Ôn hoà liệu có là đủ?

Theo giải thích của cha Patrick Riordan S.J., mức độ hạn chế các hành động của người biểu tình từ phía cảnh sát không chỉ được quyết định hiển nhiên bởi việc cuộc tụ tập đó mang tính ôn hòa hay bạo lực. Trên thực tế, một sự kết hợp phức tạp giữa quyền và nghĩa vụ của cá nhân lẫn chính quyền – vốn được đề cập trong các văn kiện của cả xã hội thế tục và Giáo hội – khiến câu hỏi về việc khi nào và liệu có nên can thiệp hay không trở thành một vấn đề vô cùng tế nhị.

 

Khi nào thì các cuộc biểu tình ôn hòa không còn có thể chấp nhận được nữa? Liệu sự thật của vấn đề, hay tính chất nghiêm trọng của các sự kiện như nạn đói ở Gaza hay biến đổi khí hậu, có biện minh đa số cho việc gây ra rối loạn trật tự công cộng của người biểu tình? Liệu sức mạnh trong cảm xúc của những người biểu tình có đồng nghĩa với việc các thiệt hại hoặc sự phá hoại tài sản có thể được bỏ qua? Trong hoàn cảnh nào thì việc hạn chế quyền biểu tình bị coi là vi phạm một quyền được bảo vệ? Nhiều câu hỏi nảy sinh từ các hành động biểu tình gần đây đã làm dấy lên những cuộc tranh luận trên truyền thông, trong quốc hội hoặc tại tòa án. Chúng cũng xuất hiện trong các cuộc trò chuyện của những công dân có quan tâm.

 

Có một cáo buộc về lỗ hổng trong Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR, 1950), cụ thể là nó mang tính phiến diện khi thúc đẩy và bảo vệ quyền cá nhân (dựa trên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền – UDHR, 1948). Lỗ hổng giả định ở đây là các quyền khẳng định của cá nhân không được cân bằng bởi các bổn phận tương ứng gắn liền với việc thực thi các quyền đó. Điều này không chỉ là việc một người không nên can thiệp vào quyền của người khác, mà quan trọng hơn, là không nên làm tổn hại đến mạng lưới xã hội và chính trị vốn là bối cảnh để các quyền đó được thực thi. Sự thiếu cân bằng này không chỉ là sự xao nhãng bổn phận cá nhân, mà còn là sự thiếu rõ ràng về nghĩa vụ của chính quyền dân sự trong việc bảo vệ công ích, song song với trách nhiệm duy trì quyền cá nhân.

 

Sự mất cân bằng này là có thể hiểu được, vì bối cảnh soạn thảo Công ước là mong muốn hạn chế quyền lực của nhà nước trong việc thắt chặt tự do cá nhân, sau những trải nghiệm kinh hoàng về chủ nghĩa Phát-xít […] đã đàn áp chính đồng bào mình nhân danh các giá trị cao cả hơn như vận mệnh quốc gia. Bảo vệ các cá nhân khỏi những can thiệp bất công và xâm phạm từ phía nhà nước là ưu tiên hàng đầu trong tâm thức những người soạn thảo nó.

 

Tuy nhiên, không phải vì thế mà các văn kiện nền tảng về nhân quyền này hoàn toàn bỏ qua nghĩa vụ của chính quyền dân sự trong việc tiết chế sự thực thi các quyền lợi khi cần thiết. Các văn kiện này thực sự đã phác thảo – dù đôi khi bằng những thuật ngữ còn khái quát – về những hoàn cảnh có thể đòi hỏi việc giới hạn quyền lợi. Có những quyền mang tính tuyệt đối: quyền không bị tra tấn là quyền không thể bị giảm thiểu hay kèm theo điều kiện (Điều 5, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền – UDHR), cũng như quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch (Điều 4). Những điều này được diễn đạt dưới hình thức phủ định: “Không ai có thể bị…”. Thế nhưng, có những quyền khác cũng được diễn đạt theo cấu trúc này nhưng lại kèm theo sự thẩm định nội tại, ví dụ: “Không ai bị bắt giữ một cách tuỳ tiện…” (Điều 9). Chính từ ngữ “tuỳ tiện” đã mở ra không gian cho việc xem xét các điều kiện mà khi đó việc bắt giữ không phải là vô cớ, mà là có cơ sở và được chuẩn nhận.

