Ân Xá – Kho Tàng Cần Được Phục Hồi

Lịch sử của việc ban ân xá không phải là không có những bóng tối và những khía cạnh thiếu cảm hóa. Mặc dù có những chống đối, nhưng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo hội vẫn tiếp tục làm sáng tỏ giáo lý của mình, và thanh luyện việc thực hành này. Đồng thời, Giáo Hội cũng mời gọi các tín hữu chạm đến kinh nghiệm về “ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1Pr 4,10). Thật vậy, có rất nhiều tín hữu Công Giáo đáp lại lời mời gọi này bằng việc viếng thăm nghĩa trang và cầu nguyện cho các linh hồn, đặc biệt là vào những ngày đầu tháng 11. Ngoài ra, còn có những khoảng thời gian đặc biệt để lãnh nhận ân xá, chẳng hạn như Năm Thánh được Giáo hội thiết lập và công bố đều đặn kể từ năm 1300. Trong sắc lệnh khai mạc Năm Thánh Thường Lệ năm 2025 với chủ đề “Niềm Hy Vọng Không Làm Thất Vọng” (Spes Non Confundit), Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh: “Các đoạn trong tài liệu hiện tại nên được đọc cùng với thông báo về ân xá Năm Thánh về điều kiện để lãnh nhận theo quy định trong các chỉ dẫn về nghi thức” (số 6). Thực ra, không thiếu các văn bản giải thích chi tiết về lịch sử và kỷ luật liên quan đến ân xá. Vì thế, trong bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến khía cạnh hiện sinh của ân xá nhằm khích lệ việc thực hành các nghi lễ sốt sắng và có hiểu biết.

Bản chất của Ân Xá

Bộ Giáo Luật dựa trên Tông hiến “Giáo Lý về Ân Xá” (Indulgentiarum Doctrina) (1967) của Thánh Phaolô VI định nghĩa về ân xá như sau: “Ân xá là sự tháo giải trước mặt Chúa các hình phạt thế tạm vì các tội lỗi đã được xóa bỏ. Người tín hữu dọn mình xứng đáng và thi hành ít nhiều điều kiện đã chỉ định thì được hưởng ơn tha thứ ấy nhờ sự trung gian của Giáo Hội. Với tư cách thừa tác viên ơn cứu chuộc, Giáo Hội dùng quyền phân phát và áp dụng kho tàng đền tạ của Chúa Kitô và các Thánh.” (Điều 992) Định nghĩa này có thể khiến cho một số người thấy nghi ngại. Nó đề cập tới hình phạt tạm thời vẫn tồn tại, dù mọi tội lỗi đã được tha thứ. Lời Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20,22-23), minh nhiên làm nảy sinh một câu hỏi: Nếu vẫn còn hình phạt tạm thời cần “chịu” thì liệu việc tha tội có thực sự trọn vẹn hay không? Trong Bí tích Giải tội – hay đúng hơn là Bí tích Hoà giải – chẳng lẽ Thiên Chúa lại không xoá sạch mọi tội lỗi của hối nhân? Không! Thiên Chúa tha thứ tất cả tội lỗi của chúng ta mà không giữ lại điều gì, khi chúng ta lãnh nhận bí tích cũng như ngoài bí tích. Nếu vẫn còn những điều kiện hoặc hệ luỵ thì chắc chắn không đến từ Thiên Chúa, mà là từ thực tại của tội.

 

“Hình phạt tạm thời” không có nghĩa là Thiên Chúa tha thứ chúng ta một phần và muốn kéo dài thời gian án phạt vì tội chúng ta đã phạm, nhưng điều đó có nghĩa là: tội lỗi dù đã được tha nhưng vẫn để lại những hậu quả ít nhiều nghiêm trọng trong đời sống chúng ta. Trong sắc lệnh Hy Vọng Không Làm Thất Vọng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giải thích cặn kẽ trạng thái phức tạp của người tội nhân đã được tha thứ:

 

“Tội “để lại dấu vết”, tội gây ra những hậu quả: không chỉ là những hậu quả bên ngoài theo nghĩa hậu quả của sự ác đã phạm, mà còn cả hậu quả bên trong, theo nghĩa “mọi tội lỗi, dù là tội nhẹ, đều kéo theo nó một sự quyến luyến lệch lạc với các thụ tạo, nên cần được thanh tẩy, […]Vì thế, trong nhân tính yếu đuối của chúng ta vốn bị điều xấu lôi kéo, “những hậu quả còn sót lại của tội lỗi” vẫn còn đó.” (số 23).

