Niềm Hy Vọng Kitô Giáo về “Trời Mới Đất Mới”

Viễn kiến “Trời mới, Đất mới” trong sách ngôn sứ I-sai-a được trình bày như một điều gì đó vừa mới mẻ vừa đáng mong đợi, không chỉ đối với dân Ít-ra-en trong Cựu Ước mà còn đối với các Kitô hữu ngày nay. Cụ thể, lời tiên tri được ghi lại như sau: “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa.” (Is 65,17) Chủ đề này cũng được nhắc lại trong I-sai-a 66, 22 và sau đó được vang vọng trong Tân Ước, đặc biệt là trong 2 Phê-rô 3,13: “Theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị” và Khải Huyền 21,1: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới…”

 

Tuy nhiên, tác giả I-sai-a đệ tam muốn đề cập đến loại trời mới đất mới nào ở đây? Đó là sự thay thế hoàn toàn cái cũ, hay là một sự đổi mới mang tính tiếp nối với cái cũ? Dựa trên nghiên cứu của một số học giả, bài viết này cho rằng I-sai-a không cổ xúy cho việc loại bỏ thế giới cũ, nhưng là cổ võ sự biến đổi của nó thông qua tình yêu sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa. Đó là một viễn kiến liên tục khởi đi từ sự sáng tạo trong Sáng Thế Ký và được kiện toàn trong Đức Kitô Phục Sinh.

“Trời mới đất mới” trong Cựu Ước

Trước hết, xét về bản chất của “sự sáng tạo mới” trong sách I-sai-a, vị ngôn sứ đã trình bày một viễn ảnh về sự biến đổi chứ không phải sự hủy diệt. Thật vậy, theo George AF Knight, động từ tiếng Do Thái “בָּרָ֣א” bara (sáng tạo), được sử dụng trong I-sai-a 65,17 cũng chính là động từ được tìm thấy trong sách Sáng Thế 1,1: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất”. Điều này cho thấy sự sáng tạo mới được I-sai-a đề cập chính là sự tiếp nối mục đích sáng tạo của Thiên Chúa từ thuở ban đầu, giờ đây được mở rộng sang viễn ảnh cứu chuộc. Theo quan điểm của George Knight, hành động sáng tạo này không những mang tính chức năng mà còn mang tính thần học – Thiên Chúa không cần phải sửa chữa một thế giới đổ nát, hỗn loạn. Nói khác đi, Thiên Chúa không cần đến kế hoạch B để cứu vãn kế hoạch A. Thay vào đó, tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa canh tân và biến đổi thế giới từ bên trong. Do đó, George Knight tin rằng bản Septuagint tiếng Hy Lạp (bản Bảy Mươi) đã không diễn giải tầm nhìn này một cách thích hợp, vì nó dịch bara (create – sáng tạo) thành poio (I make – tạo ra). Điều này cho thấy các tác giả của bản dịch Septuagint đã không nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của động từ bara, vốn mô tả một hành động của tình yêu và mục đích sáng tạo, nơi đó Thiên Chúa luôn tái tạo và mang lại sự sống mới từ những gì được xem là đã chết.

 

Thứ hai, Paul Tillich, trong bài luận về Thần học Hệ thống (1:267) của mình, đã tuyên bố rằng: Sự quan phòng của Thiên Chúa không phải là sự can thiệp vào thụ tạo, nhưng Người quan phòng ngang qua sự sáng tạo. Nghĩa là Thiên Chúa không áp đặt quyền năng siêu nhiên của Người từ trên cao nhưng liên tục hoạt động thông qua luật tự nhiên và sự tự do của con người để tiếp nối sự sáng tạo, đưa mọi thụ tạo đến tình trạng viên mãn nhất của nó. Tương tự như vậy, Martin Luther cũng nghĩ rằng sự đổi mới liên tục của con người tội lỗi sang con người thánh thiện chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy Thiên Chúa, trong bản chất của Người, chính là Tình Yêu – một tình yêu sáng tạo mới. Do đó, Thiên Chúa không hoạt động như một deus ex machina – những vị thần máy móc, được đề cập bởi các kịch gia Hy Lạp, vốn là những vị “được thuê để sửa chữa những sai lầm của thành bang, cũng như những lỗi lầm của con người bằng một hành động ma thuật vĩ đại”. Thay vào đó, Thiên Chúa liên tục sáng tạo bằng cách biến điều ác thành điều thiện, mang lại sự sống từ cái chết và thắp lên hy vọng từ sự tuyệt vọng.