 

Các quyền khác được diễn đạt dưới hình thức khẳng định – chẳng hạn như: “Ai cũng có quyền sống, quyền tự do và an toàn thân thể…” (Điều 3) – mang tính xác quyết, và dù chúng được tuyên bố là không thể tước bỏ, chúng vẫn không phải là tuyệt đối. Điều 29 của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) quy định cụ thể rằng:

 

  1. Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.
  2. Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.
  3. Trong mọi trường hợp, việc thực thi các quyền và tự do này không được trái với các mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hợp Quốc.

 

Khoản 1 Điều 29 nhấn mạnh về nghĩa vụ của những người thụ hưởng quyền đối với xã hội. Khoản 2 Điều 29 liệt kê các điều kiện để hạn chế việc thực thi các quyền. Khoản 3 Điều 29 mở rộng phạm vi của khái niệm “xã hội” bao gồm cả Liên Hợp Quốc.

 

Các lý do biện minh cho việc hạn chế quyền được tóm tắt trong khoản (2). Các hạn chế chỉ có thể được áp dụng theo quy định của pháp luật, nhằm phục vụ một hoặc nhiều mục đích trong bốn mục đích sau: (i) “đảm bảo sự công nhận và tôn trọng xứng đáng đối với các quyền và tự do của người khác”; “đáp ứng những yêu cầu chính đáng về [ii] đạo đức, [iii] trật tự công cộng và [iv] phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

 

Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR), với tên đầy đủ là Công ước Bảo vệ Nhân quyền và các Quyền Tự do Cơ bản (Rome, 4/11/1950), có xu hướng lồng ghép các điều kiện hạn chế quyền ngay trong nội dung của từng điều khoản. Những điều kiện này tương đồng với cách diễn đạt tại Khoản 2 Điều 29 của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR); ví dụ, Khoản 2 Điều 10 của ECHR về quyền tự do ngôn luận đã quy định như sau:

 

  1. Việc thực thi các quyền tự do này, vì luôn đi kèm với các nghĩa vụ và trách nhiệm, có thể phải chịu các thủ tục, điều kiện, hạn chế hoặc hình phạt do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích của an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ hoặc an toàn công cộng, để ngăn ngừa rối loạn hoặc tội phạm, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức, bảo vệ danh dự hoặc quyền lợi của người khác, để ngăn chặn việc tiết lộ thông tin nhận được một cách tin cậy, hoặc để duy trì thẩm quyền và tính khách quan của ngành tư pháp.

 

Cách diễn đạt về các điều kiện mà theo đó các quyền có thể bị hạn chế thường mang tính mơ hồ và chung chung. Chúng cũng có thể phản ánh lối tư duy bị giới hạn bởi thời đại khi các thuật ngữ như “lợi ích” hoặc “lợi ích chung” được sử dụng, ngụ ý một quan điểm mang tính vị lợi – giả định rằng lợi ích của một số cá nhân hoặc nhóm người có thể được đặt lên bàn cân so sánh với thiệt hại mà các cá nhân hoặc nhóm khác phải gánh chịu.[1] Tương tự, việc sử dụng các thuật ngữ như “đạo đức” có thể gây mơ hồ và hiểu lầm. Tuy nhiên, cũng giống như các thuật ngữ cụ thể hơn được sử dụng trong văn bản – chẳng hạn như các điều kiện trong Khoản 2 Điều 9 của ECHR về tự do tôn giáo: “vì lợi ích an toàn công cộng, để bảo vệ trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do của người khác” – việc cụ thể hóa bởi các cơ quan lập pháp và phán quyết của tòa án đều dựa trên các cuộc tranh luận, nơi mà nhiều quan điểm khác nhau có thể được đại diện.

 

Những cuộc tranh luận như vậy không những không được hỗ trợ mà còn bị cản trở khi các quyền được trình bày như thể chúng là tuyệt đối, chỉ đơn thuần được khẳng định mà không thừa nhận rằng hoàn toàn có thể có những căn cứ hợp lý để hạn chế chúng, và rằng mọi xã hội đều cần hình thành một quan điểm về việc hạn chế thực thi quyền theo pháp luật như thế nào và khi nào. Một điểm đáng chú ý trong cách diễn đạt của ECHR mà không có trong UDHR, đó là cụm từ “ngăn ngừa bạo loạn hoặc tội phạm” được đưa vào như một trong những căn cứ hợp pháp để hạn chế việc thực thi các quyền (Các Điều 2 [2] về ‘Tự do đi lại’; 8 [2] ‘Đời sống riêng tư và gia đình’; 10 [2] ‘Tự do ngôn luận’; 11 [2] ‘Tự do hội họp và lập hội’).