 

Vấn đề này cũng được Đức Phanxicô bàn đến trong sắc lệnh Khuôn Mặt của Lòng Thương Xót (Misericordiae Vultus, 2015): “Trong Bí tích Hoà giải, Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của chúng ta, Ngài thật sự xoá bỏ chúng tất cả; nhưng tội lỗi vẫn để lại ảnh hưởng tiêu cực lên tư duy và hành vi của chúng ta. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa còn mạnh hơn thế nữa. Nó trở thành sự ân xá đến từ phía Chúa Cha” (Số 22). Nói cách khác, Thiên Chúa nhân từ cứu rỗi chúng ta, nhưng hành động của Người không mang tính tự động; Người không làm phép màu, vì chúng ta không phải là rô-bốt hay búp bê Barbie, mà là những con người với cá tính độc nhất không thể lặp lại, cần thời gian để chữa lành và sửa chữa những mối quan hệ bị tổn thương hoặc gãy đổ. Cái nhìn này không chỉ có tính pháp lý, mà còn rất hiện sinh. Tội lỗi có thể được tha, nhưng các hậu quả khác nhau của tội chỉ được giải quyết và khắc phục trong tiến trình sống của mỗi người. Quá trình chữa lành này thường kéo theo những đau đớn nhất định, vì thế chúng ta nói tới “hình phạt tạm thời”. Dù sao, đó không phải là điều Thiên Chúa áp đặt, mà là kết quả tự nhiên của tội lỗi khi “để lại dấu vết của nó”.

 

Tội lỗi đã được tha nhưng những vết thương do tội gây ra vẫn tồn tại và cần thời gian để chữa lành. Những vết thương này chính là hình phạt tạm thời. Ân xá là ân sủng giúp chữa lành các hệ quả của tội lỗi mặc dù tội đã được tha

 

Chúng ta có thể minh hoạ về hình phạt tạm thời qua vài ví dụ đơn giản sau đây. Giả sử một người đàn ông phản bội vợ và bị vợ phát hiện. Người đó thực sự ăn năn, xin vợ tha thứ và đi xưng tội. Dù đã nhận được tha thứ trong tòa giải tội và từ người vợ, hậu quả của sự phản bội vẫn còn. Cặp đôi vẫn cần thời gian để phục hồi sự tín nhiệm, tình cảm và đời sống hôn nhân. Cũng vậy, tội lỗi đã được tha nhưng những vết thương do tội gây ra vẫn tồn tại và cần thời gian để chữa lành. Những vết thương này chính là hình phạt tạm thời. Ân xá là ân sủng giúp chữa lành các hệ quả của tội lỗi mặc dù tội đã được tha. Chúng ta nói tới “hình phạt tạm thời” vì cũng có “hình phạt đời đời”, tức là án phạt đời đời do con người chọn lựa việc nói “không” với Thiên Chúa cách chung cuộc. Cả hình phạt tạm thời lẫn vĩnh viễn đều không phải là hành động báo thù của Thiên Chúa. Nói đúng hơn, đó là hậu quả từ hành động có ý thức và tự do của con người. Trong ngữ cảnh này, từ “hình phạt” dễ gây ra những lối hiểu sai về Thiên Chúa; tuy vậy, Giáo hội vẫn duy trì thuật ngữ này, bởi nó được rút ra từ Thánh Kinh và Thánh Truyền. Mặc dầu vậy, chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng Thiên Chúa luôn tìm cách cứu chuộc và chữa lành con người.

Ân xá từng phần và toàn phần trong bối cảnh lịch sử

Giáo lý về ân xá phân biệt tiểu xá – “ân xá tha một phần” và đại xá – “ân xá tha tất cả hình phạt tạm thời”(Giáo Luật, điều 993). Sự phân biệt này cho thấy ân sủng của Thiên Chúa hoạt động trong con người một cách tiệm tiến. Tuy nhiên, sự phân biệt này không ám chỉ rằng Thiên Chúa không sẵn lòng chữa lành tức thời và trọn vẹn cho tội nhân, mà tôn trọng nội tâm con người vốn hữu hạn, cần thời gian để tiến bộ trên đường trọn lành.

 

Mặt khác, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng giáo lý về tiểu xá và đại xá đã từng bị ảnh hưởng nặng nề bởi “việc thương mại hóa” tôn giáo (hay còn gọi là mại thánh). Chúng ta có thể thấy trong lịch sử, hàng loạt trường hợp lạm dụng việc quản lý ân xá, xem ân xá như một vật đổi chác, “thương mại hóa” các nghi lễ, thay vì nhằm diễn tả ân sủng của Thiên Chúa. Tiếc là, đã từng có lối suy nghĩ mang tính“ngoại giáo” lan rộng với quan niệm rằng có thể nhận được nhiều ân xá, thậm chí là giành được sự sống đời đời, nhờ việc quy đổi dựa trên số tiền dâng cúng hoặc việc làm bác ái, nhưng lại hoàn toàn quên đi lời mời gọi hoán cải.

