
“Thập Giá ngất cao, trên đồi Thập Giá ơi. Người mong, Người mong nói gì, nói gì với đời?”
Lời của bài hát Thập Giá Nói gì của nhạc sĩ Phanxicô đi vào lòng người và gợi ra câu hỏi phản tỉnh cho đời người: “Trên thập giá ngất cao, Chúa Giêsu chịu đóng đinh muốn nói với tôi điều gì vậy?”
Trong những giây phút chiêm ngắm sâu lắng Chúa chịu đóng đinh trên Thập Giá ở tại đồi sọ, hình ảnh của ba chữ T xuất hiện và hoà quyện vào nhau, để rồi sứ điệp tuyệt vời của trời cao tuôn xuống muôn muôn người.
Ba chữ T đó là gì vậy?
Phải chăng đó là ba cây Thập Giá trên đồi Sọ ?
Thập giá, Tình yêu và Tha Thứ chính là ba chữ T của Chúa.
Giờ đây, trong bầu khí của Tam Nhật Vượt Qua, Thập giá, Tình yêu và Tha Thứ hoà quyện với nhau và gởi đến cho nhân trần những âm vang thật đẹp chan chứa ơn cứu rỗi.
“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ đang làm” (Lc 23,34).
Từ trên Thập Giá ngất cao dựng trên đồi sọ, Chúa Giêsu đã nói lời cao quý này.
Đồi Sọ gợi lên một đồi trọc, không cây cối. Nơi hành hình được định vị ngoài thành thánh. Vùng đất thánh được bao bọc chung quanh, là một khu vực thánh không được xác nạn nhân làm ô uế. Nhưng nơi hành hình này gần cửa thành Giê-ru-sa-lem, vì chính quyền muốn những khách bộ hành trông thấy những nạn nhân hấp hối để răn đe.
Như thế, chúng ta có trước mắt một khung cảnh là Đồi Sọ, tại đó Chúa Giê-su chẳng có tội tình gì, lại bị đóng đinh giữa hai tên gian phi, hai tội nhân bị kết án tử.
Điều này diễn tả về sự nhục nhã hết sức mà Chúa Giê-su phải chịu, nhưng đó là số phận của người tôi trung“đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân” (Is 53,12).
Thập giá trên đồi sọ, Chúa Giê-su bị đóng đinh treo lơ lửng trên đó. Con Thiên Chúa xuống thế làm người ngay từ ngày đầu tiên khi chào đời đã ở trong cảnh nghèo nàn của nhân loại, và khi chết đi cũng ở trong cảnh thê lương của nhân loại. Karl Rahner, khi suy niệm lời này của Chúa Giê-su, đã diễn tả thật sống động hình ảnh đau thương của Chúa Giê-su: “Chúa bị treo trên Thánh Giá. Họ đã đóng đinh Chúa. Chúa không thể chạy trốn khỏi cây cao nối đất với trời này. Các vết thương đang cháy bừng trong cơ thể Chúa. Mão gai đang tra tấn thân thể Chúa. Trong đôi mắt của Chúa máu không ngừng chảy. Ôi các vết thương trên đôi tay và đôi chân Chúa – chân tay Chúa như bị một cây sắt nóng rực đâm xuyên suốt qua. Và tâm hồn của Chúa như là biển cả tràn đầy buồn bã, khổ đau và vô vọng”.[i]
Thật vậy, Chúa Giê-su đã sẵn sàng đón nhận tất cả, dù đó là khổ đau tận cùng của bất nhân và ác độc. Thánh Augustinô đã chia sẻ rất sâu sắc: “Họ giận dữ còn Chúa thì cầu nguyện. Họ nói với Phi-la-tô ‘đóng đinh nó vào thập giá’, còn Chúa thì kêu lên với Cha ‘Lạy Cha, xin tha cho họ’. Bị đóng đinh treo lơ lửng cách đau đớn, nhưng Chúa vẫn không đánh mất sự hiền lành. Ngài đã xin tha thứ cho những kẻ mà Ngài phải đón nhận từ họ những hành động thật là tàn bạo”.[ii]
Ở đây, chúng ta cũng nhớ lại bài ca tôi trung thứ tư của tiên tri I-sai-a nói rằng: “bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53,12). Dù đau đớn trên thập giá, dù phải chịu những bất công mà con người gây ra cho Ngài, Chúa vẫn can thiệp cho con người. Thật đẹp hình ảnh của người Tôi Trung hiền lành của Thiên Chúa, Đấng đến để cứu những gì đã mất, Đấng sống đúng theo tinh thần của bài ca Đức Mến, là không nóng giận và không nuôi hận thù, mà ngược lại là tha thứ tất cả, chịu đựng tất cả và hy vọng tất cả (x. 1Cr 13,1-13).
Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ đang làm.
Nếu nghiền ngẫm lời cầu nguyện của Chúa Giê-su, chúng ta thấy rằng, Ngài đã cầu nguyện với lời “Lạy Cha”. Ngài đã cầu nguyện như vậy để diễn tả mối tương quan tuyệt với giữa Ngài với Cha. Cách gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi, là cách gọi riêng của Chúa Giê-su,[iii] một cách gọi rất thân thương và mang tính cách gia đình.
Từ ngữ Abba tương đương với ‘bố ơi, ba ơi hay tía ơi’ mà trẻ em Việt Nam thường dùng để gọi Cha mình, một từ ngữ chứa đầy lòng tin tưởng và sự thân tình, mà không có từ ngữ nào khác diễn tả được.
Thánh Robert Bellarmine đã suy niệm rằng: “Ngài đã kêu ‘Cha’, chứ không kêu ‘Thiên Chúa’, bởi vì Ngài muốn kêu cầu lòng nhân từ hay thương xót của Cha, chứ Ngài không muốn nài đến sự nghiêm khắc của quan toà; và Ngài như muốn ngăn chặn sự giận dữ của Thiên Chúa đối với các tội ác của kẻ thù. Ngài có khuynh hướng dùng từ ngữ ‘Cha’.
Từ ngữ ‘Cha’ trong tự nó chứa đựng một lời kêu cầu: Con đây, Con của Cha, đang ở giữa mọi đau khổ phải chịu, và con tha thứ cho họ, xin Cha cũng làm như vậy, lạy Cha, xin ban phát ơn tha thứ của Cha cho họ. Mặc dù họ chẳng xứng đáng gì, nhưng xin vẫn tha thứ cho họ vì lợi ích của con Cha nhé. Xin hãy nhớ rằng, Cha là cha Cha của họ, từ khi Cha đã tạo nên họ, và làm cho họ mang hình ảnh của Cha. Xin hãy tỏ cho họ thấy tình yêu cua Cha, dù chọ họ yếu đuối, họ vẫn là con của Cha”.[iv]
Lời suy niệm của thánh Bellarmine đã giúp cho chúng ta nhận ra được căn tính của chúng ta, là những người con cái trên trời. Đó là một ân sủng cao quý.
Thánh Ambrôsiô giúp chúng ta hiểu được điều này cách rõ ràng: “Hỡi con người, bạn không dám ngước mắt lên trời, bạn đưa mắt nhìn xuống đất, rồi bỗng nhiên, bạn nhận được ân sủng của Đức Kitô, mọi tội lỗi của bạn được tha thứ. Từ một người đầy tớ xấu, bạn được trở thành người con ngoan…Vậy, bạn hãy đưa mắt nhìn lên Chúa Cha, Đấng đã sinh ra bạn nhờ Phép Rửa, Đấng đã cứu chuộc bạn nhờ Con của Ngài, và hãy thưa: ‘Lạy Cha chúng con…’. Nhưng bạn đừng đòi hỏi điều gì riêng biệt. Thiên Chúa là Cha riêng biệt đối với Đức Kitô mà thôi, và là Cha chung của tất cả chúng ta, bởi vì Ngài đã sinh ra một mình Chúa Con, còn chúng ta thì được Ngài tạo dựng. Vì thế, nhờ ân sủng bạn hãy thưa: ‘Lạy Cha chúng con”, ngõ hầu bạn xứng đáng là con của Ngài”[v].
Là con nên chúng ta được yêu thương, và đặc biệt chúng ta cảm nhận được lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa qua chính Chúa Giê-su Ki-tô.
Lạy Cha, xin tha cho họ. Đọc lại lần nữa lời cầu nguyện đầu tiên này, chúng ta ngạc nhiên thấy rằng, Chúa Giê-su đã không cầu nguyện để xin Cha ra tay công bằng xử phạt những kẻ bất nhân hãm hại Ngài, mà Ngài cầu nguyện với Cha, để xin Cha tha thứ cho họ. Đó chính là lô-gíc của tình yêu Thiên Chúa. Lô-gíc này ngược hẳn với tất cả mọi lô-gíc của cuộc đời. Đúng thật, sự khôn ngoan của con người không phải là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Ý nghĩ của Thiên Chúa không phải là ý nghĩ của loài người. May thay!
Paglia đã suy niệm về tình yêu Thiên Chúa qua lời tha thứ của Chúa Giê-su như sau: “Trong lời đầu tiên của Chúa Giê-su nói trên Thánh Giá đã được tóm tắt nội dung của sứ điệp tình yêu của Chúa. Đó là tinh thần của Tin Mừng hay nói đúng hơn là bản chất của Thiên Chúa. Thánh Gio-an đã định nghĩa rằng: Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa thì vĩnh cửu và vô biên. Tình yêu này đã thúc đẩy Thiên Chúa rời bỏ trời cao để xuống trên đất thấp và đã sống là một người giữa muôn người. Tình yêu này của Thiên Chúa vượt trên mọi ngăn cách, mọi biên giới của các dân tộc, và vượt trên mọi loại hàng rào, ngay cả hàng rào mà chúng ta có quyền và được phép tạo nên.
Thật vậy, tình yêu của Chúa vươn dài tới điều, Ngài tha thứ cho kẻ thù và cho những người bắt bớ Ngài. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giê-su đã loan báo trong những giây phút đầu tiên trên hành trình sứ vụ của Ngài, và sứ điệp này của Chúa có giá trị vĩnh viễn và cho tới muôn đời”.[vi]
Đối với thần học gia Ratzinger, Đức Benedicto XVI, thì: “điều mà Chúa đã rao giảng trong Bài Giảng Trên Núi, Ngài đã thực hiện cách trọn vẹn. Chúa không biết ghen ghét là gì. Ngài không bao giờ hận thù cả. Ngài đã cầu nguyện cho kẻ đóng đinh Ngài”.[vii]
Chúa tha thứ cho kẻ thù mà Chúa gọi là họ. Vậy họ là ai? Họ chính là những tên lính La Mã, những người làm theo lệnh của Phi-la-tô đóng đinh Chúa Giê-su cho đến chết. Họ chỉ làm theo mệnh lệnh, nhưng những lời chế nhạo, những đòn roi đã thể hiện sự tàn bạo, sự hung tợn trong chính họ. Họ còn là những đám đông dân chúng bị lầm lạc, bị mê hoặc, những kẻ ấy đã bắt Chúa Giê-su phải chết và ép buộc Phi-la-tô giết Ngài. Bọn người ấy chỉ vài ngày trước đã tung hô Chúa Giê-su là Vua x.(Mc 15,6-14, Mc 11,8-10), còn giờ thì dã tâm giết Chúa trên thập giá. Thật tàn bạo, thật khủng khiếp và thật bất công!
Chúa Giê-su và tinh thần tha thứ.
Lắng nghe lại lời Chúa giảng dạy chúng ta tha thứ trong Kinh Lạy Cha, chúng ta thấy thật sống động, vì lời này được Chúa Giê-su thực hiện cách mỹ mãn trong cuộc đời Ngài, và đặc biệt trên Thánh Giá Chúa. Những lời giảng dạy của Chúa đã tìm thấy ý nghĩa và giá trị trọn hảo trong chính hành động Chúa làm.
Hơn nữa, nếu chúng ta lật lại các trang Tin Mừng, sẽ nhận ra được lòng nhân từ và tha thứ của Chúa Giê-ru rất rõ nét, cụ thể trong những cuộc gặp gỡ của Ngài với những người tội lỗi:
- Hình ảnh của người phụ nữ tội lỗi nổi tiếng trong thành mà Lu-ca nhắc đến là một điển hình (x.Lc 7,36-50).
- Một cuộc gặp gỡ khác giữa Đức Ki-tô và người phụ nữ bị kết án vì tội lỗi. Bối cảnh và tình tiết của câu chuyện được Gioan diễn tả thật đặc sắc (x.Ga 8,2-11).
Với lòng nhân từ và thương xót, Chúa Giê-su đã không kết án mà Ngài nói lời tha thứ và đem lại sức sống mới cho một phận người tội lỗi. Một sức sống mới cần phải đoạn tuyệt với tội lỗi, một sức sống mới tràn đầy tự do, niềm vui và hạnh phúc.[viii]
Điều này Chúa cũng làm với những người đóng đinh Chúa. Trước hết, Chúa chẳng kết án họ, và trước bản án bất nhân của họ giành cho Chúa, Chúa cũng chẳng cần biện minh, Lời Chúa nói là tha thứ. Thật tuyệt vời biết bao nhiêu, khi nhận ra điều này.
ĐHY Fulton đã chia sẻ như sau: “Câu trả lời nằm sẵn ở chữ đầu tiên trên thập giá: Tha Thứ. Nếu như có ai đầy đủ quyền lực để chống lại bất công thì phải là Chúa Giê-su, Đấng là công lý thần linh. Nếu có ai đầy đủ lý do để khiển trách kẻ hành hạ mình, đóng đinh chân tay mình vào cây gỗ, thì đó là Chúa chúng ta. Nhưng không. Vào đúng lúc cây cối chống lại Ngài, và trở thành thập tự; sắt thép chống lại Ngài và trở thành đinh nhọn; dây hoa hồng chống lại Ngài và trở thành mạo gai; con người chống lại Ngài và trở thành lý hình, thì Ngài buông lời Tha Thứ, lời cầu đầu tiên trong lịch sử xin tha tội cho kẻ thù hành hạ mình: ‘Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ chẳng biết việc họ làm’ (Lc 23,34)”.[ix]
Theo gương Chúa sống tha thứ, điều căn bản của Kitô hữu.
Đọc lại câu chuyện thánh Tê-pha-nô bị ném đá, với sự hiện diện của Sao-lô, sau này trở lại và trở thành vị Tông Đồ dân ngoại, chúng ta thấy được tâm tình cao quý của thánh nhân: “Họ ném đá ông Tê-pha-nô, đang lúc ông cầu xin rằng: ‘Lạy Chúa Giê-su, xin nhận lấy hồn con.’ Rồi ông quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: ‘Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.’ Nói thế rồi, ông an nghỉ” (Cv 7,59-60).
ĐHY Fulton cũng đã chia sẻ về mẫu gương tha thứ của thánh Tê-pha-nô: “Tôi từ chối ghét bạn. Nếu tôi ghét bạn, tôi sẽ đổ thêm dầu vào lửa. Ngược lại, nếu tôi không ghét bạn, tôi sẽ giết chết lòng thù hận của bạn, và tôi sẽ xóa nó khỏi mặt đất. Tôi yêu quí bạn. Đó là đường lối thánh Tê-pha-nô chinh phục những ai thù ghét ông, giết chết ông. Thánh nhân đã cầu nguyện: ‘Lạy Chúa xin đừng chấp tội họ về việc này’ (Cv 7,59). Nói chính xác hơn, ông đã lập lại lời của Chúa Giê-su trên thập giá. Lời của ông đã chiến thắng được tâm hồn người thanh niên trẻ tuổi tên là Sao-lô, hắn đứng bên cạnh trông coi y phục cho những lý hình ném đá Tê-pha-nô và đồng ý với cái chết của thánh nhân. Nếu như Tê-pha-nô nguyền rủa Sao-lô, có lẽ người thanh niên này chẳng bao giờ trở thành thánh Phaolô, một mất mát quá to lớn. Nhưng thù oán đã thất bại, vì Tê-pha-nô tha thứ”.[x]
Ngoài ra, thánh Augustinô đã diễn tả rất hay về mẫu gương tha thứ của thánh Tê-pha-nô, và ngài khuyên bảo mọi người nhìn vào tấm gương thánh nhân, một người dù bị ném đá như mưa nhưng vẫn cầu nguyện cho những kẻ đang giết mình: “Họ thì ném đá mà chẳng hề xin ngài thứ tha, còn ngài thì cầu nguyện cho họ. Đó chính là thái độ mà tôi muốn anh em nhìn xem. Hãy cố gắng vươn tới mức đó. Đừng để lòng mình cứ sà sà mặt đất hoài. Hãy nâng tâm hồn lên! Vâng, hãy leo cao tới mức đó. Hãy yêu thương thù địch. Vì nếu anh em không tha, thì tôi xin nói, chẳng những anh em đã xoá sạch khỏi lòng mình bài Kinh Chúa dạy, mà chính anh em cũng sẽ bị xoá tên khỏi sách sự sống”.[xi]
Lời của thánh Âu-tinh là một lời nhắc nhớ chúng ta ý thức sống tinh thần tha thứ. Tuy nhiên, chúng ta chân nhận rằng, tha thứ là điều rất khó và đó là bài tập cả đời của mỗi chúng ta.