 

Một cuộc biểu tình hoặc tuần hành được mô tả là ôn hòa thường sẽ không dùng đến bạo lực chống lại con người bằng vũ khí, nhưng liệu việc cản trở thực thi “các quyền và tự do của người khác” cũng có thể được coi là bạo lực hay không? Phải chăng việc tước đi phạm vi tự do hành động của người khác là một hình thức bạo lực? Những câu hỏi như vậy nảy sinh trong các cuộc tranh luận của chúng ta, nhưng chúng có lẽ không mấy liên quan. Cách một xã hội trả lời những câu hỏi đó không phải là yếu tố quyết định phản ứng của xã hội đó đối với một cuộc biểu tình. Khi giải quyết vấn đề về việc khi nào các cơ quan chức năng hành động theo pháp luật có thể hạn chế việc thực thi các quyền của người biểu tình, các văn kiện nhân quyền đã chỉ rõ một loạt các mục đích mang tính chính đáng. Việc một cuộc tụ họp, một sự bày tỏ hay một cuộc biểu tình mang tính ôn hòa hay bạo lực không được xem là tiêu chí để cho phép sự hạn chế, mặc dù rõ ràng là bạo lực sẽ không được dung thứ. Điểm mấu chốt là tính chất ôn hòa của một cuộc biểu tình không mang lại sự miễn trừ khỏi những mối quan ngại về việc ngăn ngừa bạo loạn hay tội phạm, việc duy trì trật tự công cộng, và việc công nhận cũng như tôn trọng các quyền và tự do của người khác.

 

Các văn kiện nhân quyền được trích dẫn ở đây có từ năm 1948 và 1950. Giáo hội Công giáo đã tiếp nhận khái niệm nhân quyền vào những năm 1960, đáng chú ý là trong Thông điệp năm 1963 của Đức Giáo hoàng Gioan XXIII mang tên Pacem in terris (Hòa bình trên thế giới), và trong các văn kiện của Công đồng Vatican II. Vào tháng 12 năm 2025, chúng ta sẽ kỷ niệm 60 năm ngày ban bố hai trong số những văn kiện quan trọng nhất từ Công đồng này: Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes (Vui mừng và hy vọng) và Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo Dignitatis humanae (Phẩm giá con người).

 

Ta sẽ có cơ hội để tìm hiểu và khai thác sự phong phú của các văn kiện này. Ở đây, tôi tập trung vào vấn đề nảy sinh từ sự căng thẳng mà chúng ta đang trải nghiệm trong các vấn đề thời sự giữa quyền biểu tình và nghĩa vụ của chính quyền dân sự trong việc hạn chế thực thi quyền đó bằng luật pháp trong một số hoàn cảnh nhất định. Thông điệp Pacem in terris đánh dấu một bước đột phá trong giáo huấn của Giáo hoàng vì sự đón nhận toàn tâm toàn ý đối với các quyền con người, vốn đã được liệt kê và diễn giải chi tiết. Tuy nhiên, một điều có nguy cơ bị bỏ qua là sự chú ý tương đương dành cho các bổn phận, vốn cũng được liệt kê và diễn giải trong một phần song song. Cùng với những quyền mà họ được hưởng, các cá nhân trong xã hội được cho là có nghĩa vụ đối với những người lân cận (những người cũng nên được hưởng các quyền tương tự), và họ cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng.

 

Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo của Vatican II cũng mang tính cách mạng khi thừa nhận rằng quyền được hưởng tự do dựa trên phẩm giá con người, chứ không phải dựa trên sự thật như các học thuyết trước đó. Học thuyết cũ từng cho rằng sự sai lạc sẽ phủ nhận quyền tự do. Giờ đây, Công đồng dạy rằng tự do tôn giáo cần được tôn trọng bất kể niềm tin đó có đúng đắn hay không. Theo đó, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) cũng giải quyết một cách cơ bản về bản chất và nguồn gốc của các quyền.

