi, nên lao mình ra khỏi lỗ thì rơi xuống vực sâu. Tiếc là tu viện ấy đã bị phá hủy từ lâu, nên chúng ta khó kiểm chứng được.

[106] Thánh I-nhã làm hết cách, chỉ sợ một điều là phạm tội.

[107] Hk 24-25.

[108] Hk 24.

[109] Hk 27.

[110] Josep M. Rambla Blanch, El peregino, tr. 39, ct 2.

[111] FN, I, tr. 82.

[112] Hk 28.

[113] FN, I, tr. 82. Quyển này đã thất lạc.

[114] Xem Josep M. Rambla Blanch, El peregino, tr. 46-47, ct. 18.

[115] Hk 29.

[116] La Spiritualité de la Compagnie de Jésus, Esquisse historique, Rome 1953, trang 13-14.

[117] Hk 30.

[118] La Creu del Tort.

[119] Hk 30.

[120] Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 217.

[121] Josep M. Rambla Blanch, El peregino, tr. 48, ct. 23.

[122] FN, II, tr. 256.

[123] El Padre Maestro Ignacio de Loyola, tr. 73-74.

[124] Xem P. Cantin, L'illumination du Cardoner, Sciences ecclésiastiques, Janvier 1955; P. Arrupe, Ơn Soi Sáng Cardoner, trong bài Ngun hng Ba Ngôi ca đặc sng thánh I-nhã, Hiển Linh 2001.

[125] FN, I, tr. 508.

[126] Hk 26. Trong thư gởi nữ tu Teresa Rajedell ngày 11.9.1536, thánh I-nhã viết: Điu sau đây thường xy ra cho nhng người siêng năng cu nguyn hay chiêm nim. H thy khó ng vì ngay khi lên giường, h nghĩ vđề tài suy ngm, và c nghĩ vđiu y, nên không ngđược. Chính k thù li dng lúc y để gi lên trong tâm trí h nhng ý tưởng lành thánh. Nó ch nhm mt mc đích là làm cho người ta mt ngđể th xác mt mi. Phi dt khoát tránh. Mun làm được điu này điu kia thì th xác phi mnh khe. Nếu chm yếu, tôi không biết ch s làm được gì. Th xác mnh khe có th giúp rt nhiu để người ta làm điu tt hay điu xu: nhng k hư hng vi thói quen xu s làm điu xu, còn nhng người hoàn toàn sng cho Chúa và có thói quen tt s làm điu tt.”

[127] Hk 27. Ởđây, thánh I-nhã khám phá một qui tắc hết sức quan trọng trong thuật nhận định thần loại: an ủi không có nguyên nhân trước (Lt 336).

[128] La Creu del Tort, trên đường từ nhà tế bần Santa Lucia đến nhà thờ Sant Pau, hiện nay ở lềđường Santa Clara.

[129] Hk 31.

[130] Lt 329, bản dịch của Đinh Văn Trung.

[131] Lt 333, bản dịch của Đinh Văn Trung.

[132] Thư Bolonia 1547, số 9: FN, I, tr. ?? XXứ

[133] Processus Remiss. Minorissensis, Ignatiana 4, Scripta de Igntio II, MHSI 56, tr. 746.

[134] Hk 26.

[135] Dialogus II (1562-1565), MN 5, tr. 661.

[136] Impelling Spirit, tr. 137.

[137] Hk 99.

[138] FN, I, tr. 82.

[139] FN, II, tr. 527.

[140] FN, II, tr.190.

[141] Xem Genesis de los ejercicios de San Ignacio en la fundacion de la SJ, trong Estudios ignacianos, tr. 12.

[142] Pedro de Leturia cho rằng quyển sách này ảnh hưởng sâu đậm về giáo thuyết trên nội dung và trên về cấu trúc trên hình thức. Xem Genesis de los ejercicios de San Ignacio en la fundacion de la SJ, trong Estudios ignacianos, tr. 12.

[143] Mon. Rib. II, MHSI 60, tr. 504.

[144] Saint Ignace de Loyola, tr. XXu

[145] Histoire de la Spiritualité Chríetienne, II, Aubier MCMLXI.

[146] Nguyên văn: Compendio breve de Ejercicios Espirituales, sacados de un libro Ejercitatorio de vida espiritual, que compuso el muy reverendo Padre Fray García de Cisneros, Abad que fue de este monasterio de Nuestra Senora de Montserrat (Tóm lược các bài thao luyn thiêng liêng rút ra t cun Luyn tp Đời sng Thiêng liêng do cha rt đáng kính García de Disneros, vin phđan vin Đức M Montserrat, son).

[147] Xem Le manuel de Montserrat et les Exercices Spirituels de Saint Ignace, Christus 167 (1995), tr. 358-369.

[148] X. El gentilhombre Inigo Lopez de Loyola, Labor 1949.