“Trời mới đất mới” trong Tân Ước

Có thể nói, chủ đề “Trời mới, Đất mới” của I-sai-a đã đạt đến đỉnh cao thần học trong Tân Ước, trong đó sáng tạo mới được coi là sự biến đổi mang tính tiếp nối và liên tục từ những thực tại đang có. Cụ thể, thư thứ 2 của thánh Phê-rô 3,13 và sách Khải Huyền 21,1 đã trực tiếp lặp lại động từ bara (create) của I-sai-a. Tất cả đều khẳng định rằng lời hứa của Thiên Chúa về sự sáng tạo mới chính là trọng tâm của niềm hy vọng cánh chung Kitô Giáo. 

 

Về mặt thuật ngữ, tiếng Hy Lạp có hai hạn từ diễn tả ‘sự mới’: (1) νέος neos, nghĩa là một điều gì đó mới mẻ trong thời gian; và (2) καινὴ – kainos, nghĩa là mới mẻ về phẩm chất. Từ được sử dụng trong sách Khải Huyền chính là kainos. Do đó, sự sáng tạo mới không phải là neos – mới mẻ trong thời gian, mà là kainos, một sự mới mẻ về phẩm chất vốn đã và đang được biến đổi liên tục từ những gì đã tồn tại. Đó không chỉ là những phiên bản mới hơn của quá khứ mà còn hàm chứa những điểm khác biệt. Nói cách khác, mặc dù hoàn toàn mới trong phẩm chất, nhưng trời mới đất mới được đề cập trong sách ngôn sứ I-sai-a cũng như trong Tân Ước không tách rời khỏi trời cũ, đất cũ. 

 

Thêm vào đó, trái ngược với những người theo thuyết ngộ đạo – có quan điểm bài thân xác/vật chất, khái niệm “trời mới, đất mới” mà sách Khải Huyền và thánh Phaolô – vốn thừa hưởng từ I-sai-a, đã đưa ra một tầm nhìn chống nhị nguyên về sự hiệp thông cánh chung giữa cái cũ và cái mới, giữa vật chất và thiêng liêng. Sau đó, Karl Rahner nhấn mạnh điều này trong thần học của ông về sự phục sinh, trong đó Chúa Kitô phục sinh không đơn thuần là được hồi sinh, như cách mà Người đã hồi sinh La-da-rô (x. Ga 11,1-44) hay con trai bà góa thành Nain (x. Lc 7,11-17), nhưng Người được biến đổi triệt để. Dẫu vậy, thân thể vinh quang của Ngài vẫn tiếp nối với thân xác trần thế của Ngài. Bằng chứng là thân thể vinh quang của Chúa Giêsu vẫn “có xương có thịt” (x. Lc 24,39) và vẫn mang những dấu đinh nơi chân tay và vết thương nơi cạnh sườn Người (x. Ga 20,27). 

 

Theo đó, có thể nói sự đổi mới của Chúa Giêsu Phục Sinh chính là một khuôn mẫu cho sự đổi mới của toàn bộ thụ tạo trong trời mới đất mới: bản thân vật chất sẽ không bị loại bỏ, mà được canh tân và biến đổi, để kết hợp cách thâm sâu hơn với vinh quang của Thiên Chúa. Như Karl Rahner viết: Trong trời mới, đất mới, Thiên Chúa sẽ là tất cả trong tất cả, nơi Đấng sáng tạo và mọi thụ tạo đan quyện vào nhau trong tình yêu.