 

Vào đầu thế kỷ XI, các Đức Giáo hoàng và Giám mục vẫn còn quản lý ân xá rất chừng mực, nhưng một thời gian sau thì thực hành này bị lạm dụng quá mức, chẳng hạn nhân danh việc kêu gọi tham gia các cuộc Thập tự chinh, hoặc nguồn quỹ tài chính để hỗ trợ cho quân đội. Tòa Thánh, các giáo phận, các dòng tu cũng như các hội đoàn tôn giáo đều cảm nhận áp lực từ nhu cầu thực sự của xã hội, đó là nhu cầu nhận ân xá. Nhu cầu này dựa trên những yêu cầu xã hội thực tế. Họ muốn cung cấp một thứ gì đó tương tự như ân xá. Đồng thời, họ biết rằng việc ban phát ân xá này sẽ mang lại rất nhiều tiền. Không chỉ vậy, thực hành việc ân xá còn gắn với nỗi “sợ hãi” của quần chúng về các quan niệm tôn giáo đã lan truyền từ đầu thiên niên kỷ thứ hai. Vì thế, các thực hành như cầu nguyện, thánh lễ, bố thí, hành hương đi kèm ân xá xuất hiện rầm rộ. Kiểu đạo đức “thương mại” này được củng cố bởi các quan niệm ngây thơ, kỳ quặc về thế giới bên kia, đặc biệt là luyện ngục. Theo quan niệm phổ biến thời đó, những người ở luyện ngục sẽ ở lại đó một thời gian xác định (tính theo ngày, tháng, năm) trước khi được lên thiên đàng. Chính vì niềm tin này, mỗi loại ân xá có số ngày hoặc năm nhất định để giảm trừ thời gian phải chịu hình phạt tạm thời ở luyện ngục.

 

Vấn đề ân xá đã không được đưa vào các suy tư thần học đầy đủ cho tới thế kỷ XIII, khi các thần học gia bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh này. Thánh Tôma Aquinô đề xướng quan điểm tích cực hơn về ân xá, tuy nhiên điều đó vẫn không đủ để chấm dứt các thực hành sai trái đã và đang trở nên rất phổ biến vào thời bấy giờ. Thậm chí, việc định lượng ân xá bị thổi phồng đến hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm. Việc “tính toán” số lượng ân xá thúc đẩy sự xuất hiện tràn lan của những người bán ân xá, lừa đảo và thu tiền đổi lấy lời hứa hẹn gian dối về ơn tiểu xá và đại xá.

 

Một trong những nguyên do khiến Luther phản đối (sau này đã dẫn đến cuộc Cải Cách Tin Lành) là hệ thống “tính toán” ân xá, nhất là liên quan đến việc quyên góp xây dựng Đền Thờ Thánh Phêrô. Trong 95 luận đề của Luther, ông giành nhiều giấy mực để nói về “tai tiếng” liên quan tới ân xá. [1] Ở luận đề 34, ông viết: “Ân sủng dựa trên ân xá chỉ liên quan đến các hình phạt của việc đền tội khi lãnh nhận bí tích là do con người định ra.”Vì thế, việc giảng về ân xá bị ông phê phán là “đáng tai tiếng” (luận đề 81). Ông cũng đặt câu hỏi mang tính mỉa mai: “Tại sao Giáo hoàng không giải thoát luyện ngục vì lòng bác ái thánh thiện và vì sự đau khổ lớn lao của các linh hồn. Đó mới là lý do chính đáng nhất. Tiếc thay, những người này chỉ giải thoát vô số linh hồn dựa trên số tiền dâng cho việc xây dựng đền thờ. Đây vốn dĩ là một lý do kém thuyết phục nhất?” (luận đề 82).

 

Giáo hội đã đáp lại những lời chỉ trích ấy khi tìm cách loại bỏ các lạm dụng về ân xá và trình bày lại giáo lý về ân xá một cách đầy đủ và có trật tự. Công đồng Trentô với Sắc lệnh về Ân xá (1563) tuyên bố rằng: “Quyền ban ân xá do Đức Kitô trao cho Giáo hội, và từ thời sơ khai thì Giáo hội đã sử dụng quyền này như một quà tặng từ Thiên Chúa [x. Mt 16,19; 18,18]. Vì thế, Thánh Công đồng dạy và tuyên tín rằng: việc sử dụng ân xá này vốn rất hữu ích cho giáo dân, nên phải được duy trì trong Giáo hội […]. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải tiết chế khi ban ân xá […] để sửa chữa và loại bỏ các lạm dụng còn tồn tại.” [2] Như vậy, Giáo hội đã tìm ra một sự quân bình giữa việc không loại bỏ sư tốt đẹp của ân xá đồng thời chấm dứt các thực hành sai trái của ân xá.