[149] Xem Mon. Ign. 4, Scripta II, MHSI 56, tr. 384-385; 445-447; 896. Vả lại, các phụ nữđạo đức ở Manresa, quen với thánh I-nhã ngay từđầu, có thói quen mỗi thứ bảy đi Montserrat, chẳng lẽ trong gần một năm, thánh I-nhã không đi lần nào! Hơn nữa, trong thời gian ở Manresa, thánh I-nhã từng tiếp xúc với “mt người thông thái nhà th Chính Tòa, mt người rt đạo đức, thường ging nhà thy”, lại có lúc ở ngay trong tu viện dòng Thánh Đaminh, nên có thểđược biết hai cuốn này cách gián tiếp qua các cuộc gặp gỡ, và ngay cảđọc trực tiếp nữa.

[150] Xem Las influencias cisnerianos de los Ejercicios, trong Las fuentes de los Ejercicios Espirituales de San Ignacio, Mansajero 1980, tr. 359.

[151] Xem Phụ trang 17: Thăng tiến đời sống thiêng liêng.

[152] Dictionnaire de la Spiritualité, III, Beauchesne 1957, col. 745.

[153] Saint Ignace de Loyola, p. 80, 90.

[154] La Spiritualité moderne, I, L’essor: 1500-1605, Aubier 1966, tr. 22.

[155] Xem Le manuel de Montserrat et les Exercices Spirituels de Saint Ignace, Christus 167 (1995), tr. 368.

[156] Hk 32.

[157] Hk 34.

[158] Gần đền Đức Mẹ Viladordis có “Tri Marcetes”, nơi thánh I-nhã thường đến xin ăn mỗi khi viếng đền. Ở cách nhà tế bần Santa Lucia chừng 100 mét, gia đình Canyelles thường cho thánh I-nhã đến nghỉ ngơi ở ngay gần cửa ra vào trong nhà. Ngài đúng là ăn nhđậu theo nghĩa đen.

[159] Căn nhà này ở Plaza de San Ignacio Enfermo (Qung Trường Thánh I-nhã m), từ năm 1703 được chuyển thành nhà nguyện gọi là San Ignacio Enfermo (Thánh I-nhã m), hiện nay vẫn còn. Xem Joan Segarra Pijuan, Manresa y San Ignacio de Loyola, tr. 74.

[160] MI, Scripta II, tr. 304. Hiện nay, căn phòng của nhà tế bần Santa Lucia đã được biến thành phòng tưởng niệm có tượng thánh I-nhã nằm ngất và nhà nguyện của nhà tế bần được gọi là Nhà nguyn Ngt”.

[161] Vida del Padre Ignacio de Loyola, I, tr. 7.

[162] Vida de sant Ignasi, ấn bản thứ 3, Barcelona 1947, tr. 121.

[163] Ricardo García-Villoslada, San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 224-225.

[164] Joan Segarra Pijuan, Manresa y San Ignacio de Loyola.

[165] Impelling Spirit, tr. 361.

[166] FN, II, tr. 252.

[167] FN, I, tr. 140.

[168] Nguồn hứng Ba Ngôi Trong Đặc Sủng thánh I-nhã, số 22, trong Sng đặc sng thánh I-nhã, Hiển Linh 2001.

Thánh I-nhã : Tự do để yêu mến và phục vụ (V)

JK

1 người theo dõi
Xem thêm bài viết của người tạo bài đăng này

Bài viết liên quan

Sách "Ý NGHĨA VÀ LỊCH SỬ CỦA HÀNH HƯƠNG"Tác Phẩm
Sách "Ý NGHĨA VÀ LỊCH SỬ CỦA HÀNH HƯƠNG"

Lời giới thiệu của Lm. Giuse Cao Gia An, SJ, Tiến sĩ chú giải Kinh Thánh Năm 2025 là Năm Thánh của Giáo Hội. Trong các sinh hoạt của Năm Thánh, hàn...

2 năm trước
[Bạn Đường Đức Giêsu]: Sự thật là gì?Tác Phẩm
[Bạn Đường Đức Giêsu]: Sự thật là gì?

  Tác giả: Nguyễn Mai Kha, S.J. – Cao Gia An, S.J. Các bạn trẻ thân mến, Tin Mừng Thánh Gioan chương 18 ghi lại câu chất vấn của quan Philatô: “S...

6 năm trước
[Bí tích thống hối hòa giải – Xưng tội tiến đức]: Phần III-Ý kiến về xưng tội và giải tội (tt)Tác Phẩm
[Bí tích thống hối hòa giải – Xưng tội tiến đức]: Phần III-Ý kiến về xưng tội và giải tội (tt)

Tác giả: Antôn Ngô Văn Vững, S.J. III. PHÉP GIẢI TỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGOÀI KITÔ. XƯNG TỘI (xưng thú tội lỗi, ) Và ƯỚC MUỐN ĐƯỢC THA THỨ (trong các t...

6 năm trước

Các bài viết được quan tâm