Hoàng Sóc Sơn, SJ.
Chương VIII: NHỮNG NGƯỜI BẠN TRONG CHÚA
Thánh I-nhã đến Paris ngày thứ hai 2.2.1528, nhằm lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ.
Ngài rời Salamanca khoảng giữa tháng 9.1527. Thay vì đường gần hơn là về quê rồi sang Pháp, ngài chọn đường xa hơn: đến Barcelona rồi đi Pháp. Có lẽ một phần vì ngài muốn tránh gặp người quen, một phần khác ngài muốn xin các ân nhân ở Barcelona giúp đỡ để có thể yên tâm học hành. Hẳn là khi một mình đi bộ trên quãng đường hơn 700 km, ngài suy nghĩ và cầu nguyện về quá khứ và tương lai. Một vài quyết định quan trọng: ở Paris, chẳng những ngài sẽ không làm việc tông đồ mà cũng sẽ không đi ăn xin nữa, để dành trọn thời giờ và tâm trí cho việc học. Chắc chắn là ngài rút kinh nghiệm từ 3 năm vừa học vừa ăn xin vừa làm việc tông đồ ở Tây Ban Nha khiến kết quả không đi đến đâu. Đến Barcelona vào khoảng đầu tháng 10, ngài ở lại chừng 3 tháng vừa để nghỉ ngơi, vừa để xin các ân nhân giúp đỡ tiền ăn học.
Ở Salamanca cũng như ở Barcelona, mọi người đều can ngăn thánh I-nhã đi Paris.
Nhiều người nổi tiếng đã hết sức năn nỉ kẻ ấy đừng đi, nhưng không sao thuyết phục được. Chưa đầy 15 hay 20 ngày sau khi được thả, kẻ ấy một mình ra đi, mang theo mấy quyển sách trên một con lừa nhỏ. Đến Barcelona, kẻ ấy được mọi người từng quen biết cố can ngăn đừng sang Pháp, vì chiến sự dữ dội đang diễn ra ở đó. Họ nêu lên những thí dụ rất rõ ràng, cả đến cho rằng người Tây Ban Nha bị xiên để nướng. Nhưng kẻ ấy không hề mảy may sợ sệt.[1]
Chiến tranh thực ra chưa tái phát giữa hoàng đế Karl V và vua FranÇois I của Pháp, nhưng tình hình đã trở nên căng thẳng. Năm 1525, vua FranÇois I, liên minh với Tòa Thánh, đem quân sang Ý tấn công Pavia, nhưng thất bại và chính nhà vua bị bắt làm tù binh và đưa về Tây Ban Nha. Năm 1526, Pháp phải ký hiệp ước Madrid: chẳng những phải trả tiền chuộc, Pháp còn phải nhìn nhận quyền của hoàng đế Karl V ở Flandres (Bỉ và Hà Lan) và Ý, nhường miền Bourgogne của Pháp cho hoàng đế… Nhưng chẳng bao lâu sau khi về nước năm 1527, vua FranÇois không tôn trọng hiệp ước: giữ lại miền Bourgogne và đưa quân đội vào Ý. Kết quả tạm thời: năm 1529, Karl V trả lại Pháp miền Bourgogne và François rút quân khỏi Ý. Nhưng tranh chấp giữa hai kẻ thù không đội trời chung ấy chưa chấm dứt. Người ta gọi đó là những năm Châu Âu hòa hoãn: Karl V cũng như Francois I mỗi bên đều có những vấn đề nội bộ cần giải quyết, đặc biệt liên hệ đến cuộc Cải Cách Tin Lành.
Thánh I-nhã hình dung những năm tháng ở Paris thế nào? Trong thư gởi bà Inés Pascual ngày 3.3.1528, ngài viết : “Nhờ thời tiết tốt và sức khỏe hoàn hảo, nhờ ân huệ và lòng nhân từ của Thiên Chúa, tôi đến thành phố Paris này ngày 2 tháng 2, để tiếp tục việc học cho tới khi Chúa truyền lệnh khác"[2]. Chúng ta cũng có thể ghi nhận hai điều nơi thánh I-nhã khi đến Paris : trước là học, sau là chờ "lệnh" của Chúa. Ngài sẽ đạt được cả hai.
Quyết tâm học
Ngài rời Barcelona khoảng đầu tháng 1 và đến Paris vào đầu tháng 2: một mình và đi bộ[3]vượt khoảng 1100 km ngay giữa mùa đông. Lộ trình có thể là Barcelona, Perpignan, Narbonne, Carcassone, Toulouse, Limoges, Bourges, Orléans, Paris. Thánh I-nhã không kể gì về những điều xảy ra trên đường. Ngài vào Paris theo đường Saint-Jacques hiện nay, vốn là con đường mòn đã có từ trước công nguyên, sau này được người Rôma mở rộng thành quan lộ thẳng tắp rộng 9 mét.
Kẻ ấy trọ với mấy người Tây Ban Nha khác và theo các lớp học cổ văn tại Montaigu. Trước đây do học vội học vàng quá, nên kẻ ấy bị mất căn bản. Kẻ ấy cùng học với các trẻ em, theo chương trình và phương pháp Paris[4].
Trước hết hẳn là thánh I-nhã phải tìm một nhà trọ. Ở khu Đại học không thiếu gì các nhà trọ đủ loại cho sinh viên. Đối với những sinh viên giàu sang, họ thuê riêng một phòng và đôi khi có cả người giúp việc nữa. Nhưng đa số sinh viên nghèo hùn nhau thuê và ở chung một phòng. Đó là trường hợp của thánh I-nhã. Ngài mang theo một tín phiếu 25 ecudo, do các ân nhân ở Barcelona tặng, tằn tiện thì đủ chi phí trong hai năm. Ngài ở trọ chung phòng với một số sinh viên khác người Tây Ban Nha. Hiện chúng ta không biết căn nhà ấy ở đâu. Có thể không thiếu phòng trọ ở khu Đại học, nhưng cũng có thể ngài thuê phòng ở xa hơn một chút để giá rẻ hơn.
Điều quan trọng là ngài khởi sự lại từ đầu và chọn học viện Montaigu. Đó là một khu nhà tọa lạc tại nơi hiện nay là thư viện Sainte-Geneviève, bên cạnh điện Panthéon. Học viện được thành lập năm 1314 do đức tổng giám mục Gilles Ayeclin Montaigu của giáo phận Rouen. Năm 1483, Jan van Standonck[5], 40 tuổi, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng. Vị này sinh trưởng tại Hà Lan, thọ giáo với các tu sĩ Tu Hội Anh Em Đời Sống Chung theo linh đạo Devotio Moderna. Năm 1490, nhằm chuẩn bị ứng sinh cho hàng giáo sĩ và các dòng tu, ông cho thành lập một hình thức tu hội ngay tại học viện Montaigu, thu nhận các sinh viên nghèo. Họ đi học như các sinh viên khác, nhưng sống thành cộng đoàn, có lời khấn tạm, mặc đồng phục như các tu sĩ, dự lễ và đọc thần vụ như các đan sĩ. Hằng ngày họ đến đứng ở cổng đan viện Chartreux xin ăn. Vào lúc thánh I-nhã đến Paris, nhóm sinh viên nghèo này lên đến khoảng 200 người. Nếp sống thực sự khắc khổ và đạo hạnh của họ, độc đáo tại Paris, có lẽ đã hấp dẫn thánh I-nhã lúc đầu, nhưng khác một điều là ngài quyết tâm dành trọn thời giờ và tâm trí cho việc học.
Các lớp học tiếng Latinh học sinh khoảng từ 9-10 tuổi trở lên, và chia theo trình độ. Có lẽ thánh I-nhã vào học lớp của người mới bặt đầu, mặc dầu đã 37 tuổi, nên mới học chung với trẻ em. Thời gian học Latinh không hạn định, có thể kéo dài nhiều năm cho tới khi được đánh giá là đủ trình độ theo học các môn triết học. Thánh I-nhã học Latinh tại Montaigu khoảng một năm rưỡi.
Ngay khi đến, kẻ ấy đã được một nhà buôn trả cho 25 đồng escudos theo một tín phiếu mang từ Barcelona tới. Kẻ ấy trao cho một người Tây Ban Nha cùng nhà trọ giữ giùm. Nhưng chỉ ít lâu sau, người này tiêu xài hết, không sao hoàn lại được. Thế là sau Mùa Chay, kẻ hành hương trắng tay, một phần do chính mình đã tiêu, một phần vì lý do nêu trên. Kẻ ấy bắt buộc phải đi ăn xin và ngay cả phải rời nhà trọ[6].
Mùa Chay năm 1523 bắt đầu ngày 24 tháng 2. André Ravier cho là điều này xảy ra vào cuối Mùa Chay[7], tức là vào khoảng đầu tháng 4, chỉ sau khoảng hai tháng, thánh I-nhã lại bị ném ra ngoài đường.
Kẻ ấy được nhận vào nhà tế bần Saint-Jacques, bên kia chỗ Các Thánh Anh Hài. Ở đó bất tiện cho việc đi học, vì nhà tế bần cách học viện Montaigu khá xa, mà kẻ ấy phải về nhà tế bần trước khi đổ chuông Truyền Tin thì cửa mới còn mở, và phải chờ trời sáng mới ra khỏi nhà tế bần được. Vì thế kẻ ấy không theo dự đầy đủ các tiết. Một bất tiện khác là kẻ ấy phải đi ăn xin để sống[8].
Saint-Jacques Aux Pèlerins[9] là một khu nhà gồm nhà tế bần, một số nhà trọ, nhà nguyện và một khoảng đất trống, ở cách Montaigu chừng 2 km về hướng bắc. Lúc đầu nhà trọ tiếp đón khách hành hương đi viếng mộ thánh Giacôbê ở Compostela, nước Tây Ban Nha. Vào thời thánh I-nhã, nhà trọ tiếp đón những người nghèo, cho chỗ ngủ, mỗi ngày cho một miếng bánh mì và một chút rượu[10]. Vì không đủ sống, ngài phải đi xin ăn. Ngoài ra, nhà trọ chỉ mở cửa khi mặt trời mọc và đóng cửa khi mặt trời lặn, mà các tiết học đầu tiên ở Montaigu bắt đầu từ 5 giờ sáng, nên ngài không dự được đầy đủ. Ngài đã bỏ việc ăn xin để học, nhưng giờ đây phải ăn xin mà vẫn không học được đầy đủ.
Sống ở nhà tế bần và ăn xin được ít lâu, kẻ ấy thấy việc học hành không tiến bộ bao nhiêu, nên tự hỏi phải làm gì. Vì thấy trong các học viện có những sinh viên giúp việc cho một số phụ khảo và có giờ để học, nên quyết định tìm một chỗ làm. Kẻ ấy tự nghĩ mình sẽ hình dung giáo viên là Đức Kitô, và mỗi sinh viên được gọi bằng tên của một tông đồ, thí dụ Phêrô, Gioan... và dự định này làm cho kẻ ấy vui thích. "Khi giáo viên ra lệnh, mình sẽ nghĩ là Đức Kitô ra lệnh cho mình và khi một người khác ra lệnh, mình sẽ nghĩ là thánh Phêrô ra lệnh cho mình" Kẻ ấy bỏ ra nhiều công để tìm một chỗ làm. Kẻ ấy nhờ anh Castro, nhờ một đan sĩ Chartreux, vì người này quen biết nhiều giáo viên, và nhờ những người khác nữa, nhưng không ai tìm được việc cho kẻ ấy[11].
Chúng ta xem thánh I-nhã tìm cách thoát khỏi tình trạng nan giải ấy thế nào. Về ăn ở, các sinh viên khác nhau khá xa. Học viện Montaigu nhận các sinh viên nghèo, nhưng phải sống khắc khổ và đọc kinh như các tu sĩ, lại phải đi xin ăn: tất cả những điều ấy thánh I-nhã không ngại, nhưng ngài muốn dành nhiều thời giờ cho việc học. Cách ngài đã chọn lúc mới đến, tức là thuê phòng trọ chung, phù hợp nhất với ngài vì nghèo, nhưng có nhiều thời giờ để học. Ở Paris còn một giải pháp khác: giúp việc một giáo sư. Mỗi giáo sư thường có một sinh viên "cần vụ", tức là giúp những việc lặt vặt trong đời sống hằng ngày, và được nuôi ăn ở. Thánh I-nhã nghĩ đến giải pháp ấy. Tuy nhiên, ngài không tìm được Đức Kitô và các tông đồ của ngài như lòng mong ước.
Không tìm ra giải pháp, có lần kẻ ấy được một tu sĩ người Tây Ban Nha cho biết là tốt hơn mỗi năm nên đến miền Flanders, bỏ ra hai tháng, có thể ít hơn, và trở về với tiền đủ để học cả năm. Kẻ ấy trình bày với Thiên Chúa, và thấy điều ấy tốt. Theo lời khuyên ấy, hằng năm kẻ ấy mang từ Flanders về số tiền tạm đủ sống. Có một lần kẻ ấy sang cả nước Anh và nhận được của bố thí nhiều hơn các năm khác[12].