 

Tông hiến Giáo Lý về Ân Xá (Indulgentiarum Doctrina) của Thánh Phaolô VI là một bước tiến quan trọng trong tiến trình đó. Cuối văn bản là danh sách 20 quy tắc. Trong đó, quy tắc số 4 khẳng định rằng: “Từ nay, ơn xá tiểu xá sẽ chỉ được gọi đơn giản bằng các từ ‘tiểu xá’, không còn kèm theo việc ấn định số ngày hay số năm.” Thêm nữa, trong quy tắc số 6 có nói: “Đại xá chỉ có thể được lãnh nhận mỗi ngày một lần […]. Tiểu xá thì có thể được lãnh nhận nhiều hơn một lần trong ngày, trừ khi có chỉ dẫn minh nhiên ngược lại.” Quy tắc số 7 giúp chúng ta hiểu rõ khác biệt giữa đại xá và tiểu xá: “Để lãnh nhận đại xá, cần phải thực hiện công việc gắn liền với ơn xá ấy và chu toàn ba điều kiện: xưng tội bí tích, rước lễ Thánh Thể và cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng. Ngoài ra, còn đòi hỏi phải hoàn toàn dứt bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi, kể cả tội nhẹ. Nếu sự sẵn sàng nội tâm này không hoàn toàn trọn vẹn, hoặc nếu ba điều kiện được ấn định không được chu toàn, thì ơn xá chỉ là tiểu xá.”[3]

 

Điều kiện khó nhất để nhận đại xá là phải loại trừ “bất kỳ quyến luyến nào với tội, dù chỉ là tội nhẹ”. Con người có thể cộng tác với ân sủng để đạt tự do ấy, nhưng trên thực tế, thái độ này khá hiếm, nên có thể nói rất hiếm khi nhận được đại xá. Mặc dầu vậy, chúng ta đang nói đến một mối tương quan thân mật giữa Thiên Chúa và con người vốn vượt trên mọi nhận định hoặc tiêu chuẩn đo lường bên ngoài. Vấn đề tương tự cũng áp dụng cho tiểu xá. Chúng ta không có cách nào định lượng ân sủng thực sự đã lãnh nhận. Ta chỉ có thể hy vọng rằng: cho dù ta còn yếu đuối thì ân sủng vẫn hoạt động nơi ta một cách tiệm tiến nhờ ân xá để dẫn ta tới sự phục hồi trọn vẹn. Đức Giám mục Krzysztof Nykiel, chánh chủ tịch Toà Ân Giải Tối Cao, giải thích thêm rằng:  “Theo nghĩa này, giữa đại xá và tiểu xá có sự khác biệt như giữa quả và hoa: cả hai đều xuất phát từ lòng thương xót của Đức Kitô, nhưng một đàng là sự tiên báo, còn đàng kia là sự hoàn tất.” [4] Dù sao, chúng ta khó  có thể nói về việc định lượng trong lĩnh vực tinh thần; càng không phải là “những thứ” có thể đếm được, mà là mối tương quan với Thiên Chúa, nghĩa là sự sống của con người với Thiên Chúa trong Thánh Thần.

Cho người sống và người đã qua đời nơi luyện ngục

Bộ Giáo Luật viết: “Bất cứ tín hữu nào cũng có thể hưởng những ơn tiểu xá hoặc ơn toàn xá, hoặc cho chính mình, hoặc dành cho những người đã qua đời.” (điều 994). Như vậy, chúng ta không thể nhận ân xá thay cho một người đang sống. Vì sao lại như vậy? Tại sao chúng ta có thể chuyển ân xá cho người đã qua đời, tức là những người đang ở luyện ngục sau khi chết, nhưng không thể cho người sống? Thưa, các linh hồn ở luyện ngục không còn khả năng hành động vì chính mình, ngoài việc chịu tiến trình thanh luyện để chuẩn bị vào thiên đàng. Người đang sống thì còn khả năng chọn con đường hoán cải, sám hối và làm việc lành. Họ cũng có thể tự lãnh nhận ân xá, nên ý định nhận ân xá cho người không muốn mở lòng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa sẽ là vô nghĩa. Vì thế, điều kiện để lãnh nhận ân xá không thể áp dụng cho người sống khác; nhưng chỉ họ mới có thể tự chọn lựa và thực hiện những điều kiện để lãnh nhận ân xá cho mình. Trên thực tế, ân xá cho người đang sống lệ thuộc vào hành vi tự do của người đó cũng như chu toàn những điều kiện được đề cập ở trên. [5]

 

Đối với những người ở luyện ngục, họ đã chọn sự sống đời đời với Thiên Chúa, nhưng không còn có thể hành động bằng cách thực hiện các việc đạo đức; theo nghĩa này, họ sống trong một tình trạng thụ động, mở lòng cho công trình thanh luyện của Thiên Chúa. Đức Hồng Y Mauro Piacenza giải thích:

 

“Những người ở luyện ngục [homo purgans] có sự chắc chắn về ơn cứu độ vĩnh cửu, nhưng họ không còn ân ban của tự do, nên không thể lập công.” [6] Người còn sống (homo viator) có thể chủ động cộng tác vào công trình của Thiên Chúa và, qua các ơn xá, góp phần vào tiến trình thanh luyện diễn ra trong đời sau.

 

Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng các linh hồn ở luyện ngục có thể cầu nguyện cho chúng ta. Như vậy, mầu nhiệm các thánh thông công được thể hiện phần nào. Không ai là “ốc đảo”; không ai được cứu độ một mình. Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ duy nhất. Ngài muốn đưa con người vào hành trình cứu chuộc của Ngài. Ân xá dành cho bản thân là một phần trong tiến trình mang tính hiện sinh về việc thanh luyện khỏi hậu quả của tội lỗi (hình phạt tạm thời) mặc dù đã được tha. Chúng ta cũng cần nhấn mạnh như Thánh Gioan Phaolô II: “Ân xá không phải là loại ‘giảm giá’ cho trách nhiệm hoán cải cá nhân, mà là trợ giúp cho việc hoán cải cách sâu xa, quảng đại và triệt để. […] Chúng ta sẽ mắc sai lầm nếu nghĩ rằng chỉ cần thực hiện một số hành động bên ngoài là có thể lãnh nhận ân xá.” [7]  Thay vào đó, việc chu toàn các quy định được nói ở trên diễn tả sự hoán cải sâu xa của mỗi người.

 

Cũng thế, ân xá cho người đã qua đời là một phần trong tiến trình thanh luyện do Thiên Chúa thương ban để chuẩn bị cho con người bước vào ân sủng của sự sống đời đời. Trong tiến trình này, ta không nên nghĩ tới một sự cứu chuộc trực tiếp theo kiểu máy móc; nghĩa là; ân xá cho người chết không phải kiểu tự động, chắc chắn, mà đó là hành động của việc chuyển cầu, và luôn phụ thuộc vào phúc lành của Thiên Chúa.

 

Để hiểu sâu hơn về việc thanh luyện có thể dành cho người đã qua đời, giờ đây chúng ta cùng xem xét ý nghĩa hiện sinh của giáo lý về luyện ngục. Những ai ở thiên đàng không cần lời cầu nguyện của chúng ta; trái lại, họ chuyển cầu cho chúng ta. Ngược lại, đối với những ai đã khước từ Thiên Chúa, chọn điều chúng ta gọi là “hỏa ngục”, thì lời cầu nguyện không còn có thể trợ giúp. Thật vậy, những người bị luận phạt, chìm đắm trong kiêu ngạo của mình, không còn chờ đợi bất cứ sự nâng đỡ hay an ủi nào từ chúng ta. Trong khi đó, vẫn còn những người đang hành hương trên hành trình về trời, họ đã vượt qua cái chết, và vẫn tiếp tục cần lời cầu nguyện của chúng ta.

 

Luyện ngục là một tín điều. Một mặt, chúng ta không từ khước Thiên Chúa và mong được vào Nước của Người; mặt khác, chúng ta lại nhận biết mình còn là tội nhân, yếu đuối, và chưa sẵn sàng vào cửa thiên đàng để vui hưởng cách trọn vẹn trong Thánh Thần. Trong tình trạng bất toàn ấy, chính Thiên Chúa trong sáng kiến tự do của Người sẽ thanh luyện chúng ta và dẫn chúng ta vào đời sống Thiên Quốc. Vì thế, chúng ta không được coi luyện ngục như nơi tra tấn để thanh toán món nợ của tội lỗi chúng ta đã phạm, cũng không nên nghĩ rằng Thiên Chúa không thể đưa ta trực tiếp vào vinh quang của Ngài, hoặc muốn trừng phạt bằng cách giữ ta lại đó một thời gian.

 

Với Thiên Chúa thì luyện ngục không cần thiết, nhưng nó lại cần thiết cho chúng ta. Chúng ta còn vương vết nhơ, bị phân mảnh, lạc lối. Nhưng chính Thiên Chúa thanh tẩy, mặc cho ta y phục mới và dẫn vào dự tiệc cưới đời đời. Trong luyện ngục, con người đã biết chắc rằng mình sẽ lên thiên đàng, nhưng cũng ý thức rằng dù rất khao khát điều đó, họ chưa hoàn toàn sẵn sàng cho hạnh phúc đời đời.

 

Có thể ví luyện ngục như một đứa trẻ sau khi nghịch phá biết mình sẽ được mẹ tha thứ và ôm vào lòng, nhưng vẫn xấu hổ và chạy trốn mẹ. Nó vẫn chưa sẵn sàng để nằm yên trong vòng tay và cảm nhận sự bình an của mẹ. Cũng thế, ở luyện ngục con người cảm nhận được tình yêu của Chúa Giêsu, nhưng lại chưa hoàn toàn sẵn sàng tựa đầu vào ngực Người. Chính sự liên đới, lời cầu nguyện và các ân xá của chúng ta giúp các linh hồn vượt qua những giới hạn còn tồn tại để đón nhận trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa.

 

Dù trong Kinh Thánh không có giáo huấn minh nhiên về luyện ngục, nhưng chúng ta vẫn tìm thấy những dấu chỉ quan trọng về điều này. Sách 2 Maccabê (12,39-45) có đề cập đến lời cầu nguyện cho những người tử trận đã phạm tội vì mang bùa ngoại đạo trong áo. Đó là việc thanh luyện sau khi chết khỏi tội lỗi và hệ quả của nó, chính là luyện ngục. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô có đoạn văn khiến ta liên tưởng đến sự thanh luyện sau cái chết:

 

“Nếu công trình xây trên nền móng còn tồn tại, người xây sẽ được thưởng; nếu công trình bị thiêu hủy, người ấy sẽ chịu thiệt thòi; chính người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể qua lửa.” (1 Cr 3,14-15).

 

Ngay từ thời Giáo hội sơ khai đã có hình thức cầu nguyện cho người đã qua đời, như chứng tích trong tác phẩm Tự Thuật của Thánh Augustinô khi ngài cầu nguyện cho người mẹ quá cố của mình. Đến thế kỷ XII, thuật ngữ “luyện ngục” mới xuất hiện trong các bản văn liên quan tới giáo huấn của Giáo hội. Giáo lý này được đưa vào giáo huấn chính thức tại Công đồng Lyon II năm 1274, sau đó được Công đồng Florence phát triển trong sắc lệnh Các Tầng Trời Vui Mừng (Laetentur Caeli, 1439), và được phê chuẩn bởi Công đồng Trentô trong Sắc lệnh về luyện ngục (Decree on Purgatory, 1563).

 

Mô tả văn chương nổi tiếng nhất về luyện ngục là trong Thần Khúc của Dante. Ông ví luyện ngục là một ngọn núi, chân núi ngập trong biển, đỉnh núi chạm tới thiên đàng. Luyện ngục gồm chín phần: tiền đường dành cho linh hồn lười biếng sám hối đền tội. Tiếp đến là bảy tầng dành cho các linh hồn thanh luyện khỏi bảy trọng tội: kiêu ngạo, ghen ghét, nóng giận, tham lam, mê ăn uống, dâm dục. Còn tại đỉnh núi, tức tầng thứ chín, linh hồn uống từ hai nguồn: quên lỗi lầm và nhớ công trạng. Đỉnh núi được bao quanh bởi bầu khí tinh ròng mà qua đó linh hồn bay về trời. 

 

Về mặt thần học, luyện ngục không phải là những tầng thử thách kế tiếp, mà là sự gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô – Đấng thanh luyện con người khỏi mọi điều nghịch với tình yêu. Chúa Giêsu mời gọi các tín hữu tham dự cuộc gặp gỡ ấy, tức là đón nhận kho tàng lòng thương xót Chúa và hiệp thông cùng các thánh.

Tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa: Chứng tá của Thánh Faustina

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhiều lần nhấn mạnh mối liên kết giữa ân xá và Lòng Thương Xót Chúa. Trong sắc lệnh Niềm Hy Vọng Không Làm Thất Vọng (Spes Non Confundit), ngài có viết: “Thật vậy, ân xá giúp chúng ta khám phá lòng thương xót của Thiên Chúa vô hạn đến mức nào. Không phải ngẫu nhiên mà vào thời xưa, thuật ngữ “lòng thương xót” và thuật ngữ “ân xá” có thể dùng thay thế cho nhau, vì thuật ngữ này có ý diễn tả sự tha thứ trọn vẹn của Thiên Chúa, một sự tha thứ không giới hạn” (số 23). 