Khi trả lời cho câu hỏi của Phêrô cần phải tha thứ bao nhiêu lần, Chúa Giêsu nói: ‘Thầy không nói bảy lần, nhưng bảy mươi lần bảy mươi lần’ (Mt 18:22). Sau đó, Ngài tiếp tục kể dụ ngôn về người ‘đầy tớ tàn nhẫn’, là người khi bị chủ gọi đến bảo phải trả lại một số tiền rất lớn, anh đã quỳ trên đầu gối mình van xin lòng thương xót. Người chủ hủy bỏ nợ của anh. Nhưng sau đó anh gặp một người đầy tớ bạn chỉ nợ anh một vài xu. Người bạn đến lượt mình cầu xin anh thương xót, nhưng người đầy tớ đầu tiên đã khước từ và ném bạn mình vào tù.
Khi nghe chuyện này, người chủ tức giận và đã triệu hồi người đầy tớ đầu tiên trở lại và nói, ‘ngươi không buộc phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?’ (Mt 18,33). Chúa Giêsu kết luận: ‘Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình’ (Mt 18,35)”.
Trở về với câu hỏi về sự tha thứ mà Phê-rô đặt ra. Chúa Giê-su đáp thế nào? “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22). Thật thú vị câu trả lời của Đức Ki-tô! Nếu chúng ta làm một con tính, lấy 1440 phút của mỗi ngày để chia với 490 lần là kết quả của 70 lần 7, thì trong một ngày, cứ 3 phút cần phải tha thứ một lần. Như thế tha thứ cho nhau là thái độ thường xuyên và cần thiết cho cuộc sống thường ngày.
Thánh Tông Đồ Phaolô khuyên nhủ: ‘chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn’ (Eph 4,26)”
Thật vậy, chúng ta có được đón nhận sự tha thứ này hay không, còn tuỳ thuộc vào cuộc sống và hành động của chúng ta. “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6,14-15). Như vậy, tha thứ cho anh chị em đồng loại là một đòi hỏi giành cho những ai sống đời sống Đức Tin.
Khi tha thứ, là chúng ta đang xây tựng tinh thần hoà bình trong cuộc sống của mình và của người lầm lỗi với chúng ta. Nói khác đi, tinh thần tha thứ luôn là cánh cửa mở ra một chân trời mới, một tương lai mới cho cả hai bên, như Simon Weil đã nói: “Tha thứ cho người có lỗi với chúng ta, nghĩa là hoàn toàn bỏ qua những chuyện quá khứ, chấp nhận rằng tương lai vẫn còn trong sáng và chưa bị vẩn đục”.
Có câu chuyện thật về sự tha thứ của một phụ nữ từng là nạn nhân của bạo hành trong chiến tranh thế giới thứ hai.
Khi chiến tranh kết thúc, Coritanbun với những vết sẹo trên thân thể, tàn tích của những khổ hình Bà phải chịu trong trại tập trung Đức quốc xã, đã đi khắp Âu châu rao giảng sự tha thứ cho những kẻ đã làm hại mình.
Thế nhưng vào một Chúa nhựt nọ, sau khi kêu gọi mọi người hãy tha thứ cho nhau trong một nhà thờ của thành phố Munich, bước ra ngoài Bà bất ngờ đối diện với một khuôn mặt quen thuộc. Đó là dung mạo của người lính đã hành hạ bà và hàng ngàn nữ tù nhân khác trong trại tập trung. Những tiếng than khóc, những cảnh tra tấn, rồi những tiếng kêu trả thù nổi dậy mạnh mẽ trong tâm trí Bà.
Lúc đó người đàn ông tiến lại khiêm tốn đưa tay ra vừa muốn bắt tay bà vừa nói : “Thưa Bà, tôi rất cảm ơn những lời tốt đẹp của Bà kêu gọi sự tha thứ. Xin Bà tha thứ cho tôi”.
Bà Coritanbun như chết điếng người, vì trước đây bà đã cầu nguyện và quyết tha thứ thật sự, nhưng giờ đây đối diện vớicon người cụ thể đã tra tấn mình, bà đứng lặng im, tay không thể nào bắt tay người đến xin bà tha thứ.