Hai nước Bỉ và Hà Lan thời ấy được gọi chung là xứ Flandres hay Flanders cùng có chung hoàng đế Karl V với Tây Ban Nha, nên có nhiều người Tây Ban Nha đến đó sinh sống, đặc biệt ở hai thành phố Antwerpen và Bruges, hiện nay thuộc Bỉ. Họ thường là giáo sư hay thương gia giàu có. Thánh I-nhã đi Bỉ ba chuyến vào các kỳ nghỉ năm 1529, 1530 và 1531. Ngài được đồng hương tiếp đón nồng hậu và giúp đỡ tận tình. Ở Antwerpen, hai gia đình Pedro Quadrato và Juan de Cuellar là những ân nhân lớn. Ở cửa nhà gia đình sau, gần nhà thờ Thánh Giacôbê, mãi đến thế kỷ XVIII, người ta còn thấy một bức tượng bán thân của thánh I-nhã rất được dân chúng sùng mộ, với bảng lưu niệm: S. Ignacio, S.J.F., In hac domo Olim hospitato, Sac[13]. Ở Bruges[14], gia đình Gonzales Aguilerq vừa giàu có vừa ngoan đạo cũng hết lòng giúp đỡ ngài. Sau này, khi có dịp đến Paris, ông thường đến thăm và ở lại với thánh I-nhã tại Học viện Sainte-Barbe. Gần nhà ông có một vị giáo sư nổi tiếng: Juan Luis Vives[15], từng là giáo sư Latinh ở đại học Louvain, rồi gia sư của công chúa Mary Tudor[16] tại Luân đôn, xuất bản nhiều tác phẩm được nhiều người hâm mộ. Một lần ông mời thánh I-nhã đến ăn cơm chung với một số vị khách khác. Ông cảm phục ngài về những hiểu biết sâu xa và những tâm tình thiêng liêng, nên nói với các bạn: Đó là một vị thánh, sau này sẽ lập một dòng tu. Mùa hè năm 1531, thánh I-nhã sang Luân đôn, hẳn là do giáo sư Vives giới thiệu. Chúng ta không biết thêm chi tiết về chuyến đi này, ngoại trừ kết quả: thánh I-nhã nhận được của bố thí nhiều hơn hai lần trước. Sau đó, các ân nhân miễn cho việc ngài phải đi: họ gởi hoặc đem tiền đến Paris giúp đỡ ngài. Có người đặt vấn đề: ngài thuộc gia đình quý tộc, đi ăn xin là làm nhục gia đình, nên đó là phạm tội. Ngài hỏi ý kiến các giáo sư thần học và yên tâm vì theo họ ăn xin vì muốn bắt chước đời sống nghèo khó của Chúa Giêsu và các thánh là điều rất tốt, không có tội gì. Tại sao ngài thành công? Một phần có thể là vì dòng dõi và tên tuổi ngài từng được biết đến ở Tây Ban Nha, nhưng điều chính yếu chắc chắn là đời sống và định hướng của ngài khiến người ta khâm phục và quý mến.
Từ khi đi Flanders về lần đầu, kẻ ấy bắt đầu dành nhiều thời giờ hơn để nói chuyện về đời sống thiêng liêng. Kẻ ấy hướng dẫn Linh Thao gần như đồng thời cho ba người, đó là Peralta, Castro ở Sorbonne, và một người Basco tên là Amador đang học ở Sainte-Barbe. Cả ba thay đổi đời sống rất nhiều. Có gì họ cho người nghèo hết, kể cả sách, và bắt đầu đi xin ăn tại Paris[17].
Sau lần đi Bỉ năm 1528, thánh I-nhã rời nhà tế bần Saint-Jaques. Ngài ở đâu, chúng ta không biết rõ, nhưng có thể ngài trọ ở gần Montaigu. Tạm đủ sống, ngài bắt đầu làm việc tông đồ đôi chút.
Vượt qua thử thách
Khoảng tháng 9, ngài hướng dẫn Linh Thao cho ba người Tây Ban Nha, chắc là mỗi người riêng, chúng ta không biết trong bao lâu. Người thứ nhất là Pedro de Peralta, quê ở giáo phận Toledo, nhận bằng cử nhân năm 1529, sau đó về Toledo làm kinh sĩ nhà thờ chính tòa, trở thành một vị giảng thuyết nổi tiếng và luôn luôn quí mến thánh I-nhã và Dòng Tên. Người thứ hai là Juan Castro, sinh tại Burgos năm 1485, gặp thánh I-nhã lúc đang làm phụ khảo tại học viện Sorbonne, nhận bằng tiến sĩ năm 1532, sau đó về Tây Ban Nha vào đan viện Chartreux Porta Caeli (Cửa Trời) tại Valencia, làm tu viện trưởng năm 1542, qua đời năm 1556. Người thứ ba là Amador de Elduayen, người cùng tỉnh Guipuzcoa với thánh I-nhã, ghi danh vào học viện Sainte-Barbe năm 1526. Kết quả là cả ba thay đổi đời sống rất nhiều, nhiều đến nỗi thánh I-nhã sẽ bị phiền hà không ít, và có lẽ nhờ đó ngài cũng rút được nhiều kinh nghiệm.
Họ đến sống tại nhà tế bần Saint-Jacques, nơi trước đây kẻ ấy đã ở, nhưng sau đó kẻ ấy đã rời đi vì những lý do đã nói trên. Họ gây ra một vụ chấn động ở đại học, vì hai người trước là những người xuất sắc và rất nổi tiếng. Ngay lập tức, các sinh viên Tây Ban Nha làm dữ với hai người giáo viên, nhưng dù thuyết phục, dù lý luận thế nào cũng không ép hai người trở về đại học được. Một hôm, họ kéo đến đông đảo, mang theo cả hung khí, lôi hai người ra khỏi đó. Đưa hai người về đại học rồi, họ thỏa thuận với hai người như sau: hai người trước hết phải học xong đã, sau đó mới thực hiện ý định[18].
Chúng ta có thể chắc được là ba người đã tự ý có gì cho người nghèo hết và đến sống tại nhà tế bần Saint-Jacques. Giả như hai người trước chỉ là sinh viên bình thường như người thứ ba thì có lẽ không ai đặt vấn đề. Nhưng Peralta và Castro là hai phụ khảo xuất sắc và nổi tiếng ở đại học. Có lẽ các sinh viên đồng hương Tây Ban Nha cho là họ bị bỏ bùa mê, nên dùng lý lẽ thuyết phục không được, họ dùng đến bạo lực để giải cứu.
Trong lúc ấy, thánh I-nhã làm gì?
Anh chàng Tây Ban Nha từng ở chung nhà trọ với kẻ ấy lúc đầu, và đã tiêu xài tiền của kẻ ấy mà không hoàn lại, một hôm về Tây Ban Nha qua ngả Rouen. Đang khi ở Rouen chờ tàu, anh ta ngã bệnh. Kẻ hành hương nhận được thư của anh ta báo tin, thì ước ao đi thăm và giúp anh ta. Đồng thời kẻ ấy nghĩ là mình đến gặp anh ta như vậy sẽ cảm hóa được anh ta để anh ta lìa bỏ thế gian mà xả thân phục vụ Thiên Chúa. Muốn được vậy, kẻ ấy dự tính sẽ đi bộ 28 dặm từ Paris đến Rouen, đi chân không, và không ăn uống chi hết. Khi cầu nguyện về việc này, kẻ ấy thấy mình run sợ. Cuối cùng, kẻ ấy đến nhà thờ Saint-Dominique. Tại đó, kẻ ấy quyết định thực hiện những điều đã dự tính, và điều trước đó kẻ ấy rất sợ là mình thử thách Thiên Chúa lúc ấy tan biến đi. Hôm sau, vào buổi sáng kẻ ấy lên đường, kẻ ấy thức dậy rất sớm. Lúc bắt đầu mặc áo, kẻ ấy cảm thấy ghê rợn đến nỗi làm như không sao mặc được. Bất kể, kẻ ấy ra khỏi nhà và cả thành phố trước khi trời sáng rõ. Cái sợ đeo bám kẻ ấy đến tận Argentueil, một làng cách Paris 3 dặm trên đường đi Rouen. Theo người ta nói thì ở đó có cái áo của Chúa Giêsu. Kẻ ấy đi qua làng, trong lòng vẫn xao xuyến. Nhưng khi kẻ ấy leo lên một sườn đồi thì sự xao xuyến bắt đầu tan biến. Thay vào đó, kẻ ấy thấy hứng khởi , hăng hái và vui mừng đến nỗi bắt đầu reo hò giữa cánh đồng và nói lớn với Chúa... Tối hôm ấy, đã qua được 14 dặm, kẻ ấy đến trọ, cùng với một người hành khất, tại một nhà tế bần. Hôm sau, kẻ ấy ở trọ qua đêm tại một kho thóc. Ngày thứ ba, người ấy đến Rouen. Trong suốt thời gian ấy, kẻ ấy không ăn không uống chi hết, đúng như đã quyết định từ trước. Tại Rouen, kẻ ấy an ủi người bệnh và giúp anh ta xuống tàu thủy về Tây Ban Nha[19].
Rouen cách Paris chừng 120 km về hướng tây bắc. Thời ấy có tàu biển thường xuyên từ Rouen đi Tây Ban Nha. Kẻ đã tiêu hết tiền của thánh I-nhã lại viết thư xin ngài giúp đỡ khi gặp hoạn nạn: chắc thánh I-nhã đã không làm gì khiến người ấy sợ hay ngại. Và có lẽ người ấy mong được ngài gởi cho ít tiền để chữa bệnh. Ngài làm hơn những gì người ta có thể nghĩ được: đích thân đi bộ đến thăm và giúp đỡ người ấy. Chẳng những vậy, ngài còn quyết định đi chân không và nhịn ăn nhịn uống suốt 3 ngày trên đường. Ngài nói rõ lý do: đến gặp anh ta như vậy sẽ cảm hóa được anh ta để anh ta lìa bỏ thế gian mà xả thân phục vụ Thiên Chúa. Thực hiện ý định ấy không phải là điều dễ. Có lẽ đối với ngài, nhịn ăn nhịn uống và đi bộ chân đất 120 km không thành vấn đề bao nhiêu, vì ngài đã quen rồi. Nhưng ngài run sợ: làm như vậy có phải là thử thách Thiên Chúa không? Trước khi đi, ngài cầu nguyện, và quyết định trước mặt Chúa. Dầu vậy, cái sợ đeo bám kẻ ấy đến tận Argenteuil, tức là cách Paris chừng 40 km. Ngài có ghé vào xem chiếc áo của Chúa Giêsu không? Chúng ta không biết chắc chắn nhưng có thể phỏng đoán là khi đến Argenteuil, ngài ghé lại viếng chiếc áo. Đối với chúng ta ngày nay, chiếc áo ấy không có căn cứ lịch sử chắc chắn, nhưng vào thời ấy, không ai thắc mắc gì. Riêng đối với thánh I-nhã, mọi kỷ niệm về Chúa Giêsu đều thu hút ngài. Cũng có thể sau đó, chẳng những ngài lấy lại được bình an mà còn hứng khởi, hăng hái và vui mừng đến nỗi bắt đầu reo hò giữa cánh đồng và nói lớn với Chúa, tức là được an ủi mãnh liệt. Kết quả chuyến đi ấy thế nào? Ngài không nói gì thêm. Có lẽ ngài chỉ thành công một nửa: giúp được người ấy về phần xác, còn hy vọng người ấy lìa bỏ thế gian mà xả thân phục vụ Thiên Chúa thì hình như không thành. Dầu sao câu chuyện này giúp chúng ta hiểu khá nhiều về con người thánh I-nhã.
Từ Rouen, kẻ hành hương trở lại Paris và được biết là sau vụ Castro và Peralta, người ta đồn thổi tùm lum những điều bất lợi cho kẻ ấy và thanh tra giáo lý đã đặt vấn đề. Không muốn chờ đợi thêm, kẻ ấy đến gặp vị thanh tra, cho biết là kẻ ấy nghe nói vị ấy muốn gặp, và vị ấy muốn gì kẻ ấy cũng sẵn sàng. Viên thanh tra là cha Ory, tu sĩ dòng Thánh Đaminh. Kẻ ấy xin vị thanh tra giải quyết nhanh cho, vì kẻ ấy có ý định bắt đầu các khóa học triết lý vào lễ thánh Rêmi. Nhưng trước hết, kẻ ấy muốn mọi chuyện ổn đã, để có thể học hành tốt hơn. Vị thanh tra không gọi lại kẻ ấy lần nào. Vị ấy chỉ nói là quả thực người ta có nói về những điều kẻ ấy đã làm v.v...[20]
Vụ hai phụ khảo gây chấn động ở đại học chắc đã xảy ra trong lúc thánh I-nhã đi Rouen. Khi về lại Paris, ngài bất ngờ đối diện với hai điều: người ta đồn thổi tùm lum những điều bất lợi cho ngài, và thanh tra giáo lý đặt vấn đề về ngài. Về chuyện trước, chính ngài cho biết: Tại Paris, nhất là giữa cộng đồng Tây Ban Nha, người ta xầm xì với nhau nhiều về kẻ ấy. Giáo sư Gouveia tố cáo kẻ ấy đã làm cho Amador, sinh viên của học viện mình, mất trí. Vì thế, ông ấy quyết định: hễ kẻ ấy đặt chân đến Sainte-Barbe, ông sẽ cho đánh đòn công khai về tội dụ dỗ sinh viên[21]. Người ta cho là hai phụ khảo mất trí và đổ lỗi cho ngài. Giáo sư Diogo de Gouveia, hiệu trưởng học viện Sainte-Barbe, cũng cho rằng ngài đã làm cho Amador, sinh viên của ông mất trí, nên đe dọa nếu ngài đến sẽ phạt. Về chuyện bị thanh tra giáo lý đặt vấn đề, thực ra cũng như chuyện trước, ngài chỉ nghe đồn chứ chưa có gì đích xác. Tuy nhiên, vì muốn được yên tâm để học hành, ngài đến gặp vị thanh tra, cho biết là nghe nói vị ấy muốn gặp, và vị ấy muốn gì kẻ ấy cũng sẵn sàng. Ở Pháp lúc ấy không có Tòa Án Giáo Lý như ở Tây Ban Nha, chỉ có một vị Thanh Tra Giáo Lý là Mathieu Ori, linh mục dòng Đaminh. Có lẽ rút kinh nghiệm ở Alcalá và Salamanca, ngài tự động đến gặp vị thanh tra, và mọi chuyện đều ổn. Với giáo sư Gouveia, hình như ngài cũng đích thân đến gặp và mọi sự đều sáng tỏ[22].