 

Trách nhiệm của các cơ quan công quyền trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền được ghi nhận trong cả Dignitatis Humanae (Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo) và Gaudium et Spes (Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới ngày nay). Tuy nhiên, văn kiện đầu tiên (Dignitatis Humanae) dành nhiều nội dung hơn để nói về trách nhiệm của chính quyền dân sự trong việc bảo vệ và tạo điều kiện cho “các quyền bất khả xâm phạm của cá nhân”, bởi vì họ có trọng trách đảm bảo công ích của xã hội – vốn được hiểu là tập hợp những điều kiện cho phép con người theo đuổi các mục đích của mình (Dignitatis humanae [DH] số 6). Đoạn văn tiếp theo thừa nhận rằng đôi khi có thể cần thiết phải hạn chế việc thực thi các quyền, bao gồm cả quyền tự do tôn giáo. Bản Tuyên ngôn liên tục nhắc đến “những yêu cầu chính đáng của trật tự công cộng (§§ 2, 3, 4). Đoạn số 7 là phần diễn giải chi tiết nhất về những gì mà “trật tự công cộng” hàm chứa. Khi đề cập đến nhu cầu về các quy chuẩn điều chỉnh, văn bản trước hết viện dẫn trách nhiệm cá nhân và xã hội của mỗi người trong việc tôn trọng quyền của người khác. Ngoài ra, họ còn có những nghĩa vụ đối với công ích. Sau đó, đoạn văn chuyển sang các quyền của xã hội và nghĩa vụ của chính quyền dân sự trong việc duy trì trật tự công cộng.

 

Hơn nữa, vì xã hội dân sự có quyền tự bảo vệ mình trước những hành vi lạm dụng có thể xảy ra nhân danh tự do tôn giáo, nên trách nhiệm thực hiện sự bảo vệ đó đặc biệt thuộc về chính quyền dân sự (§7)

 

Cùng với việc bảo vệ quyền lợi của mọi công dân, chính quyền dân sự nên bảo vệ “an ninh công cộng, vốn được tìm thấy ở nơi con người chung sống trong trật tự tốt đẹp và công lý thực sự” (§7). Sự hài hòa xã hội và các mối quan hệ công bình tạo nên “trật tự công cộng”, điều mà Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) tóm gọn bằng cụm từ “trật tự công cộng”. Đoạn văn này kết thúc bằng một sự khẳng định mạnh mẽ về nguyên tắc rằng “tự do của con người phải được công nhận ở mức tối đa có thể và không được cắt giảm trừ khi và trong chừng mực cần thiết” (§7).[2]

 

Có một sự thống nhất đáng kinh ngạc giữa một bên là UDHR và ECHR (Công ước Châu Âu về Nhân quyền), và bên kia là các văn kiện của Công đồng Vatican. Các văn bản này, dù mang tính thế tục hay tôn giáo, đều gợi ý rằng vấn đề cốt lõi không phải là liệu một hành động biểu tình cụ thể nào đó có ôn hòa hay không, mà là liệu có cần thiết phải hạn chế việc thực thi các quyền tự do để giữ gìn trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm hay không. Mọi sự hạn chế đều phải dựa trên pháp luật, và do đó, cần có một cuộc tranh luận công khai rộng rãi về việc luật pháp nên quy định như thế nào và nên được áp dụng ra sao. Những nguồn tài liệu uy tín này cung cấp một khung tham chiếu hữu ích cho cuộc tranh luận công khai đó.

 

Nguồn: https://www.thinkingfaith.org/articles/it-enough-be-peaceful

Tác giả: Patrick Riodan, S.J.

Chuyển ngữ: Lê Minh | CTV JESCOM – Truyền Thông Dòng Tên

 

[1] John Finnis, Natural Law and Natural Rights (Oxford: Clarendon Press, 1980), pp. 210-218.

[2] Cited from the edition of Vatican Council II: Constitutions, Decrees, Declarations, edited by Austin Flannery. (Dublin: Dominican Publications, 1996), p. 558.

Kiểm tra tương tự

[Hạnh Các Thánh] – Ngày 10.02: Sống Đức Ái nhạy bén như thánh Scholastica

Tóm lược tiểu sử Nếu bạn nghĩ sự thánh thiện là phải trở nên khô …

Vượt qua dòng thác dữ

Trong bối cảnh thế giới chuyển biến không ngừng, với những xáo trộn dữ dội …