Kết luận

Tóm lại, lời tiên tri I-sai-a loan báo về “trời mới đất mới” không phải là một giấc mơ thoát khỏi hiện tại, mà là lời tuyên bố hy vọng mang tính cánh chung. Lời này khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo hằng hữu, liên tục tạo ra cái mới từ cái cũ, ánh sáng từ bóng tối, và sự sống từ cái chết. Do đó, công trình sáng tạo mới không phải là sự thay thế hoàn toàn cái hiện tại mà là sự biến đổi nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Trong đó, Chúa Giêsu Phục Sinh chính là hiện thân và là đỉnh cao của sự sáng tạo mới này. Ngài vẫn giữ thân xác cũ, mang dấu vết của thương tích và khổ đau; tuy nhiên, những vết thương này giờ đây được biến đổi thành biểu tượng của tình yêu, hay sâu xa hơn, đó chính là những vết thương cứu độ trong thân xác vinh quang của Người. Điều này biểu thị rằng trái đất và mọi loài thụ tạo trong mối quan hệ với Ngài, kể cả con người, sẽ trải qua một sự biến đổi và canh tân tương tự. Như Thánh Phaolô đã khẳng định trong Thư thứ hai Côrintô: “Vậy, ai ở trong Đức Kitô, thì người ấy là tạo vật mới” (cCr 5,17). Sự biến đổi này được định nghĩa không phải bởi thời gian hay vật chất, mà bởi sự thông truyền sự sống thần linh vào thân phận con người cũng như vào mọi thụ tạo. 

 

Do đó, mỗi người chúng ta được mời gọi cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa, để trở nên một thụ tạo mới và trưởng thành hơn mỗi ngày – không chỉ mới về thời gian (neos) mà còn mới về phẩm chất (kainos). Sự mới mẻ và trưởng thành này bao gồm việc hiểu biết Thiên Chúa nhiều hơn, nhận ra những mặc khải của Ngài trong vạn vật, trong chính con người mình, cũng như trong tha nhân cách sâu sắc hơn, để chúng ta có thể yêu mến Người và thi hành ý muốn thánh thiện của Người cách trọn hảo hơn, như Đức Giêsu Kitô – vị Trưởng Tử của mọi loài thụ tạo mới (Cl 1,18). 

 

Vì thế, chúng ta không nhất thiết phải chờ đến khi chết đi và sống lại hoặc chờ đến ngày tận thế mới được cư ngụ trong trời mới đất mới của Thiên Chúa. Thay vào đó, chúng ta được mời gọi để làm mới bản thân và làm mới thế giới ngang qua việc cộng tác với tình yêu và ân sủng sáng tạo mới của Thiên Chúa; đồng thời, thủ đắc cho mình một đôi mắt luôn có cái nhìn mới mẻ, hầu có thể thấy mọi sự đều mới trong Đức Kitô Phục Sinh ngay giữa những bấp bênh của hiện tại và thương tích trong quá khứ. 

 

Văn Tài, S.J.

 

[1] –  Cf., George A. F. Knight, The New Israel: A Commentary on the Book of Isaiah 56-66 (USA: WM. B. Eerdmans Publishing Company, 1985), 99.

[2] – Cf., Ibid., 96.

[3] – Cf., Ibid., 97-8.

[4] – Cf., Dianne Bergant, A New Heaven, A New Earth: The Biblical and Catholicity (MaryKnoll/New York: Orbis Books, 2016), 178.

[5] – Cf., Ibid., 181.

[6] – Cf., Raymond R. Hausoul, The New Heaven and New Earth: An Interdisciplinary Comparison between Jurgen Moltmann, Karl Rahner, and Gregory Beale (Eugene: Wipf and Stock Publishers, 2020), 80.

[7] – Cf., Dianne Bergant, A New Heaven, A New Earth: The Biblical and Catholicity, 181.

Kiểm tra tương tự

Sự sáng tỏ của Tình Yêu Thánh – Thứ Ba tuần Bát Nhật Phục Sinh

  Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc …

Lời chứng của những lính Rôma canh mồ – Thứ Hai tuần Bát nhật Phục Sinh

“Các bà đang đi thì có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành …