Thư Thánh Phaolô gửi Timôthê (3,14-16):
Phần anh [Timôthê], hãy giữ vững những gì anh đã học được và đã tin chắc. Anh biết anh đã học với những ai. Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Kitô Giêsu. Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Thiên Chúa đã chọn nói bằng những ngôn ngữ nhân loại
Anh chị em thân mến! Chào tất cả anh chị em!
Hiến chế công đồng Dei Verbum mà chúng ta đang cùng nhau suy tư trong những tuần này chỉ ra rằng Kinh Thánh, được đọc trong Truyền Thống sống động của Giáo Hội, là nơi chốn ưu tuyển để gặp gỡ, nơi Thiên Chúa vẫn tiếp tục nói với con người mọi thời đại, để nhờ lắng nghe Người, họ có thể nhận biết và yêu mến Người. Tuy nhiên, các bản văn Kinh Thánh không được viết bằng một ngôn ngữ trên trời hay siêu nhân loại. Thật vậy, như chính kinh nghiệm hằng ngày dạy chúng ta, hai người nói những ngôn ngữ khác nhau thì không thể hiểu nhau, không thể đối thoại, không thể thiết lập mối tương quan. Trong một số trường hợp, làm cho người khác hiểu mình chính là hành động yêu thương đầu tiên. Vì thế, Thiên Chúa đã chọn nói bằng những ngôn ngữ nhân loại, và như vậy, nhiều tác giả khác nhau, được Chúa Thánh Thần linh hứng, đã biên soạn các bản văn Kinh Thánh. Như văn kiện công đồng nhắc lại:
“Lời Thiên Chúa được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, đã trở nên tương tự với lời nói loài người, cũng như xưa Ngôi Lời của Chúa Cha vĩnh cửu đã mặc lấy xác thịt yếu đuối của loài người, đã trở nên giống như con người” (DV, 13).
Do đó, không chỉ trong nội dung mà cả trong ngôn ngữ, Kinh Thánh mặc khải sự hạ mình đầy lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người và ước muốn của Người là đến gần họ.
Tác giả thần linh và tác giả nhân loại của Kinh Thánh
Trong suốt lịch sử Giáo Hội, tương quan giữa Tác Giả thần linh và các tác giả nhân loại của các bản văn thánh đã được nghiên cứu học hỏi. Trong nhiều thế kỷ, nhiều nhà thần học đã quan tâm bảo vệ sự linh hứng thần linh của Kinh Thánh, gần như chỉ xem các tác giả nhân loại là những dụng cụ thụ động của Chúa Thánh Thần. Trong thời gian gần đây hơn, suy tư thần học đã đánh giá lại đóng góp của các thánh sử trong việc soạn thảo các bản văn thánh, đến mức văn kiện công đồng nói về Thiên Chúa như là “Tác Giả” chính của Kinh Thánh, nhưng đồng thời cũng gọi các thánh sử là “những tác giả đích thực” của các sách thánh (x. DV, 11). Như một nhà chú giải Kinh Thánh xuất sắc của thế kỷ trước đã nhận xét: “Hạ thấp hoạt động của con người xuống mức chỉ còn là một người ghi chép thì không phải là tôn vinh hoạt động của Thiên Chúa”.[1] Thiên Chúa không bao giờ hạ thấp con người và những khả năng của họ!
Việc giải thích Kinh Thánh không được tách rời khỏi bối cảnh lịch sử của bản văn
Vì thế, nếu Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa được diễn tả bằng những lời của con người, thì bất kỳ cách tiếp cận nào bỏ qua hoặc phủ nhận một trong hai chiều kích này đều là phiến diện. Từ đó suy ra rằng việc giải thích đúng đắn các bản văn thánh không thể tách rời khỏi bối cảnh lịch sử trong đó các bản văn được hình thành và các thể loại văn chương được sử dụng; trái lại, từ bỏ việc nghiên cứu những lời nhân loại mà Thiên Chúa đã dùng thì có nguy cơ dẫn đến những cách hiểu Kinh Thánh cách cực đoan hay duy linh, làm sai lệch ý nghĩa của Kinh Thánh. Nguyên tắc này cũng đúng đối với việc loan báo Lời Thiên Chúa: nếu việc loan báo ấy mất liên hệ với thực tại, với những hy vọng và đau khổ của con người, nếu nó sử dụng một ngôn ngữ khó hiểu, kém truyền đạt hoặc lỗi thời, thì sẽ trở nên không hiệu quả. Trong mọi thời đại, Giáo Hội được mời gọi trình bày lại Lời Thiên Chúa bằng một ngôn ngữ có khả năng nhập thể vào lịch sử và chạm đến tâm hồn con người. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc nhở:
“Mỗi lần chúng ta tìm cách trở về nguồn mạch và khôi phục sự tươi mới ban đầu của Tin Mừng, thì lại xuất hiện những con đường mới, những phương pháp sáng tạo, những hình thức diễn đạt khác, những dấu chỉ hùng hồn hơn, những lời nói mang ý nghĩa được đổi mới cho thế giới hôm nay”.[2]
Kinh Thánh không phải giáo huấn thuần túy của con người
Đàng khác, một cách đọc Kinh Thánh coi nhẹ nguồn gốc thần linh, và cuối cùng hiểu Kinh Thánh chỉ như một giáo huấn thuần túy của con người, như một điều gì đó chỉ để nghiên cứu từ góc độ kỹ thuật, hoặc như “một văn bản chỉ thuộc về quá khứ” cũng là một cách hiểu sai lệch. Trái lại, nhất là khi được công bố trong bối cảnh phụng vụ, Kinh Thánh muốn nói với các tín hữu hôm nay, chạm đến đời sống hiện tại của họ với những vấn đề cụ thể, soi sáng những bước đi cần thực hiện và những quyết định cần đưa ra. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi người tín hữu đọc và giải thích các bản văn thánh dưới sự hướng dẫn của chính Thánh Thần, Đấng đã linh hứng cho các bản văn (x. DV, 12).
Nếu không mến Chúa và yêu người thì vẫn chưa hiểu Kinh Thánh
Theo nghĩa đó, Kinh Thánh nuôi dưỡng đời sống và đức ái của các tín hữu, như thánh Augustinô nhắc nhở:
“Bất cứ ai nghĩ rằng mình đã hiểu các bản văn thánh […], mà nếu từ sự hiểu biết đó không xây dựng được tòa nhà của đức ái kép này, mến Chúa và yêu người, thì người ấy vẫn chưa hiểu Kinh Thánh”.[3]
Nguồn gốc thần linh của Kinh Thánh cũng nhắc chúng ta rằng Tin Mừng, được trao phó cho chứng tá của những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, dù bao trùm mọi chiều kích của đời sống và thực tại, vẫn vượt trên tất cả: Tin Mừng không thể bị giản lược thành một thông điệp thuần túy nhân đạo hay xã hội, nhưng là lời loan báo hân hoan về sự sống viên mãn và vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta trong Đức Giêsu.
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tạ ơn Chúa, bởi vì với lòng nhân hậu. Người không bao giờ để cuộc sống chúng ta thiếu đi lương thực thiết yếu là Lời của Người; và chúng ta hãy cầu nguyện để những lời nói của chúng ta, và hơn nữa, chính cuộc sống của chúng ta, không làm lu mờ tình yêu của Thiên Chúa được thuật lại trong những lời ấy.
Cầu nguyện cho Ucraina
Vào cuối buổi Tiếp kiến, Đức Thánh Cha đã kêu gọi cầu nguyện cho người dân Ucraina đang chịu giá lạnh vì chiến tranh và cám ơn các sáng kiến hỗ trợ nước này.
Trong nhiều ngày qua, Ucraina lại bị tấn công quân sự dữ dội của Nga nhắm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Ucraina, khiến cuộc sống của người dân thường ngày càng khó khăn. Người dân thường xuyên sống trong bóng tối, phải đối mặt với cái lạnh thấu xương cùng những khó khăn nghiêm trọng do điều này gây ra. Do đó, Đức Thánh Cha kêu gọi:
“Tôi kêu gọi mọi người hãy cầu nguyện cho anh chị em của chúng ta ở Ucraina, những người đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi hậu quả của các trận bom, vốn cũng đã tái diễn và ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng năng lượng”.
Lời kêu gọi của Đức Thánh Cha được đưa ra sau một đêm Nga tấn công vào Kharkiv và Odessa, ngay khi các cuộc đàm phán giữa Kyiv và Moscow, do Hoa Kỳ làm trung gian, đang bắt đầu tại Abu Dhabi.
Ngài bày tỏ lòng biết ơn đối với các sáng kiến liên đới được thúc đẩy trong các giáo phận Công giáo của Ba Lan và các nước khác, đang nỗ lực giúp đỡ người dân Ucraina chống chọi với cái lạnh khắc nghiệt này.
Hãy tránh chạy đua vũ trang, vì nó đe dọa nền hòa bình vốn là di sản của tất cả mọi người
Đức Thánh Cha cũng nhắc đến Hiệp ước New START, được ký kết năm 2010 bởi Tổng thống Hoa Kỳ và Liên bang Nga, sẽ hết hạn vào ngày 5/2, một Hiệp ước mà theo ngài, “là một bước tiến quan trọng trong việc kiềm chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân”. Tái khẳng định sự khuyến khích của ngài đối với mọi nỗ lực mang tính xây dựng vì giải trừ quân bị và lòng tin lẫn nhau, Đức Thánh Cha khẩn thiết kêu gọi các bên “không nên từ bỏ tài liệu này mà không tìm cách đảm bảo việc thực hiện cụ thể và hiệu quả”.
Ngài khẳng định: “Tình hình hiện nay đòi hỏi chúng ta phải làm mọi điều có thể để ngăn chặn một cuộc chạy đua vũ trang mới, điều tiếp tục đe dọa hòa bình giữa các quốc gia. Hơn bao giờ hết, cần phải thay thế logic của nỗi sợ hãi và sự ngờ vực bằng một đạo đức chung có khả năng hướng dẫn các lựa chọn hướng tới lợi ích chung và biến hòa bình thành di sản được tất cả mọi người gìn giữ”.
Vatican News