 

Lòng thương xót hoàn toàn khác xa các phương pháp “tính toán” về mặt thiêng liêng, bởi kiểu tính toán này làm lu mờ sứ điệp Tin Mừng của Giáo hội. Thay vào đó, lòng thương xót mang tính miễn phí, nhưng không của ân sủng; dù vậy, ân sủng cũng không loại trừ việc phải hội đủ các điều kiện để đón nhận. Điều kiện nền tảng là thái độ tin tưởng, cho phép ta mở lòng đón nhận điều thiện do Chúa ban. Khái niệm này được trình bày rõ trong Nhật ký của chị Maria Faustina Kowalska – Tông đồ của Lòng Thương Xót. [8] Trong một cuộc hiện ra, chính Thiên Chúa nói với chị: “Các ân huệ của lòng thương xót nơi Ta chỉ được ban qua một phương tiện duy nhất, đó là lòng tín thác”. [9] Các thực hành đạo đức trong Nhật ký đều hướng tới việc khơi gợi, củng cố và đào sâu lòng tin vào Thiên Chúa. Không phải là tin vào những công thức hay hành động bên ngoài, mà là mối quan hệ cá nhân với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Cảm giác nương náu, linh ẩn mà Nhật ký Faustina trình bày ấy sẽ không “đạt được” chỉ bằng lời đọc kinh cầu nguyện, mà là được bén rễ từ lòng tín thác vào Thiên Chúa. Ân xá, dù được Giáo hội quản trị dưới hình thức và quy tắc khác nhau, nhưng cốt lõi của nó là khơi dậy niềm tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa.

 

“Các ân huệ của lòng thương xót nơi Ta chỉ được ban qua một phương tiện duy nhất, đó là lòng tín thác”

 

Hành động tín thác này phải đi đôi với lòng thương xót dành cho tha nhân. Trong một thị kiến, Chúa Giêsu nói với chị Faustina: “Con phải là người đầu tiên tỏ ra tín thác vào Lòng Thương Xót của Ta. […] Con phải luôn tỏ lòng thương xót mọi nơi, mọi lúc đối với tha nhân […]. Ta chỉ cho con ba cách để tỏ lòng thương xót với tha nhân: hành động, lời nói và cầu nguyện.” [10] Tín thác không phải là thái độ thụ động chờ ân sủng ban xuống từ trên. Chúa Giêsu cảnh báo rằng “Nếu một linh hồn không thực hành lòng thương xót, họ sẽ không nhận được Lòng Thương Xót của Ta trong ngày phán xét”. [11]

 

Với chị Kowalska, phương diện quan trọng nhất của thực hành lòng thương xót là hướng tới sự sống đời đời. Tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa không đơn thuần chỉ là mong muốn mọi sự trên trần thế được tốt lành, mà mở ra chân trời vô tận về tình yêu thương xót của Chúa. Chính trong tinh thần ấy, chị Faustina đã lãnh nhận ân xá với xác tín sâu xa rằng chính Chúa Giêsu mời gọi chị thực hiện như vậy và lắng nghe lời Người dạy về các linh hồn nơi luyện ngục: “Con có quyền đem lại an ủi cho họ. Hãy lấy từ kho tàng của Giáo hội tất cả các ân xá và dâng cho họ.” [12]

 

Như vậy, vấn đề quan trọng nhất liên quan đến giáo lý ân xá là “kho tàng Giáo hội”, gắn liền với giáo lý về sự hiệp thông của các thánh. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo trình bày vấn đề ân xá dưới góc độ hiệp thông các thánh. Thuật ngữ này mang hai nghĩa: hiệp thông về các điều thánh (sancta) và hiệp thông giữa những người thánh (sancti) (xem Sách GLHTCG, số 948). Thuật ngữ “sancti” không những ám chỉ người đã hưởng vinh quang trên trời, mà còn nói tới những tín hữu vẫn đang lữ hành và những linh hồn nơi luyện ngục. Ba chiều kích này (giáo hội chiến đấu, thanh luyện, khải hoàn) làm nên sự hiệp thông của Giáo hội. Theo Công đồng Vatican II, mọi thành phần Dân Chúa “dù khác nhau về cách thức và  mức độ nhưng đều liên kết trong cùng một tình yêu Thiên Chúa và tha nhân […]. Sự hiệp nhất[…] được củng cố nhờ trao đổi các thiện ích thiêng liêng”. [13] Nói cách khác, các tín hữu trên trời, nơi luyện ngục và trần gian đều liên kết với Đức Kitô với những phương cách khác nhau, nhưng đều tương quan và chia sẻ ân sủng đã nhận từ Thiên Chúa.

 

Sách Giáo lý còn nói thêm: “Các thiện ích thiêng liêng của hiệp thông các thánh cũng được gọi là kho tàng Giáo hội” (số 1476). Thánh Phaolô VI nêu rõ trong Giáo Lý về Ân Xá rằng:  kho tàng này trước hết là “vô giá, vô hạn, và liên lỉ vốn hệ tại ở sự đền bù và công nghiệp của Đức Kitô Chúa chúng ta trước mặt Thiên Chúa Cha.” Nhưng công nghiệp của Đức Kitô còn được kết hợp với “lời cầu nguyện và việc lành của Đức Maria và tất cả các thánh” (số 5). Đức Kitô – Đấng cứu độ duy nhất – mời gọi chúng ta tham gia vào công trình cứu chuộc của Người. Chúng ta có thể làm vậy nhờ một phần là nhờ ân xá: ta nhận từ kho tàng của Giáo hội, vốn là khía cạnh của hiệp thông cùng các thánh, và có thể gọi là “kho tàng lòng thương xót của Thiên Chúa”, từ đó phát sinh và được bổ sung bằng việc làm bác ái, kể cả ân xá.