Dầu sao, thánh I-nhã vẫn được yên tâm học hành hơn trước đây ở Tây Ban Nha. Kết quả: sau hơn một năm, ngài có thể học triết; và sau này, ngài viết tiếng Latinh khá dễ dàng.
Sinh viên nội trú
Sau đó ít lâu đến lễ thánh Rêmi vào đầu tháng 10. Kẻ ấy bắt đầu học triết lý dưới sự hướng dẫn của một giáo viên tên là Juan Pena[23].
Hằng năm Đại học Paris khai giảng niên khóa vào ngày 1 tháng 10. Thánh I-nhã ghi danh học nội trú tại học viện Sainte-Barbe. Tại sao? Ngài không giải thích, nhưng chúng ta có thể phỏng đoán.
Ngài chọn vào nội trú. Điều này khá dễ hiểu. Trước hết là vì ngài được các ân nhân ở Barcelona và ở Bỉ giúp đỡ nhiều, nên không túng thiếu nữa. Thứ đến, đời sống nội trú ổn định hơn, nên việc học hành có thể tốt hơn. Điều ngài nhắm là kết quả học tập. Ngài chuyển từ Montaigu sang Sainte-Barbe. Về không gian, hai học viện chỉ cách nhau một con đường nhỏ, tên chính thức là Saint-Symphorien[24], nhưng sinh viên cả hai bên đều gọi là Rue des Chiens (Đường Chó), vì rất dơ bẩn. Nhưng hai học viện khác nhau khá xa[25].
Trước hết, có lẽ thánh I-nhã chọn giáo viên. Khác với cách thức hiện nay, thời đó ở Paris, một sinh viên khoa Nghệ Thuật có thể chọn giáo viên nào mình muốn. Người này sẽ hướng dẫn sinh viên cho đến khi tốt nghiệp. Giáo viên thường là một phụ khảo đã tốt nghiệp khoa Nghệ Thuật và theo học một trong ba khoa cấp trên. Nhiệm vụ của giáo viên là cắt nghĩa cho sinh viên các sách giáo khoa có sẵn. Vì thế vai trò của giáo viên khá quan trọng, cả về khả năng, cũng như về tư cách, đôi khi hơn cả học viện hay hiệu trưởng. Riêng về giáo thuyết, cũng phải rất cẩn thận, vì lúc ấy một số giáo viên ngả theo phong trào Cải Cách mà Hội Thánh đã kết án. Phụ khảo Juan Pena quê ở Tây Ban Nha, tốt nghiệp khoa Nghệ Thuật năm 1525 và lúc ấy đang theo học khoa Y. Năm 1537, ông cho ấn hành cuốn Opositionum liber primus của Fernando Enzinas, điều này cho thấy ông trung thành với truyền thống thế kỷ XIV, nhưng trong một tinh thần khá cởi mở[26]. Hình như đây chính là người đáp ứng những điều kiện của thánh I-nhã.
Nhưng có lẽ ngài cũng chọn cả học viện nữa. Học viện Sainte-Barbe[27] được thành lập năm 1460, thu nhận sinh viên đủ mọi quốc tịch, nhưng có nhiều sinh viên Tây Ban Nha. Từ năm 1526, học viện này được vua João III của Bồ Đào Nha bảo trợ và tiến sĩ Diego de Gouveia, người Bồ Đào Nha, làm hiệu trưởng. Đây là một người bảo đảm cả về đạo đức, giáo thuyết và kiến thức. Vào năm 1529, Sainte-Barbe đang ở đỉnh cao với những giáo sư danh tiếng thu hút 600 sinh viên từ nhiều nước. Vả lại, sau một năm rưỡi theo học tại Montaigu, thánh I-nhã thấy không thích hợp với ngài. Thực vậy, Montaigu lúc ấy dưới ảnh hưởng của Noel Bedier quá khắt khe về đời sống, và quá bảo thủ về giáo thuyết. Có lẽ cá nhân thánh I-nhã thích như vậy, nhưng đó không phải là giải pháp tốt nhất đối với những vấn đề của Hội Thánh đương thời. Trái lại, học viện Lemoine lại tỏ ra phần nào quá khích. Trong khi đó Sainte-Barbe cởi mở hơn Montaigu và quân bình hơn Lemoine, cả về đời sống cũng như về giáo thuyết. Theo Francois de Dainville, Montaigu là đội quân cố thủ trên những đường mòn của thời Trung Cổ, Lemoine là đội quân xung kích của phong trào nhân văn, Sainte-Barbe là đội trung quân[28]. H. Bernard-Maitre cho rằng ở Sainte-Barbe, thánh I-nhã tiếp xúc gần gũi với những đòi hỏi sâu xa nhất của thời ấy[29].
Học viện Sainte-Barbe gồm một tòa nhà chính, lâu đài Chalon xây theo hình móng ngựa, ba mặt tiền, gồm tầng trệt và tầng lầu. Cổng vào ở phía nam[30]. Bên cạnh lối vào có một tháp 3 tầng: tầng trệt được sinh viên gọi là địa ngục, tầng giữa là luyện ngục, tầng trên là thiên đàng. Học viện có nhà nguyện riêng, dài khoảng 7 mét. Thường mỗi phòng có 4 người, trong đó có một phụ khảo. Thánh I-nhã được cho ở cùng phòng với phụ khảo Juan Pena và hai sinh viên khác nữa là Pierre Favre, tức là chân phước Phêrô Favre, và Francesco de Javier, tức là thánh Phanxicô Xavier. Hai người này cùng sinh năm 1526, người trước quê ở Savoie, đông nam nước Pháp hiện nay, người sau quê ở Navarra, đông bắc nước Tây Ban Nha hiện nay[31].
Chương trình học kéo dài tối thiểu 3 năm rưỡi gồm triết học Aristote và một số kiến thức về toán và thiên văn. Hai năm đầu chủ yếu học luận lý, toán và vũ trụ luận. Sau đó, thi bằng cao đẳng[32]. Phần còn lại gồm đạo đức và siêu hình cùng với thiên văn học trong một năm rưỡi cuối, rồi thi cử nhân[33]. Sách giáo khoa thường là các bản văn Latinh bình giảng các tác phẩm của Aristote bằng tiếng Hy lạp.
Đời sống hằng ngày khá chặt chẽ. 4 giờ sáng: chông báo thức, mọi người phải dậy, và ngay lập tức buổi học đầu tiên. 6 giờ: mọi người tham dự thánh lễ. Sau đó là bữa điểm tâm: mọi người thinh lặng ăn một miếng bánh mì và uống một ly nước lã hay một ly rượu pha nước. 8 giờ đến 10 giờ: buổi học thứ hai. 10 giờ: ôn bài chung, thảo luận hay giải đáp thắc mắc. 11 giờ: sinh viên ngoại trú về. Bữa trưa: thức ăn thường là thịt, cá, rau và trái cây. Đầu bữa ăn mọi người thinh lặng nghe đọc sách. Sau bữa ăn là giờ nghe đọc thơ, nghe giảng luân lý hay khảo bài. 15 giờ: buổi học thứ ba. 17 giờ: như 10 giờ. 18 giờ: cơm chiều. Sau vữa chiều: ôn bài chung. 20 giờ: kinh tối. 21 giờ: tắt đèn. Sinh viên không có giờ học riêng, cũng không có sách để đọc riêng. Chiều thứ ba và chiều thứ năm, sau buổi học có giờ giải trí chung: đi dạo, chơi thể thao ở đảo Saint-Louis hiện nay. Sáng thứ bảy: ôn bài chung trong tuần; chiều: thảo luận một đề tài triết học. Sáng Chúa nhật: thảo luận một đề tài triết học; chiều: nghe một giáo sư giảng thuyết. Ngày lễ: sáng và chiều đều nghe một giáo sư giảng thuyết. Ngoài ra, sinh viên được khuyến khích đọc kinh nhật tụng Đức Mẹ, bảy thánh vịnh thống hối, kinh cầu các thánh, và các việc đạo đức khác. Mỗi năm 6 lần các cha dòng Đaminh đến giải tội. Các kỳ nghỉ: Lễ Giáng sinh, từ giữa tháng 12 đến lễ Hiển Linh; lễ Phục Sinh, từ Chúa nhật I Mùa Chay đến thứ năm tuần Phục Sinh; mùa hè, tháng 7 và tháng 8 chỉ học nửa thời gian, tháng 9 nghỉ trọn vẹn. Sinh viên không bao giờ được ngủ đêm ở ngoài học viện. Ban ngày, muốn ra ngoài phải có phép của hiệu trưởng, và phải cùng đi với người do hiệu trưởng chỉ định.
Kẻ ấy dự tính chỉ giữ các bạn cùng chí hướng đã quyết tâm phục vụ Thiên Chúa, không chiêu mộ thêm, để có thể thuận lợi hơn cho việc học hành. Vừa bắt đầu theo các giảng khóa, các cám dỗ trước kia đã đến khi kẻ ấy học Latinh ở Barcelona lại tấn công kẻ ấy. Khi nghe giảng, không sao kẻ ấy tập trung chú ý được, vì nhiều ý nghĩ đạo đức cứ lởn vởn. Nhận thấy nếu cứ tiếp diễn như vậy, việc nghe giảng sẽ không ích lợi mấy, nên kẻ ấy đến với giáo viên và hứa không bao giờ vắng mặt, nhưng sẽ dự tất cả khóa học bao lâu còn có được bánh mì và nước lã để sống. Sau khi kẻ ấy hứa, tất cả những ý tưởng đạo đức vô duyên cũng cuốn gói ra đi, và kẻ ấy được yên ổn theo đuổi việc học[34].
Thánh I-nhã quyết chí dành hết tâm trí và thời giờ vào việc học. Mặc dầu rất mong có thêm các bạn cùng chí hướng, ngài không chiêu mộ thêm, vì sợ ảnh hưởng đến việc học. Một điều tương tự ở Barcelona tái diễn: các ý tưởng đạo đức làm ngài không tập trung vào việc học được. Ngài cũng làm như ở Barcelona: hứa với giáo viên theo tất cả các giờ học. Như vậy, chúng ta tin chắc ngài hết sức cố gắng để tiến bộ trong việc học. Kết quả là đúng hạn 2 năm, ngài tốt nghiệp cao đẳng và đúng hạn ba năm rưỡi ngài tốt nghiệp cử nhân.
Việc thi cử ở Paris khá nghiêm túc. Thánh I-nhã thi cao đẳng năm 1531, thi cử nhân năm 1533.
Kỳ thi cao đẳng gồm hai giai đoạn. Trước lễ Giáng Sinh năm 1531, thánh I-nhã đến địa điểm thi của Khối dân Pháp[35], trên đường Fourrare, để tranh luận với một phụ khảo của Sainte-Barbe, trước mặt đông đảo giáo sư và sinh viên. Đầu tháng 2 năm sau, ngài phải trả lời các câu hỏi của 5 giám khảo thuộc 5 tỉnh của Khối dân Pháp. Sau khi tất cả các sinh viên thi xong, các giám khảo lên danh sách những người đậu. Trước mặt vị đốc sự của khối dân Pháp, ngài được tuyên bố đã tốt nghiệp cao đẳng. Như vậy, ngài được học tiếp lên bậc cử nhân và có quyền dạy những sinh viên lớp dưới ở các học viện. Trong thực tế, ngài không dạy ai, để dồn tất cả vào việc học.
Kỳ thi cử nhân cũng gồm hai đợt. Trước hết, từ ngày 3.2.1533, các thí sinh lần lượt đến đan viện Sainte-Geneviève[36], ra trước ban giám khảo gồm 4 giáo sư thuộc 4 khối dân, để trả lời các câu sát hạch liên quan đến toàn bộ chương trình học. Sau khi tất cả các thí sinh thi xong, các giám khảo xếp hạng. Thánh I-nhã được xếp thứ 30 trong khoảng 100 thí sinh[37]. Những người thi đậu được chia thành từng nhóm 8 người, và mỗi tháng 2 nhóm được gọi đến thi đợt 2. Thánh I-nhã thi đợt 2 vẫn tại đan viện Sainte-Geneviève vào tháng 3 năm 1533. Trước mặt một trong hai vị Chưởng Ấn Đại Học[38], thí sinh phải trả lời các câu sát hạch của 4 giáo sư trong ban giám khảo. Sau đó, vị Chưởng Ấn cho biết kết quả và ấn định ngày và nơi công bố chính thức.
Ngày 13.3.1533, thánh I-nhã cùng với 7 tân khoa khác tập họp ở nhà nguyện tu viện Mathurins[39]. Các tân khoa mặc áo thụng mới, được rước từ tu viện Mathurins, cùng với Viện Trưởng và đại diện các khối dân, đến đan viện Saint-Geneviève[40] để làm lễ công bố kết quả chính thức. Vị Chưởng Ấn[41] đón các tân khoa tại nhà nguyện Notre-Dame de la Miséricorde. Một viên chức giới thiệu các tân khoa với Chưởng Ấn. Vị này mời 4 tân khoa tranh luận một đề tài[42]. Sau đó, vị Chưởng Ấn đọc một diễn từ ngắn, rồi cho các tân khoa đặt tay trên sách Tin Mừng thề trung thành chu toàn các bổn phận của một cử nhân. Kế đến các tân khoa quỳ gối trong khi vị Chưởng Ấn long trọng đọc công thức:
Được ủy nhiệm do quyền bính của hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, tôi là Jacques Aimery ban quyền giảng dạy, trợ huấn, thảo luận, quyết định và cấp chứng chỉ học vấn bậc cử nhân thuộc Phân Khoa Nghệ Thuật ở Paris cũng như ở bất cứ đâu, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Từ đây, thánh I-nhã được ghi danh vào các phân khoa Thần, Y hoặc Luật. Tất nhiên ngài chọn phân khoa Thần, để có thể giúp đỡ các linh hồn hơn. Các sinh viên được tự do lựa chọn một trong 4 học viện của phân khoa Thần: Sorbonne, Navarre, Jacobins (Dòng Đaminh) và Cordeliers (Dòng Phanxicô).
Giữa bao biến động
Ngài chọn học viện Jacobins. Tại sao?
Đôi khi có người tưởng thánh I-nhã đã sống những ngày tháng hoàn toàn bình lặng ở Paris. Sự thật có lẽ phải nói hoàn toàn khác hẳn.
Quả thực tình hình chính trị và quân sự tạm lắng dịu ở Châu Âu từ năm 1529, khi vua Francois I của Pháp và hoàng đế Karl V của Đức nhượng bộ nhau, tiêu biểu là Francois I kết hôn với chị của Karl V, để mỗi bên rảnh tay đối phó với tình trạng tôn giáo nội bộ ngày càng phức tạp. Thực vậy, tình trạng tôn giáo lúc ấy là một vấn đề rất lớn chẳng những đối với Hội Thánh mà cả đối với cả Châu Âu, đặc biệt ở đại học Paris.
Có thể nói đó là một giai đoạn nhiều biến động, sau thời Trung Cổ gần như hoàn toàn ổn định. Hai người đã khuấy động bầu khí tôn giáo yên tĩnh của Châu Âu thời ấy nói chung, là Erasme[43] và Luther[44]. Riêng với Paris, người đã trực tiếp khuấy động là Calvin. Thực ra nhu cầu cải cách Hội Thánh đã trở nên cấp bách và quyết liệt. Tuy nhiên, đại học Paris, nhất là phân khoa Thần Học, lúc ấy được coi là bức tường thành bảo vệ Hội Thánh, chưa tìm được con đường giúp Hội Thánh vượt qua giai đoạn khó khăn.
Ngày 3.2.1528, tức là ngay sau hôm thánh I-nhã đến Paris, công đồng giáo tỉnh Sens, gồm cả Paris, họp trong thời gian 7 tháng, để tìm cách đối phó với ảnh hưởng của phong trào Cải Cách Tin Lành lúc ấy đang lan tràn mạnh mẽ. Đó là một trong những công đồng miền quan trọng nhất trong lịch sử Giáo Hội Pháp. Tuy nhiên, xem ra những cố gắng ấy không đủ để ngăn chặn đà tiến của phong trào Cải Cách Tin Lành, nhất là không thực sự góp phần canh tân Hội Thánh.
Đêm 31.5.1528, tức là sau khi thánh I-nhã đến Paris chưa đầy 4 tháng, một tượng Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu bị xúc phạm tại Paris[45]. Kẻ vô danh nào đó đã chặt đầu Đức Mẹ và Chúa Giêsu ở rue des Juifs[46], liệng xuống đất. Được tin, vua Francois I đã khóc lớn tiếng và cho làm một bức tượng bằng bạc, tổ chức rước kiệu và nhà vua đích thân đặt tượng mới vào nguyên chỗ cũ. Chắc chắn đó là lời cảnh cáo của những người quá khích muốn cải cách Hội Thánh. Đại học Paris thảo luận và đi đến 2 quyết định: 1) xin vua và nghị viện cho điều tra; 2) tổ chức cho 500 sinh viên cầm nến sáng đi rước kiệu Đức Mẹ.
Đại học Paris làm gì trước đòi hỏi canh tân Hội Thánh?
Jan Standonck đã thực sự cố gắng muốn canh tân Hội Thánh khi lập nhóm sinh viên nghèo tại học viện Montaigu. Tuy nhiên, nếp sống quá khắc khổ, phần nào phi nhân và trái với Tin Mừng, làm cho không mấy người hưởng ứng, cả những người bảo thủ ở đại học cũng như những người chủ trương canh tân theo trào lưu Nhân Văn. Chẳng những vậy, người kế tục là Noel Bédier lại quá thủ cựu và cực đoan về giáo thuyết, nên trở thành chướng ngại chính cho mọi nỗ lực cải cách.
Đụng độ đầu tiên giữa đại học Paris với phong trào cải cách là trường hợp giáo sư thần học Reuchlin ở đại học Koln bên Đức. Trong khi các nhà thần học thuộc dòng Đaminh đòi tiêu hủy các sách của Do Thái Giáo, vị này chủ trương phải giữ, đặc biệt quyển Talmud. Năm 1514, đại học Koln kết án Reuchlin và xin ý kiến của đại học Paris. Phân khoa thần học, gồm nhiều giáo sư dòng Đaminh, đồng tình với bản án của đại học Koln. Vụ này được chuyển sang Rôma: Tòa Thánh cho lập một ủy ban cứu xét. Do giáo sư thần học Jacques Lefèvres d'Etaples ở Sorbonne can thiệp, ủy ban bênh vực Reuchlin. Năm 1521, Phân Khoa Thần Học Paris kết án các luận điểm của Luther. Sau khi chính thức tuyệt thông Luther năm 1521, Đức Giáo Hoàng Lêô X cũng kết án cả Reuchlin. Từ vụ này, đại học trở thành đối thủ của trào lưu Nhân Văn mà tiêu biểu ngay tại Paris là giáo sư Lefèvres.
Giáo sư Lefèvres (1460-1536) của học viện Sorbonne là một linh mục đạo hạnh. Ông chủ trương xây dựng thần học trên Kinh Thánh và các Giáo Phụ, không dừng lại ở những vấn đề thuần túy trí thức và nhiều khi chỉ là những câu chữ trống rỗng của thần học Kinh Viện. Về triết học Aristote, ông chủ trương phải đọc bản chính. Về Kinh Thánh, ông muốn tìm lại những bản càng kỳ cựu càng tốt, dịch sang tiếng phổ thông để mọi người trực tiếp đọc được Lời Chúa. Năm 1522, ông xuất bản cuốn Bình giảng bốn Tin Mừng[47], trong đó ông nêu lên 3 ý tưởng cơ bản cho việc canh tân Hội Thánh: 1) Tin Mừng là nền tảng duy nhất cho đức tin và luật lệ (không phải các tập tục, định chế hay luật lệ nhân khởi); 2) Chỉ mình Đức Kitô là đối tượng của việc phượng tự (không phải các thánh hay các nghi thức bên ngoài); 3) Chỉ mình Chúa Thánh Thần soi sáng tâm trí con người. Các chủ trương này bị Bédier kết án là theo Luther. Cuộc đối đầu giữa hai bên trong lòng đại học Paris tiêu biểu nơi hai người ấy ngày càng trở nên gay gắt hơn.
Năm 1516, nguyên viện phụ đan viện Saint-Germain des Prés, dòng Biển Đức, là Guillame Briçonnet (1472-1534), một người thân cận của vua François I, được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Meaux (cách Paris chừng 40 km về hướng đông). Muốn cải tổ giáo phận, ngài mời thầy cũ là Lefèvres về làm tổng đại diện. Nhà thông thái và chủ trương cải cách này một mặt dịch và xuất bản tập Tân Ước rồi tập Thánh Vịnh bằng tiếng Pháp, mặt khác tập họp một nhóm học trò cũ bình giảng Kinh Thánh và đi giảng, thường được mệnh danh là Nhóm Meaux. Một vài người trong nhóm hơi quá khích. Sorbonne phản ứng mạnh. Giám mục Meaux phải loại một số người cực đoan. Nhưng Sorbonne kiện lên vua. Do ảnh hưởng của chị là công chúa Marguerite, nhà vua bênh vực Nhóm Meaux. Khi nhà vua đem quân sang Ý[48] năm 1525, thái hậu Louise làm nhiếp chính. Bà cho lập một tòa án được biệt gồm 2 thụ ủy Nghị viện và 2 thụ ủy Đại học để xét xử kẻ rối đạo. Các tu sĩ dòng Thánh Phanxicô ở Meaux tố cáo Nhóm Meaux: ngày 31.8.1525, nhóm này bị kết án và đe dọa tuyệt thông. Lefèvres phải chạy sang Strasbourg lánh nạn. Từ Madrid, nhà vua cho biết là không đồng tình với bản án.
Sorbonne mạnh đến nỗi cả nhà vua cũng không cưỡng lại được. Vụ Louis Berquin là một thí dụ. Nhà vua, một phần do ảnh hưởng của công chúa Marguerite, ủng hộ trào lưu Nhân Văn, nhưng vẫn muốn giữ nguyên vẹn đức tin Công Giáo. Louis Berquin (sinh năm 1485), tiến sĩ thần học và cố vấn của vua, vì chỉ trích các nhà thần học Sorbonne nói chung và Bedier nói riêng, nên bị bắt giam, nhưng được nhà vua ra lệnh trả tự do. Năm 1526, Berquin lại bị bắt giam lần thứ hai vì dịch Kinh Thánh sang tiếng Pháp. Năm 1526, từ Madrid về nước, nhà vua ra lệnh trả tự do cho Barquin, đồng thời gọi Lefèvres về Paris. Sau vụ xúc phạm tượng Đức Mẹ năm 1528, vì dịch các tác phẩm của Erasme lúc ấy đã bị kết án, Berquin bị bắt lần thứ ba và bị thiêu sống năm 1529. Ông không được phong trào Tin Lành coi là người theo phong trào, nhưng lại bị kết án như một người theo Luther. Riêng Lefèvres phải đến Nerac nương nhờ công chúa Marguerite, một người ủng hộ trào lưu Nhân Văn đồng thời rất có ảnh hưởng trên nhà vua.
Năm 1530, vua François I cho thành lập Collège Royal de France[49], ngay trong khu Đại học, nhưng trực thuộc triều đình. Nhà vua mời các giáo sư đến dạy ban đầu tiếng Hy Lạp và tiếng Hípri, sau cả tiếng Latinh nữa. François I có thể là một người thích những điều mới, và phần nào hời hợt, nhất là sẵn sàng liên minh với các thế lực chống đối Hội Thánh nhưng có lợi cho nước Pháp. Tuy nhiên, phải công nhận ông có đầu óc cởi mở hơn các nhà thần học Sorbonne thời ấy. Với Collège Royal de France, trào lưu Nhân Văn đường đường chính chính du nhập Paris, khiến Sorbonne tố cáo các giáo sư rối đạo và mạnh mẽ phản đối. Chính thánh I-nhã cũng nghi ngại: khi Nicola Bobadilla mới chân ướt chân ráo đến Paris muốn theo các khóa học tại đó, ngài đã khuyên không nên vì dễ bị lôi kéo vào nhóm lạc giáo[50]. Có thể điều ấy chỉ dành cho trường hợp cá biệt ấy thôi, nhưng vẫn cho thấy phần nào những dè dặt trong giới đại học.
Chắc chắn thánh I-nhã biết những sự kiện trên đây, vì mọi người ở đại học Paris đều biết. Hẳn là ngài phải suy nghĩ nhiều, không những trong ngắn hạn là việc học mà cả về dài hạn là việc phục vụ Hội Thánh. Có lẽ chính trong thời gian này, ngài soạn bản quy tắc Một Lòng Một Ý Với Hội Thánh trong tập Linh Thao[51]. Dù trong bất kỳ trường hợp nào, ngài không thể tách rời khỏi Hội Thánh do Chúa Giêsu đã thiết lập. Tuy nhiên, càng ngày ngài càng ý thức rõ hơn nhu cầu canh tân Hội Thánh về nhiều mặt, có thể nói được là toàn diện. Nạn mê tín và mại thánh nhan nhản ở Tây Ban Nha, nạn xa hoa theo kiểu thế gian ở giáo triều Rôma, ngay cả cách sống hưởng thụ của đa số giáo sư thần học Sorbonne... Vấn đề là phải tìm ra một con đường cho bản thân và cho cả Hội Thánh. Thái độ cố thủ của Sorbonne chắc chắn không phải là giải pháp tối ưu, trái lại còn làm cho Hội Thánh như bị sa lầy nữa.Thánh I-nhã chọn học viện Jacobins trong bối cảnh ấy. Henri Bernard-Maitre cho biết ngài và cả các bạn chọn học viện Jacobins ở đó giảng dạy thần học của thánh Tôma được Francisco de Victoria đổi mới: như vậy ngài trung thành với truyền thống, nhưng cởi mở đối với những tư tưởng mới[52].
Tu viện Dòng Thánh Đaminh là một tòa nhà lớn màu xám, cách Sainte-Barbe khoảng 50 mét[53], lúc ấy có chừng 400 sinh viên của dòng Đaminh từ khắp nơi đến học. Học viện đã trải qua một cuộc thanh luyện quan trọng vào đầu thế kỷ. Năm 1502, vị linh hướng của vua, linh mục Jean Clérée, dòng Thánh Đaminh, đã trục xuất khoảng 200 đến 300 tu sĩ trẻ của Dòng từ khắp nơi đến Paris học. Họ kéo theo các bạn chừng 1200 người đến tấn công tu viện 2 lần, nhà vua phải cho các cung thủ bắn mới giải tán được. Trong khi ở các học viện khác, sinh viên sử dụng sách giáo khoa là các bình giảng về thánh Tôma Aquino của Pierre Lombard hay một vài tác giả khác, ở Jacobins sinh viên học theo chính bộ Tổng Luận Thần Học của ngài. Thay vì học trên ngọn thì học tận gốc. Đó cũng là chủ trương của trào lưu Nhân Văn. Nhưng trên hết, trong lúc tranh tối tranh sáng, vị thánh tiến sĩ thời danh là tiêu chuẩn bảo đảm nhất. Ngoài ra, Jacobins lúc ấy có hai giáo sư Mathieu Ory và Jean Benoit được coi là những nhà thần học sáng giá nhất tại Paris.
Tuy nhiên, thánh I-nhã không hoàn toàn chỉ theo các vị giáo sư dòng Thánh Đaminh. Bobadilla cho biết đã theo lời khuyên của thánh I-nhã theo học chẳng những với hai vị giáo sư rất thông thái là Ory và Benoit ở Jacobins, mà cả với giáo sư Pierre de Cornu ở Cordeliers, "người được tất cả các nhà thần học không tiếc lời ca ngợi"[54] Trong thư viết nhân danh thánh I-nhã và các bạn ngày 23.11.1538 gởi giáo sư Gouveía, chân phước Phêrô Favre nhắc đến các thầy dạy cũ ở Paris như J. Barthélémy, P. de Cornu, Fr. Le Picart, J. Adam, R. Wancop, T. Laurency, J. Benoit và tất cả các vị khác[55]. Các giáo sư trên đây gồm cả những người ở các học viện Navarra, Cordeliers và Sorbonne. Vậy chắc cũng như nhiều sinh viên thời ấy, ngoài các giảng khóa chính thức ở Jacobins, thánh I-nhã còn theo học một số giảng khóa với các giáo sư khác nữa.
Vững bước
Lễ Các Thánh năm 1533, lúc thánh I-nhã mới khởi sự chương trình thần học được ít lâu, bài diễn văn nhậm chức của tân viện trưởng đại học đã gây chấn động cả Paris. Ngày 10.10 trước đó, giáo sư Nicolas Kopp của học viện Sainte-Barbe, con của viên ngự y của vua François I, được bầu làm viện trưởng. Theo thông lệ, vị viện trưởng ra mắt chính thức bằng một bài diễn văn tại tu viện Mathurins. Trước đó, Sorbonne đã kết án tác phẩm Miroir de l'âme pécheresse của công chúa Marguerite là rối đạo vì chủ trương công chính hóa nhờ đức tin; ông triệu tập các nhà thần học và buộc phải rút lại bản án. Trong bài diễn văn, ông bày tỏ đồng tình với lập trường thần học về Hội Thánh được xây dựng trên Kinh Thánh và người ta được công chính hóa nhờ đức tin. Các giáo sư thần học dòng Thánh Phanxicô tố cáo với nghị viện, và ông bị triệu tập. Hội đồng giảng huấn phản đối nghị viện xâm phạm quyền tự trị của đại học, nhưng chia rẽ về quyết định kết án hay không. Dầu vậy, ngày 20.11 vị viện trưởng bỏ trốn khỏi Paris.
Người ta nghi ngờ một sinh viên tên là Jean Calvin đã soạn bài diễn văn ấy cho vị viện trưởng. Nhà cải cách Jean Ca1vin (1509-1564) là người Pháp và học tại Montaigu gần như đồng thời với thánh I-nhã[56]. Sau một thời gian học luật và thần học ở Orléans và Bourges, ông đã trở lại học viện Fortet, bên cạnh Sainte-Barbe, từ năm 1531. Vì bị cảnh sát truy lùng, ông cũng trốn khỏi Paris đến Nerac nương nhờ công chúa Marguerite. Có lẽ không phải ông đã soạn bài diễn văn cho viện trưởng Nicolas Kopp, nhưng chắc chắn tư tưởng cải cách của ông đã ảnh hưởng trực tiếp. Năm 1536, ông cho xuất bản tác phẩm Institutio Religionis Christianae bày tỏ lập trường thần học dứt khoát tách khỏi giáo lý truyền thống của Rôma, và trở thành một trong những lãnh đạo chính của phong trào Cải Cách. Điều này cho thấy giáo thuyết của phong trào này không chỉ đến Paris từ bên ngoài mà xuất phát ngay cả từ bên trong đại học.
Theo Thỏa Ước 1516 với TòaThánh, vua Pháp hầu như có toàn quyền trên Giáo Hội Pháp, một Giáo Hội gần như tự trị. Vua François I thường đăt vấn đề tôn giáo trong quyền lợi của triều đình hay của nước Pháp. Việc vua Henry VIII của Anh ly dị hoàng hậu Catalina là một thí dụ điển hình. Năm 1527, Karl V xua quân vào tàn phá Rôma và bắt Đức Giáo Hoàng Clêmentê VII làm con tin ở Napoli, vì ngài liên minh với Pháp với dụng ý đuổi quân đội của hoàng đế ra khỏi Ý[57]. Cũng năm 1527, vua Henry VIII xin Đức Giáo Hoàng tiêu hủy hôn phối với hoàng hậu Catalina. Năm 1528, Francois I cho quân đội sang Ý lấy danh nghĩa là giải thoát Đức Giáo Hoàng để dành đất. Vua Henry VIII của Anh ủng hộ quân đội Pháp mỗi tháng 32 ngàn crowns. Năm 1529, Đức Giáo Hoàng từ chối yêu cầu tiêu hủy hôn phối của vua Henry VIII. Ông hỏi ý kiến các đại học ở Châu Âu. Đa số các đại học không thuộc quyền Karl V đồng ý. Phân Khoa Thần Học Paris lúc đầy cũng đồng ý, nhưng sau đó toàn bộ ban giáo sư trong đồng thanh kết án. Để chống lại Karl V, Francois I sẵn sàng liên minh với vua Henry VIII của Anh, các lãnh Chúa Tin Lành ở Đức, và cả hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ nữa. Phải nói là Phân khoa Thần Học nhiều khi bị đặt vào tình trạng rất khó xử.
Ngày 18.10.1534 đánh dấu một thời điểm quan trọng đối với phong trào Cải Cách ở Pháp. Sáng hôm ấy, người ta thấy xuất hiện ở nhiều nơi, kể cả tại cung điện Louvre cũng như tại cửa phòng ngủ của nhà vua ở điện Blois, một tờ yết thị phủ nhận giá trị hiến tế, việc biến đổi bản thể và sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong thánh lễ, và tố cáo đó là chuyện bịa đặt của hàng giáo sĩ tham lam lợi dụng sự khờ khạo của đông đảo tín hữu[58]. Cả nước Pháp nói chung, và đại học Paris nói riêng, lên cơn sốt. Vua François I trước đây mềm dẻo nay đổi hẳn thái độ. Ông cho điều tra và bắt giam hơn 200 người tình nghi. Khoảng 25 người bị kết án và thiêu sống tại quảng trường Maubert hay quảng trường Gres. Hơn bao giờ hết, đại học Paris thật cảnh giác và phân khoa Thần Học thật khắt khe với phong trào Cải Cách.
Ở Paris có một thói quen là trong năm thứ ba triết học, muốn nhận bằng cao đẳng, phải 'lấy đá' như người ta nói và vì phải trả lệ phí 1 escudo cho việc này, nên nhiều sinh viên nghèo không thực hiện được. Kẻ hành hương phân vân chẳng biết có nên làm không. Thấy mình dùng dằng mãi không xong, kẻ ấy quyết định xin ý kiến giáo viên của mình. Ông này khuyên kẻ ấy là nên, vì thế kẻ ấy lấy. Tuy nhiên, có không ít người phê bình kẻ ấy, ít là một người Tây Ban Nha chỉ trích[59].
"Lấy đá" là gì? Tại sao thánh I-nhã phải "dùng dằng", và sau đó có người chỉ trích? Sau khi tốt nghiệp cao đẳng hay cử nhân, sinh viên muốn được cấp văn bằng phải qua một thủ tục nữa mà sinh viên gọi bằng tiếng lóng là lấy đá. Người ta không lưu giữ được nội dung chính xác của từ rất sinh viên này. Thời đó, tại đại học Coimbra ở Bồ Đào Nha, có thói quen sau đây. Muốn được lãnh bằng, ứng viên phải đến trước mặt các giám khảo. Khi các giám khảo ngồi trên ghế giáo sư, ứng viên phải ngồi trên một hòn đá trước mặt mỗi giám khảo để trả lời các câu hỏi được nêu lên. Khi trả lời xong một giám khảo, ứng viên lại đến ngồi trên một hòn đá khác trước mặt một vị giám khảo khác để tiếp tục. Ngồi trên một hòn đá trước mặt giám khảo diễn tả sự khiêm tốn của trò trước mặt thầy. Có thể ở đại học Paris cũng vậy chăng? Nhưng đó chưa phải là hết. Sinh viên còn phải tổ chức một bữa tiệc khá tốn kém để đãi các thầy và các bạn. Có nhiều sinh viên nghèo không thể lấy đá được. Các tu sĩ thường không lấy đá. Mặt khác việc lấy văn bằng có cần không hay chỉ là hư danh? Thánh I-nhã do dự, đi hỏi ý kiến giáo viên rồi quyết định lấy đá như các sinh viên bình thường khác. Có lẽ sau khi tốt nghiệp cử nhân, thánh I-nhã vẫn do dự hoặc thiếu tiền, nên mãi sau lễ Phục Sinh năm 1535 ngài mới quyết định xin lấy văn bằng[60].
Đến ngày ấn định, được phụ khảo Pena, đại diện khối dân Pháp và các bạn tháp tùng, thánh I-nhã mặc áo thụng đen, đến trường của khối dân Pháp, dạy bài ra mắt[61], do phụ khảo chủ tọa. Sau tiết dạy, người chủ tọa hỏi tất cả các cử nhân giáo khoa hiện diện có đồng ý trao mũ cho ngài không. Mọi người đồng thanh chấp thuận (chỉ là nghi thức). Phụ khảo đọc một bài huấn từ, rồi long trọng đội cho ngài chiếc mũ vuông 4 múi, biểu hiệu tước vị mới của ngài. Với nghi thức ấy, ngài được đón nhận vào ban giảng huấn của đại học, và có dạy học ở Paris hay bất cứ nơi nào khác. Văn bằng cử nhân giáo khoa[62] của ngài được ký ngày 14.3.1535 nhân Đại hội Đại học họp tại nhà nguyện tu viện Mathurins: ngài chính thức được gọi là Magister Ignatius de Loyola[63].
Tại sao thánh I-nhã quyết định lấy văn bằng? Chắc chắn ngài muốn sống nghèo và thực tế lúc ấy gặp khó khăn về tài chánh. Trong thư ngày 13.6.1533 gởi bà Inés Pascual, ngài viết: "Mùa Chay này tôi đã lấy bằng cử nhân giáo khoa (thực ra là cử nhân); vì thế phải tiêu pha trong những điều không sao tránh được, hơn địa vị và túi tiền của tôi, nên thiếu hụt quá. Tôi rất cần được Thiên Chúa giúp"[64]. Và hẳn là ngài không muốn vênh vang với mảnh bằng. Sau này ngài xin các cha dòng Thánh Đaminh ở học viện Jacobins cho giấy chứng nhận đã học 2 năm thần học. Ngài cũng xin vị thanh tra giáo lý ở Paris ký giấy chứng nhận ngài không sai phạm gì về giáo lý... Nói chung là với kinh nghiệm ở Tây Ban Nha, nơi ngài từng bị giáo quyền cấm làm việc tông đồ vì chưa học hành đầy đủ, ngài thấy cần có giấy chứng nhận để được tự do làm việc tông đồ, không chỉ ngay lúc ấy tại Paris mà cả về lâu về dài ở khắp nơi.
Theo Laínez, về việc học, mặc dầu gặp khó khăn hơn bất kỳ ai lúc ấy, và cũng tiến tới hơn bất kỳ ai lúc ấy, ngài đã chuyên cần bằng hay hơn những người đương thời, nên đã có kết quả tốt, như ngài cho thấy trong các câu trả lời công khai và trong các bài tập ngài làm trong thời gian học[65]. Đâu là những khó khăn ngài phải vượt qua? Theo Nadal, ngài gặp 3 trở ngại. Trước hết là ngài sống hết sức nghèo khó... Thứ đến là sức khỏe của ngài không tốt: ngài bị đau dạ dày vì đã làm việc đền tội... Cuối cùng là ngài ham thích cầu nguyện nên nhiều khi thiếu sót trong việc học[66]. Tuy nhiên, ngài đã vượt qua tất cả. Theo Polanco, ngài học hành nghiêm chỉnh... vào mùa đông hầu như mỗi ngày đều đến tu viện Đaminh trước khi mặt trời mọc để theo các tiết học dành riêng cho các tu sĩ[67]. Theo Nadal, một vị tiến sĩ, và là một nhân vật thế giá, rất cảm phục cha I-nhã, cho biết ông chưa thấy ai nói về các vấn đề thần học một cách thông thạo và nghiêm chỉnh như vậy[68].
Hoạt động tông đồ
Sau này, Jerónimo Nadal, một cựu sinh viên Paris và một trong những môn đệ thuộc thế hệ đầu tiên của thánh I-nhã, cho rằng các nhà thần học Paris đáng trách cả về quan điểm cũng như về đời sống. Về quan điểm: chủ trương Pháp giáo, một Giáo Hội Pháp gần như biệt lập với nhiều đặc ân; tự coi mình như bất khả ngộ về giáo lý; có lúc phê chuẩn việc vua Henry VIII ly dị. Về đời sống: thường xuyên tiệc tùng và rượu chè, nhưng lại lười biếng làm việc tông đồ, vì có hơn 100 nhà thần học, nhưng chỉ vài người đi giảng hay ban các bí tích[69]. Có lẽ thánh I-nhã biết rõ tất cả những điều ấy. Mặc dầu vậy, ngài không chỉ trích ai hết. Ngoài các sinh hoạt của đại học, ngài cầu nguyện và gặp gỡ người này người khác để giúp đỡ họ và nếu được thì liên kết với nhau để cùng phục vụ Hội Thánh.
Trước hết là các sinh hoạt của đại học. Theo quy định, ba tháng một lần đại học bầu viện trưởng mới. Trong buổi lễ ra mắt, luôn luôn có một cuộc rước và đa số sinh viên tham dự. Lúc ấy hay có những cuộc rước kiệu Thánh Thể, Đức Mẹ hay các thánh, chắc cứ bình thường thì ngài tham dự. Thỉnh thoảng có các cuộc đón rước vua hay hoàng hậu, chẳng hạn vua Francois I được tha từ Tây Ban Nha về nước, đám cưới của nhà vua với hoàng hậu Leonor... Cả những vụ xử tử, đặc biệt những cuộc thiêu sống những người bị kết tội lạc giáo ở quảng trường Maubert, với tư cách sinh viên, nhiều lần ngài buộc phải tham dự.
Có lẽ nhà thờ nào ở Paris thời ấy cũng có dấu chân của thánh I-nhã. Đừng tưởng ngài suốt ngày chỉ ngồi trong phòng để đọc sách. Chắc chắn những nơi được coi là mang dấu tích của Chúa Giêsu, chẳng hạn La Sainte-Chapelle[70], nơi có một số di tích về cuộc Thương Khó, đặc biệt mạo gai của Chúa Giêsu, thu hút ngài. Tuy nhiên, đó là nhà nguyện của vua, chỉ thỉnh thoảng dân thường như ngài mới được vào. Bình thường ngài thích đến những nơi thanh vắng và yên tĩnh để cầu nguyện. Ba địa điểm ngài hay lui tới nhất là đan viện Vauvert dòng Chartreux[71], nhà nguyện dưới hầm đan viện Notre-Dame des Champs[72], nhà nguyện dưới hầm ở đồi Montmartre[73]. Mỗi sáng Chúa nhật, ngài thường rủ một số sinh viên đến đan viện Vauvert xưng tội và dự lễ. Như vậy, ngài và họ bỏ một buổi thảo luận ơ học viện. Phụ khảo Pena than phiền với hiệu trưởng Gouveía. Ông này dự tính phạt ngài bằng trận đòn công khai[74]. Được tin, ngài đến gặp hiệu trưởng để trình bày. Kết quả, ông không phạt ngài mà cho thay đổi giờ thảo luận để các sinh viên được tự do đi xưng tội và dự lễ.
Hình như ngài giữ thói quen lúc còn ở Tây Ban Nha là thường xuyên thăm viếng người bệnh.
Trong thời gian học hành này, kẻ ấy không bị tấn công như trước kia. Về việc này, tiến sĩ Frago một hôm nói với kẻ ấy là ông ngạc nhiên thấy kẻ ấy được yên ổn, không bị ai làm phiền. Kẻ ấy đáp : "Đơn giản là vì tôi không nói chuyện với ai về những điều thuộc về Thiên Chúa, nhưng khi học xong, tôi sẽ bắt đầu lại như trước kia." Hai người đang nói chuyện với nhau thì có một tu sĩ đến xin tiến sĩ Frago tìm giúp một chỗ trọ, vì chỗ người ấy ở đang có nhiều người chết, người ta cho là do dịch hạch. Đúng là dịch hạch đã bắt đầu hoành hành ở Paris rồi. Tiến sĩ Frago và kẻ hành hương muốn đi xem nhà. Họ dẫn theo một phụ nữ am hiểu vấn đề. Bà này vào nhà và xác nhận đúng là dịch hạch. Kẻ hành hương cũng muốn vào xem người bệnh, vừa an ủi vừa đặt tay vào vết thương của người ấy. Sau khi an ủi và khuyên bảo người bệnh, kẻ ấy ra về một mình. Kẻ ấy bắt đầu cảm thấy đau ở bàn tay, và có cảm tưởng như mình bị dịch hạch. Điều tưởng tượng ấy mạnh đến nỗi không sao xua đuổi được, cho đến khi kẻ ấy thọc bàn tay vào miệng, xoay qua xoay lại mà nói: "Đã bị dịch hạch ở tay thì cho bị ở miệng luôn!" Ngay sau đó, điều tưởng tượng kia và cả việc đau tay nữa cùng biến mất. Nhưng khi về lại học viện Sainte-Barbe, nơi kẻ ấy ăn học, những người trong học viện biết là kẻ ấy đã vào nhà người nhiễm dịch hạch, nên chạy trốn và không chịu cho kẻ ấy vào. Kẻ ấy buộc lòng phải ở bên ngoài mấy ngày[75].
Cơn dịch hạch thánh I-nhã đề cập ở đây khởi sự tại Paris năm 1531, nhưng đạt tới cao điểm vào tháng 8 năm 1533. Ở Paris lúc ấy có một khu điều trị bệnh phong gần đan viện Saint-Germain-des-Prés[76], ngài thỉnh thoảng đến thăm người bệnh. Bệnh dịch và bệnh phong là hai thứ bệnh được coi là đáng sợ nhất thời ấy.
Vào những năm cuối thời gian ở Paris, thánh I-nhã đã nói thông thạo tiếng Pháp[77], nên ngài làm việc tông đồ dễ dàng hơn. Ngài thường gặp gỡ riêng để nói chuyện về đời sống thiêng liêng với những người có vấn đề về giáo lý hay luân lý. Một số người rối đạo: ngài dẫn đến gặp vị thanh tra giáo lý để hòa giải. Một người có liên hệ bất chính với một phụ nữ: ngài xuống ao giữa lúc trời băng giá để ngăn cản[78]. Một linh mục bất xứng: ngài đến xưng tội, rồi giúp vị ấy tập Linh Thao[79]. Một trí thức trẻ sống nghiêm túc nhưng chưa sốt sắng: ngài giúp tập Linh Thao[80].
Đặc biệt ngài hướng dẫn Linh Thao cho một số giáo sư, chẳng hạn Pedro de Valle hay Marcial Mazurier, và cả một cựu viện trưởng đại học Paris, Alvaro de Moscoso[81]. Riêng giáo sư Mazurier vừa ngạc nhiên vừa khâm phục: ngài chưa học thần học, nhưng có kiến thức về thần học và hiểu biết về đời sống thiêng liêng hơn ông, nên ông nghĩ ngài xứng đáng được cấp bằng tiến sĩ thần học[82].
Ở Tây Ban Nha, chủ yếu thánh I-nhã làm việc tông đồ bằng việc dạy giáo lý và cầu nguyện với những người ít học, đặc biệt là các phụ nữ đạo đức. Đến Paris, ngài làm việc tông đồ với giới trí thức, trong số đó có nhiều người phóng túng, không chỉ qua gặp gỡ riêng, nhưng hướng dẫn Linh Thao thường là một tháng. Hẳn là chúng ta phải thắc mắc: tại sao ngài có được sức thu hút như vậy? Hiệu trưởng Sainte-Barbe gọi ngài là "Người lôi cuốn sinh viên". Và như chúng ta thấy, không chỉ sinh viên mà cả giáo sư nữa.
Xét về bên ngoài, chắc chắn ngài không có gì thu hút đặc biệt: vóc dáng thấp bé, chân đi khập khiễng, ăn mặc xềnh xoàng, nếp sống khắc khổ, không có tài hùng biện, không phải là linh mục hay tu sĩ, lớn tuổi nhưng học sau những người trẻ hơn và không phải là xuất chúng… Có thể ngài có tài nói chuyện khi gặp gỡ riêng: phong cách quý tộc, ngôn từ lịch thiệp, lời lẽ chín chắn và khôn ngoan. Tuy nhiên, chắc chắn bấy nhiêu chưa đủ và không phải là quan trọng nhất.
Thánh I-nhã sống giữa một môi trường vừa rất thuận lợi vừa rất khó khăn cho hoạt động tông đồ. Thuận lợi: vì hầu hết còn trẻ và có học, nên thường các sinh viên cởi mở và đầy nhiệt huyết. Không ít khó khăn: ngài thua kém các giáo sư và cả các sinh viên về nhiều mặt; đối với những người muốn trung thành với Hội Thánh, đôi khi ngài bị nghi ngờ là rối đạo; đối với đa số coi học vấn là con đường dẫn đến vinh hoa phú quý, ngài bị coi là viển vông, thiếu thực tế. Không gì khó hơn thay đổi một cách suy nghĩ và một nếp sống đã trở thành gần như đương nhiên trong xã hội. Đương nhiên không phải lúc nào ngài cũng thành công. Tuy nhiên, mặc dầu chỉ dành ít thời gian cho việc tông đồ, những hoa trái ngài thu lượm được thật là đáng cảm phục.
Những người bạn trong Chúa
Có lẽ qua việc quy tụ một số sinh viên mà ngài gọi là "những người bạn trong Chúa", chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sức và cách thu hút của ngài.
Lúc mới hoán cải, thánh I-nhã chỉ nghĩ đến vào dòng Chartreux hay sống một mình phần nào như ẩn sĩ để được tự do hãm nhận đền tội. Khi ngài bắt đầu đi học tại Barcelona, có ba thanh niên muốn chia sẻ cách sống của ngài, mặc dầu hình như ngài không có ý chiêu dụ. Đến Alcalá thêm người thứ tư, và thế là một nhóm các bạn cùng chí hướng thực sự thành hình. Qua cuộc khủng hoảng Salamanca, nhóm đứng vững. Nhưng khi ngài đi Paris, nhóm ấy tan rã nhanh chóng.
Như họ đã thỏa thuận trước, từ Paris, kẻ hành hương thường xuyên viết thư cho họ về việc khó đem họ đến Paris học được. Kẻ ấy có viết thư cho Dona Leonor Mascarenhas, xin bà viết thư cho triều đình vua Bồ Đào Nha để xin một suất học bổng tại Paris do nhà vua ban. Bà có gởi thư cho Calixto, tặng một con la để đi đường và tiền để chi tiêu. Calixto đến triều đình Bồ Đào Nha, nhưng cuối cùng không đi Paris. Anh ấy về lại Tây Ban Nha rồi đến Ấn Độ của hoàng đế[83] cùng với một phụ nữ đạo đức. Sau đó, anh về lại Tây Ban Nha, rồi đi Ấn độ nữa. Cuối cùng, anh ấy quay về Tây Ban Nha, lần này đã giàu có, làm cho mọi người từng quen biết anh ấy ở Salamanca trước kia đều ngạc nhiên. Caceres về quê ở Segovia sống như thể đã quên mất ý định ban đầu. Arteaga được phong làm nghĩa sĩ[84]. Sau đó, khi Dòng Tên đã được thành lập ở Rôma, anh ấy được đề cử làm giám mục ở Ấn Độ[85]. Anh ấy viết thư cho kẻ hành hương để nhường chức vụ ấy cho một anh em trong Dòng. Khi kẻ ấy từ chối, anh ấy thụ phong giám mục, rồi sang Ấn Độ của hoàng đế, nhưng chết trong hoàn cảnh khá lạ thường. Lúc bị bệnh, anh ấy có hai chai để đựng nước giải khát, một chai nước do thầy thuốc chỉ định, chai kia đựng nước có chất độc. Người ta cho anh ấy uống lộn chai có chất độc, thế là anh ấy chết[86].
Khi đi Paris, chẳng những ngài mong muốn duy trì nhóm bạn cũ mà còn muốn mở rộng thêm nữa. Có thể 3 người trẻ tập Linh Thao năm 1529 là một cố gắng của ngài trong chiều hướng ấy. Tuy nhiên, nhóm sau còn tan rã may hơn nhóm trước nữa. Phải làm gì? Chắc chắn ngài tự hỏi như vậy. Có lẽ ban đầu ngài nghĩ mọi sự đều đơn giản và dễ dàng. Nhóm thứ nhất gồm 4 thanh niên vừa ít tuổi vừa ít học, chưa chín chắn về ơn gọi. Nhóm thứ hai gồm 3 người lớn tuổi hơn và có học hơn, nhưng vội vàng quá. Họ nhiệt thành, nhưng khá bồng bột. Rút kinh nghiệm, ngài thấy phải kiên nhẫn hơn: cần tuyển chọn kỹ lưỡng hơn và huấn luyện đầy đủ hơn.
Hai người bạn đầu tiên trong nhóm bạn Paris chính là hai sinh viên ở chung phòng với ngài tại học viện Sainte-Barbe: Pierre Favre và Francisco Javier.
"Tạ ơn Chúa Quan Phòng đến muôn đời vì Người an bài để tôi gặp con người thánh thiện ấy[87] vì ích lợi và phần rỗi của tôi: chính Người đã sắp xếp để ban đầu tôi dạy ngài, qua đó chúng tôi thiết lập mối liên hệ khởi sự chỉ là bên ngoài, dần dần nội tâm hơn, sau đó hai người trở nên thân thiết: ở cùng phòng, ăn cùng bàn, tiêu cùng quỹ. Cuối cùng ngài trở thành thầy dạy tôi về đời sống thiêng liêng. Ngài dạy tôi quy tắc và phương pháp để nhận biết thánh ý Thiên Chúa. Chúng tôi từ hai đã trở thành một trong ước nguyện và ý chí, với quyết tâm chọn cách sống hiện nay của chúng tôi, tức là của tất cả các thành viên hiện tại và tương lai của Dòng mà tôi thấy mình không xứng đáng làm thành viên."[88]
Trên đây là lời của chân phước Phêrô Favre, như chúng ta quen gọi ngày nay. Ngài sinh năm 1506 tại xứ Savoie, miền đông nam nước Pháp hiện nay, và đến Paris học từ năm 1525. Năm 1529, khi thánh I-nhã đến Sainte-Barbe để bắt đầu học triết, chân phước Favre bước vào năm học cuối của giai đoạn triết. Phụ khảo Pena nhờ ngài giúp thánh I-nhã đọc các bản văn Hilạp. Cha mẹ ngài là nông dân nghèo. Tâm hồn trong trắng như một thiên thần và rất ngoan đạo, nhưng ngài hay bối rối cả về một vài tội lỗi lúc còn nhỏ cũng như về cuộc sống tương lai. Chừng cuối năm 1531, ngài quyết định theo cách sống của thánh I-nhã. Ngài là người đầu tiên trong nhóm những người bạn trong Chúa của thánh I-nhã. Đầu năm 1534, ngài tập Linh Thao 30 ngày do thánh I-nhã hướng dẫn. Kế đến, ngài thụ phong linh mục vào tháng 7.
Trường hợp của thánh Phanxicô Xavier khó hơn. Cũng như chân phước Phêrô Favre, ngài sinh năm 1506 và đến Paris học tại Sainte-Barbe từ năm 1525. Tuy nhiên, hai người khác nhau rất nhiều. Thánh Phanxicô Xavier thuộc dòng dõi quý tộc Navarra; cha ngài từng là chủ tịch Hội Đồng Hoàng Triều của vương quốc. Khi vua Fernando Công Giáo xâm lăng rồi sát nhập Navarra vào Tây Ban Nha, cha ngài chạy theo vua sang Pháp rồi chẳng bao lâu sau qua đời. Khi quân đội Pháp công hãm Pamplona năm 1521, thánh I-nhã ở trong pháo đài, còn hai anh của thánh Phanxicô Xavier chiến đấu bên cạnh quân Pháp ở bên ngoài. Khi quân Tây Ban Nha tái chiếm Pamplona, lâu đài Javier của gia đình ngài bị phá huỷ gần hết. Đặc biệt ngài đến Paris học với ước mong sau này hưởng vinh hoa phú quý. Tại Sainte-Barbe, ngài và chân phước Phêrô Favre ở chung một phòng, học chung một thầy, nên hai người mau chóng trở thành bạn. Nhưng khi thánh I-nhã đến ở chung phòng, hẳn là thánh Phanxicô Xavier không dễ dàng và mau chóng trở thành bạn được. Thực ra hai người chỉ ở chung phòng trong năm học 1529-1530, vì từ tháng 10.1530, thánh Phanxicô Xavier làm phụ khảo tại học viện Beauvais, nên phải đến ở đó.
Thánh I-nhã đã chinh phục thánh Phanxicô Xavier thế nào? Chúng ta thường nghĩ thánh I-nhã chỉ cần nhắc đi nhắc lại với thánh Phanxicô Xavier một lời nói của Chúa Giêsu, "Được cả thế gian mà mất sự sống mình thì được ích gì?" Thực ra đó là cách giải thích của Oratio Torselini, người đầu tiên viết tiểu sử thánh Phanxicô Xavier[89]. Nói cho đúng thì chúng ta không có một chứng từ nào của thánh I-nhã, của thánh Phanxicô Xavier hay các chứng nhân trực tiếp. Torselini cũng không nên lên một chứng từ nào. Tác giả này viết tiểu sử theo quan điểm của thời ấy: nhiều điều chỉ do suy đoán. Sau này, từ Châu Á viết thư về Châu Âu, nhiều lần thánh Phanxicô Xavier trích câu nói của Chúa Giêsu: "Được cả thế gian mà mất sự sống mình thì được ích gì." Có lẽ vì thế Torselini nghĩ rằng lời ấy đã do thánh I-nhã nói với ngài trước. Nhưng chắc sự thật không đơn giản như vậy.
Năm 1531, thánh Phanxicô Xavier viết thư về gia đình xin giấy chứng nhận thuộc dòng dõi quý tộc. Lúc ấy ngài ở học viện Beauvais và chắc thánh I-nhã chưa chinh phục được ngài. Theo Georg Schurhammer, diễn tiến khá phức tạp và lâu dài[90]. Thánh Phanxicô Xavier lúc ấy túng thiếu, phải sống nhờ đóng góp của sinh viên và cả trợ cấp của gia đình. Muốn sống như một nhà quý tộc, ngài còn thuê một sinh viên giúp việc, nên phải nuôi ăn và trả lương. Ngoài ra hình như vì nghi ngờ ngài theo nhóm rối đạo, anh ngài cắt trợ cấp. Do đó, ngài "lúc nào cũng thiếu trước hụt sau"[91], "thiếu thốn và khổ cực", "cùng cực và khốn khổ"[92]. Thánh I-nhã làm gì? Chắc chắn trong thời gian sống cùng phòng, hai người thường xuyên gặp nhau và chắc thánh I-nhã có dịp nói chuyện về đời sống thiêng liêng và tông đồ với ngài. Tuy nhiên, ngài "liên tiếp cự lại lời kêu gọi của thánh I-nhã và từ chối suy xét về những điều thánh I-nhã gợi lên"[93]. Chính thánh Phanxicô Xavier cho biết thánh I-nhã đã giúp đỡ ngài thế nào: "Chúa đã ban ân huệ lớn lao khi cho em được biết ngài Inigo. Qua thư này, em muốn nhìn nhận là bao lâu còn sống, không bao giờ em trả được món nợ cho ngài, chẳng những vì ngài đã thường xuyên giúp em về tiền bạc hay qua bạn bè, khi em thiếu thốn, mà còn đã là động cơ thúc đẩy em bỏ một số bạn xấu mà do thiếu kinh nghiệm, lúc ấy em chưa nhận ra. Hiện nay, các lạc giáo đã tràn ngập Paris, nhưng cho dù được cả thế giới này em cũng không thèm theo họ. Riêng về điểm này thôi, em chưa biết chừng nào mới trả ơn cho ngài Inigo được, chính ngài đã giúp em không chuyện trò hoặc liên lạc gì với những người bề ngoài xem ra tốt lành, nhưng bên trong đầy lầm lạc, như công việc của họ cho thấy.[94]" Như vậy, thánh I-nhã giúp cả về vật chất khi ngài thiếu thốn, và đặc biệt giúp ngài tránh được những người rối đạo. Theo Polanco, thánh I-nhã cũng giúp ngài bằng cách giới thiệu với các sinh viên để học với ngài[95]. Theo Schurhammer, ngài quyết định theo thánh I-nhã khoảng giữa tháng 12.1532 và tháng 6.1533. Theo Edmond Auger, Polanco cho biết ngài là nắm bột thô nhất thánh I-nhã phải nhào nắn[96]. Sau khi quyết tâm theo thánh I-nhã, ngài không cần đến giấy chứng nhận quý tộc nữa, cũng không cần đến sinh viên giúp việc nữa. Sinh viên này tên là Miguel Landivar, một phần vì mất nơi nương tựa, một phần vì cho là chủ mình bị thánh I-nhã mê hoặc, nên một hôm định ám sát thánh I-nhã, nhưng anh bị ngài thuyết phục, ít là trong một thời gian[97].
Qua hai thí dụ tiêu biểu trên đây, chúng ta có thể rút ra một số kết luận về sức và cách thu hút của thánh I-nhã. Trước hết phải kể đến đời sống thánh thiện của ngài. Chân phước Phêrô Favre gọi ngài là con người thánh thiện. Thánh Phanxicô Xavier gọi ngài là "con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách được"[98]. Đó là sức mạnh chính yếu của ngài, trong khi thường đó là điểm yếu của các giáo sĩ, các tu sĩ và các giáo sư đương thời. Sau này, Simon Rodriges, Alfonso Salmeron và Bobadilla cũng cho biết như vậy. Thứ đến, ngài là một thiên tài về nhận định, nhờ kinh nghiệm thiêng liêng và có lẽ phải nói đến một ân sủng đặc biệt. Ngài giúp chân phước Phêrô Favre thoát khỏi bối rối cũng như nhận ra ý Chúa về bậc sống. Ngài giúp thánh Phanxicô Xavier tránh các bạn xấu, tức là nhóm lạc giáo. Lòng nhiệt thành tông đồ của ngài chắc chắn cũng đã thu hút những trái tim quảng đại: trong khi người ta thường học hành để tìm vinh hoa phú quý, ngài học để giúp đỡ các linh hồn. Trung thành với Hội Thánh, nhưng ngài có cái nhìn cởi mở và tích cực chứ không như một kẻ nô lệ mù quáng: có lẽ đó cũng là điều thu hút những thanh niên ngoan đạo và có học. Đối với mỗi trường hợp cụ thể, ngài theo một cách tiếp cận riêng, thích ứng với từng người: với chân phước Phêrô Favre khác, với thánh Phanxicô Xavier khác. Chắc chắn phải kể đến vai trò cốt lõi của Linh Thao: mỗi người được ngài dẫn đến gặp gỡ trực tiếp Chúa Giêsu để trở nên bạn và cộng tác viên của Đấng Cứu Thế. Cuối cùng hình như ngài đề nghị với họ cùng nhau đi tìm ý Chúa, trong một cái nhìn thật rộng và thật xa, chứ không chỉ dán mắt vào những vấn đề trước mắt. Dầu vậy, ngài rất thực tế chứ không viển vông: giúp người khác cả về vật chất lẫn tinh thần. Có lẽ ngài sống âm thầm và khiêm tốn, ít ai biết đến, nhưng ai tiếp xúc thân mật với ngài, nhất là tiếp xúc nhiều, sẽ bị ngài thu hút, khó lòng cưỡng lại mãi được.
Sau chân phước Phêrô Favre và thánh Phanxicô Xavier đến lượt 4 sinh viên khác.
Simão Rodrigues sinh năm 1509 tại Vouzela, miền bắc Bồ Đào Nha, trong một gia đình quí phái và giàu có. Ngài lớn lên tại kinh thành Lisbõa dưới sự coi sóc của vị niên trưởng tuyên uý hoàng gia. Ngài đến Paris học năm 1527, có lẽ được hưởng một trong 50 suất học bổng vua João III cấp. Ngài chia sẻ: “Tôi được từ trên cao thúc giục chuyển cách sống trước đây của tôi thành một của lễ hoàn hảo dâng lên Thiên Chúa. Chưa bao giờ tôi trao đổi với cha I-nhã trước, nhưng cha rất nổi tiếng là thánh thiện, nên khi được biết, tôi bày tỏ với cha các tâm tư thầm kín. Trước đó, tôi không hề biết dự định của ba bạn kia sẽ đi Giêrusalem và dâng hiến đời mình để cứu giúp các linh hồn.[99]” Như vậy, chính ngài đã có sáng kiến đến với thánh I-nhã, chứ không phải do thánh I-nhã tìm cách chinh phục.Trong cuốn Dòng Tên Khai Sinh và Phát Triển, cha Rodrigues kể tên các bạn theo thứ tự vào nhóm, và đặt tên mình ngay sau thánh Phanxicô Xavier. Trong cuốn Hạnh Thánh I-nhã, cha Polanco lại đặt ngài ở vị trí cuối. Có lẽ vì sau này ngài gây nhiều rắc rối trong Dòng nên bị cha Polanco coi như người chót hết. Khi ngài nói ‘ba bạn kia’, có lẽ chỉ thánh I-nhã, chân phước Phêrô Favre và thánh Phanxicô Xavier. Sau này, về cuối đời, ngài sẽ gây không ít khó khăn cho thánh I-nhã.