Sau này vào năm 1971 khi kể lại biến cố ấy trong tập sách ”Nơi ẩn trốn”, bà đã cho biết ”Trong giây phút thinh lặng đó, tôi đã cố gắng dâng lên Chúa lời nguyện : Lạy Chúa, Chúa thấy con chưa thể tha thứ cho người đã hành khổ con. Xin Chúa hãy ban cho con những tâm tình của Chúa để con có thể tha thứ như Chúa”. Và chính trong lúc đó Bà đã hiểu rằng con người chỉ có thể tha thứ cho nhau khi nhìn nhận tình yêu thương
Thay cho lời kết
Thay cho lời kết là ba lời của thánh nữ tiễn sĩ Têrêsa Avila mời gọi sống tha thứ trong tình yêu, để qua đó lời của Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thập Giá tìm thấy được ý nghĩa trọn vẹn trong mỗi con người.
“Tôi, tôi không thể tin được rằng: một linh hồn đã được kết hợp với chính lòng thương xót của Chúa, đã hiểu biết mình là ai và đã được Chúa tha thứ nhiều, lại không sẵn sàng tha thứ và bình thản xử tốt với những kẻ xỉ nhục mình; bởi lẽ linh hồn ấy có trước mắt những hồng ân và những ơn lành Chúa đã ban cho mình và trong đó nhìn thấy dấu chỉ của một tình yêu bao la rồi vui sướng có cơ hội tỏ cho Thiên Chúa tình yêu của mình đối với Người” (Têrêsa Avila. Đường Hoàn Thiện 36,12).
“Nhưng tất cả phải lưu ý: ai ai cũng phải xin hai điều này là dâng hiến Chúa ý muốn của mình và tha thứ cho nhau. Dĩ nhiên là hơn kém tùy bậc như đã nói trước; những người hoàn thiện dâng hiến ý muôn như hoàn thiện và tha thứ cách trọn vẹn như đã nói trên; chúng ta, chị em thân yêu, chúng ta sẽ làm tùy sức chúng ta có thể, Chúa chấp nhận tất cả” (Têrêsa Avila. Đường Hoàn Thiện 37,3).
“Hỡi các con yêu dấu, chúng ta còn trì hoãn cho tới bao giờ nữa mà không tìm cách bắt chước vị Thiên Chúa cao cả này? Đừng lừa dối chính mình mà tưởng rằng chúng ta đã làm được gì khi chịu đựng sỉ nhục! Hãy chịu đựng mọi sự, hãy sung sướng được chịu đựng như thế, và hãy yêu thương những người làm nhục chúng ta. Vì như chúng ta đã xúc phạm nặng nề đến vị Thiên Chúa cao cả, mà Người vẫn không ngừng yêu thương chúng ta, nên Người rất có lý muốn tất cả chúng ta tha thứ cho những kẻ làm khổ mình” (Têrêsa Avila. Lâu Đài Nội Tâm VI,10).
Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế, S.J.
[i] RAHNER K., Wort vom Kreuz, t.51.
[ii] ARTHUR A. JUST JR (edited)., Luke Ancient christian commentary on scripture, Inter Varsity Press 2003, p. 361.
[iii] X. JEREMIAS J., Abba,Vandenhoeck & Ruprecht, Göttingen 1966, t.59.
[iv] ST. ROBERT BELLARMINE, The Seven Last Words Spoken on the Cross, Edited by Paul A. Böer, Sr., Copyright, 2012, Veritatis Splendor Publications, Book one, Chapter I.
[v] Trích trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2783, t.771.
[vi] PAGLIA V., Die sieben Worte Jesu am Kreuz, Echter Verlag, Wuerzburg 2011, t.20-21.
[vii] RATZINGER J., Benedikt XVI, Jesus von Nazareth II, Herder Verlag, Freiburg 2011, t.230.
[viii] X. NGUYỄN NGỌC THẾ SJ., Lời kinh cha mẹ dạy, NXB. Phương Đông 2012, t. 134-136.
[ix] SHEEN Fulton, Go to heaven – Con đường về trời, Chuyển ngữ: Fr. Tôma Trần Ngọc Tuý, phần số 10 – Đau khổ và ủi an.
[x] SHEEN Fulton, Go to heaven – Con đường về trời, phần số 10 – Đau khổ và ủi an.
[xi] Trích bởi HAMMAN Adalbert G., trong Abrégé de la prière chrétienne, Les Editions Franciscaines, Paris 1995, t.63-64.