 

Điều này hoàn toàn khác với kiểu sùng đạo mang tính “thương mại”, pháp lý phát sinh từ nỗi sợ hãi. Sự thật là, trong Đức Kitô, đời sống ta liên kết với người Kitô hữu đi trước, để ta có thể hỗ trợ lẫn nhau, dù vẫn có khoảng cách giữa trần thế và luyện ngục.

Ân xá ngày nay

Do các lạm dụng đã làm méo mó ý nghĩa của ân xá, mà Giáo hội chưa giải quyết thấu đáo, giáo lý về ân xá đã gây ra chia rẽ giữa Giáo hội Công giáo và các cộng đoàn Kitô khác, đặc biệt là các cộng đoàn Tin Lành. Có những ý kiến cho rằng ân xá chỉ còn là ký ức quá khứ, rồi sẽ bị xóa bỏ theo thời gian.

 

Tuy nhiên, với cách tiếp cận hiện sinh và lấy Đức Kitô làm trung tâm, chúng ta có thể tái khám phá sức sống bất diệt của thực hành ân xá. Vì thế, Giáo hội vẫn luôn khẳng định giá trị của ân xá trong đời sống Kitô hữu, với niềm xác tín về nguồn gốc là từ mầu nhiệm Lòng Thương Xót và sự thật về sự hiệp thông của các thánh. Đức hồng y Piacenza nói: “Kho tàng Ân Xá […] không thể bị bỏ qua; vì nó không phải kiếm được mà là được ban cách nhưng không bởi Đức Kitô và công nghiệp vô hạn của Người với Chúa Cha, nên ân xá không bao giờ mất đi.” [14] Năm Thánh là lời mời gọi dành cho các tín hữu làm mới sự hiểu biết về ý nghĩa của ân xá và lãnh nhận chúng với lòng tin cậy vững vàng, như cánh cửa mở ra một niềm hy vọng mới. Nhờ hy vọng, chúng ta được cứu độ – Spe salvi facti sumus.

 

Nguồn: https://www.laciviltacattolica.com/indulgences-a-treasure-to-recover/

Tác giả: Dariusz Kowalczyk SJ 

Chuyển ngữ: Phêrô Đào Anh Tuấn, S.J.

 

DOI: https://doi.org/10.32009/22072446.0525.3

[1]. Cf. Luther’s 95 Theses, at www.chiesaluterana.it/teologia/le-95-tesi-di-lutero

[2]. H. Denzinger – P. Hünermann, Enchiridion Symbolorum, Bologna, EDB, 1995, n. 1835.

[3]. Paul VI, Apostolic constitution Indulgentiarum Doctrina, in https://www.vatican.va/content/paul-vi/en/apost_constitutions/documents/hf_p-vi_apc_01011967_indulgentiarum-doctrina.html

[4]. K. Nykiel, Il Sacramento della Misericordia. Accogliere con l’amore di Dio, Vatican City, Libreria Editrice Vaticana, 2019, 269 f.

[5]. Ibid.

[6]. M. Piacenza, “Il grande tesoro delle indulgenze”, Lectio Magistralis, March 9, 2015, in http://www.penitenzieria.va/content/dam/penitenzieriaapostolica/indulgenze/Piacenza%20-%20Lectio%20magistralis%20Indulgenze%202015.pdf

[7]. John Paul II, “The Gift of Indulgence”, General Audience, September 29, 1999.

[8]. Cf. D. Kowalczyk, Il perché della Trinità. Dodici questioni scelte di teologia trinitaria, Venice, Marcianum, 2024, 279-281.

[9]. F. Kowalska, Diario. La Misericordia Divina nella mia anima, Vatican City, Vatican Publishing Library, 2010, no. 1578.

[10]. Ibid., no. 742.

[11]. Ibid., no. 1317.

[12]. Ibid., no. 1226.

[13]. Second Vatican Ecumenical Council, Lumen Gentium, no. 49.

[14]. M. Piacenza, “Il grande tesoro delle indulgenze”, op. cit.

Kiểm tra tương tự

Ngày Thứ Hai Mươi Tư: Ngẫu Tượng

Sau khi ma quỷ đưa Chúa Giêsu lên núi và cho Ngài thấy sự phồn …

[Suy tư cùng ĐGH] – Việc đối thoại giữa các quốc gia

Nếu đối thoại ở cấp độ cá nhân là nền tảng của hòa bình nội …