Diego Lainez và Alfonso Salmeron. Hai người gặp nhau năm 1526 tại đại học Alcalá, miền trung Tây Ban Nha, lúc thánh I-nhã cũng học tại đó, và trở thành một ‘cặp bài trùng’. Diego Lainez sinh năm 1512 tại Almazan, miền trung Tây Ban Nha. Gia đình ngài thuộc hàng danh giá và khá giả gốc Do Thái. Ngài có dáng dấp nhỏ bé và yếu ớt, nhưng rất thông minh, nhạy bén, cần cù, lịch thiệp và dễ mến. Alfonso Salmeron sinh năm 1515 tại Toledo, miền trung Tây Ban Nha, trong một gia đình nghèo nhưng hiếu học. Ngài là thành viên trẻ nhất trong nhóm, có dáng dấp vừa phải, rất khỏe mạnh và rất vui tính. Có người cho rằng cả hai đi Paris để gặp lại thánh I-nhã, vì lúc còn ở Alcalá, ngài đã nổi tiếng là thánh thiện. Ngược lại, cũng có người cho rằng hai người đi Paris để đào sâu triết học và thần học, rồi bất ngờ may mắn gặp lại thánh I-nhã ngay trong ngày đầu tiên. Dầu sao, chắc chắn cả hai đã gặp thánh I-nhã ngay trong những ngày đầu tiên ở Paris, năm 1533, sau đó được ngài hướng dẫn và giúp đỡ ‘cả về vật chất’. Chúng ta không biết quyết định theo thánh I-nhã là quyết định riêng mỗi người hay cả hai đã bàn bạc rồi đi đến quyết định chung. Sau này, cha Laínez sẽ là nhà thần học nổi bật tại Công đồng Trento và Bề Trên Cả thứ hai của Dòng Tên, còn cha Salmeron sẽ là một tông đồ xuất sắc trong nhiều lãnh vực.
Nicolas Babadilla sinh năm 1509 tại Bobadilla, miền bắc Tây Ban Nha. Chúng ta không biết tên thật của ngài là gì, vì ngài luôn luôn được người khác lấy sinh quán làm tên để gọi. Là con gia đình nghèo, ngài đã cố gắng học hết đại học tại Alcalá, rồi đi dạy học. Vì muốn học thêm tiếng Latinh, tiếng Hilạp và tiếng Hipri, ngài đến Paris trễ nhất là mùa thu năm 1533. Ngài gặp thánh I-nhã và nhóm bạn khoảng đầu năm 1534, và theo lời khuyên của thánh I-nhã thay vì đi học ngôn ngữ thì học thần học. Sau này, ngài là một thành viên phản kháng nổi tiếng trong Dòng Tên, nhưng là một tông đồ nhiệt thành không biết mệt mỏi. Ngài cũng sẽ là người cuối cùng trong nhóm qua đời (năm 1590).
Cũng phải kể đến trường hợp ngài tạm thời thất bại với Jerónimo Nadal. Nadal sinh năm 1507 tại Palma trên đảo Mallorca, đã học ở Alcalá và biết thánh I-nhã ở đó. Sau đó đến Paris học thần học. Một ngày đầu năm 1535, thánh I-nhã gặp Nadal ở xóm Saint-Jacques, ngoại ô Paris thời ấy. Hai người hỏi thăm nhau. Nadal cho biết vừa mới bệnh nặng, tưởng chết, nên sợ. Thánh I-nhã:
- Tội nghiệp! Sao lại sợ?
- Chẳng lẽ anh không sợ chết sao? Chúa Giêsu cũng sợ mà!
- Từ 15 năm rồi, tôi không sợ chết nữa.
Sau đó, Laínez rồi Favre đến gặp Nadal, hình như theo ý thánh I-nhã, có ý mời gia nhập nhóm. Cả cha Miona, linh hướng của thánh I-nhã đồng thời là linh hướng của Nadal, cũng khuyên Nadal theo thánh I-nhã, nhưng Nadal hỏi ngược lại: "Cha không theo, tại sao lại muốn con theo?"[100] Một hôm thánh I-nhã dẫn Nadal đến một nhà nguyện nhỏ trước cửa tu viện dòng Đaminh. Đến gần giếng rửa tội, ngài đọc cho Nadal nghe thư ngài viết cho một người cháu về "đời sống hoàn thiện và xa lánh thế gian". Ra đến cửa nhà nguyện, Nadal giơ cuốn Tân Ước cầm trong tay và nói với thánh I-nhã: " Sách mà tôi muốn theo là cuốn này; còn các anh, tôi không biết sẽ đi đến đâu. Đừng nói với tôi thêm về những điều ấy nữa. Để mặc cho tôi yên."[101]
Chúng ta thấy rõ là thánh I-nhã tìm đủ mọi cách để chinh phục Nadal, nhưng lúc ấy chưa thành công ngay. Một điểm nữa chúng ta cũng thấy được là vai trò của những người bạn: một khi trở nên bạn của thánh I-nhã, họ muốn người khác cũng trở thành bạn của ngài. Có thể chân phước Phêrô Favre đã đóng một vai trò khá quan trọng đối với trường hợp thánh Phanxicô Xavier, và nhất là 3 trường hợp sau khi thánh I-nhã rời Paris.
Thánh I-nhã không hề kêu gọi lập một nhóm, rồi mời người này người kia gia nhập. Ngài thu phục từng người riêng rẽ và tiếp tục đều đặn gặp gỡ riêng từng người. Mỗi sáng Chúa Nhật, ngài và các bạn đến đan viện Vauvert để xưng tội và dự lễ. Sau đó, họ gặp gỡ và trao đổi. Dần dần, có người bỏ, có người giữ, đặc biệt 6 người trên đây gắn bó với ngài. Khoảng Mùa Chay năm 1534, ngài và 6 người bạn cùng chí hướng liên kết với nhau thành một nhóm. Lần lượt từng người tập Linh Thao một tháng do thánh I-nhã hướng dẫn, khởi đầu là chân phước Phêrô Favre vào tháng 1 và kết thúc với thánh Phanxicô Xavier vào tháng 9. Kết quả tất cả đều muốn theo Đức Kitô trong thanh bần và tận hiến để phục vụ Thiên Chúa. Chắc chắn liên tục trong mấy tháng, đặc biệt những ngày mùa hè được nghỉ học, họ trao đổi với nhau về Hội Thánh, về tương lai…[102]. Dần dần một dự tính chung thành hình: tất cả sẽ làm linh mục[103] và đi hành hương Giêrusalem. Quyết tâm và dự tính ấy được diễn tả qua lời khấn tại Montmartre ngày 15.8.1534.
Một dự phóng
Thánh I-nhã cho biết:
Ngay từ thời gian ấy, tất cả đã quyết định phải làm gì: đi Venezia và Giêrusalem, để xả thân mưu ích cho các linh hồn. Nếu không được phép ở lại Giêrusalem, họ sẽ trở về Rôma, đến trình diện vị Đại Diện Đức Kitô, để ngài sử dụng họ ở đâu ngài xét là sẽ tôn vinh Thiên Chúa hơn và mưu ích cho các linh hồn hơn. Họ cũng sẽ quyết định sẽ chờ tàu thủy ở Venezia một năm. Nếu trong năm ấy không có tàu đi Phương Đông, họ sẽ không bị ràng buộc với lời khấn đi Giêrusalem nữa, và sẽ đến trình diện Đức Giáo Hoàng, v.v...[104]
Ngài không đả động gì đến lời khấn Montmartre ngày 15.8.1534.
Chân phước Phêrô Favre viết vào năm 1542: "Vào ngày lễ Đức Mẹ tháng 8 năm ấy, sau khi đã hợp nhất do cùng một quyết tâm và được đào luyện trong Linh Thao (trừ Phanxicô chưa tập, mặc dầu cùng chia sẻ quyết tâm chung), chúng tôi đến nhà thờ Đức Mẹ Montmartre, gần Paris, mỗi người tuyên khấn đi Giêrusalem vào ngày sẽ được ấn định, và khi trở về sẽ tuân phục Đức Giáo Hoàng, và mỗi người cũng khấn vào thời gian được ấn định sẽ rời bỏ cha mẹ và chài lưới, chỉ giữ một ít tiền để đi đường…"[105]
Cha Diego Laínez viết vào năm 1547: "Vì tại Paris, không có ý định thành lập một dòng tu, nhưng muốn hiến thân sống thanh bần để phục vụ Thiên Chúa, mưu ích cho tha nhân, bằng việc giảng thuyết và phục vụ trong các nhà tế bần, v.v…, mấy năm trước khi lên đường để thi hành ý định, chúng tôi đã tuyên khấn nếu được thì đến chầu Đức Giáo Hoàng, vị đại diện Đức Kitô, xin ngài cho phép đi Giêrusalem, và nếu được thì ở lại đó để tiến tới, nếu điều này phục vụ Chúa, và giúp người khác tiến tới, cả tín hữu cũng như dân ngoại. Và nếu trong vòng một năm không đi Giêrusalem được, hoặc đi được nhưng không ở lại được, chúng tôi đã xác định trong lời khấn là không buộc mình thêm nữa, nhưng trở về với Đức Giáo Hoàng, tự nguyện tuân phục để ngài cử đi đâu thì đến đó."[106]
Điều thường được gọi là "lời khấn Montmartre"[107] thực ra có nhiều điểm cần làm sáng tỏ. Thánh I-nhã không nói đến một lời khấn, nhưng hầu hết các chứng từ khác đều nói đến lời khấn. Theo Simão Rodrigues và Olivier Mannaerts, ngoài lời khấn thanh bần và đi Giêrusalem, còn có lời khấn khiết tịnh nữa[108]. Việc trở về Rôma tuân phục Vị Đại Diện Đức Kitô, theo thánh I-nhã và Diego Laínez chỉ là nếu không đi Giêrusalem được hoặc nếu không ở lại Giêrusalem; nhưng theo chân phước Phêrô Favre và Simão Rodrigues, không có chữ nếu ấy. Có người đặt câu hỏi: phải chăng mỗi người khấn một khác, tức là không có công thức chung, nhưng mỗi người tự viết lời khấn theo ý riêng? Tiếc là chúng ta không giữ được bản văn của lời khấn, nên không có được lời giải đáp dứt khoát. Chúng ta có thể tin Polanco: "Tại nhà nguyện Đức Mẹ Núi Tử Đạo, tất cả đã tuyên khấn hiến thân phục vụ Chúa trong thanh bần vĩnh viễn"[109].
Dầu sao, có lẽ điều quan trọng nhất không hẳn là lời khấn ở Montmartre, nhưng là quyết định chung về một đề án cho cả nhóm. Khởi đầu, mỗi người quyết tâm theo cách sống của thánh I-nhã, tức là sống nghèo và giúp đỡ các linh hồn. Với Linh Thao, quyết tâm ấy được củng cố bằng việc theo Đức Kitô trong đời sống thanh bần và hiến thân phục vụ tha nhân. Sau đó, nhóm những người bạn trong Chúa gồm 7 người thành hình vào mùa hè năm 1534[110]. Nhóm thường xuyên gặp gỡ để trao đổi về tương lai. Michel Certeau viết: "Nhóm tiên khởi này được liên kết với nhau bằng việc học, đời sống chung, những Chúa Nhật đến đan viện Vauvert dòng Chartreux hay ra ngoại ô Paris, bằng việc cầu nguyện và những dự tính chung."[111] Dần dần, có những điều mọi người đồng ý, có những điều chưa đạt được đồng thuận. Mọi người đồng ý là sau khi học xong sẽ: (1) sống thanh bần; (2) hiến thân phục vụ tha nhân; (3) đi Giêrusalem; (4) làm linh mục. Quyết định làm linh mục, không phải là hệ quả tất yếu của Linh Thao, chỉ đến sau quyết định sống thanh bần và hiến thân phục vụ tha nhân, nên phải hiểu thanh bần là cách sống và phục vụ tha nhân là mục đích của chức tư tế nhóm muốn lãnh nhận. Vì có quyết định làm linh mục, nên việc khấn khiết tịnh có người coi là điều bắt buộc, có người lại coi là điều đương nhiên, không cần phải khấn. Về việc đi Giêrusalem: giả như không đi được hoặc đi được nhưng không được phép ở lại, hoặc được phép ở lại nhưng nhóm không đồng thuận thì sao? Trong trường hợp đi được và được phép ở lại, hình như thánh I-nhã, thánh Phanxicô Xavier và Diego Laínez muốn ở lại hoạt động tông đồ tại đó; trong khi ấy chân phước Phêrô Favre và Simão Rodrigues muốn về Rôma đặt mình dưới quyền điều động của Đức Giáo Hoàng. Nhưng mọi người lại đồng ý là nếu chờ tàu một năm ở Venezia mà không đi Giêrusalem được thì sẽ đến Rôma đặt mình dưới quyền sử dụng của vị Đại Diện Đức Kitô. Đặc biệt một điều được Simão Rodrigues ghi nhận: "Mọi người đồng ý là tất cả cùng đi Giêrusalem, rồi ở đó sẽ xin Thiên Chúa giúp để xem xét tiếp. Nếu đa số quyết định ở lại, chúng tôi sẽ nắm lấy cơ hội Thiên Chúa ban… Nếu đa số có ý kiến ngược lại, tất cả chúng tôi sẽ cùng về, chứ không chia lìa"[112]. Điểm này hết sức quan trọng: nhóm đã liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi khi không đạt được đồng thuận thì theo đa số, để bảo toàn nhóm, chứ không muốn nhóm phải tan rã. Sau này, vào Mùa Chay năm 1539 tại Rôma, cả nhóm sẽ quyết định duy trì Đoàn Giêsu, mặc dầu phải phân tán do sứ vụ, vì không nên giải tán nhóm đã được Thiên Chúa liên kết. Một điều cũng cần để ý là nhóm không có tên, không có luật, không ai có quyền trên người khác, chỉ liên kết với nhau vì cùng lý tưởng tông đồ và vì tình bạn, qua trung gian thánh I-nhã và Linh Thao. Sau hết, nhóm quyết tâm xả thân làm việc tông đồ, nhưng hình như lại không quan tâm gì đến việc phong trào Tin Lành lúc ấy đang phát triển nhanh chóng.
Với những quyết tâm và dự tính ấy, sáng ngày 15.8.1534, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, một ngày mùa hè rực nắng, nhóm những người bạn trong Chúa gồm 7 người cùng nhau lên đồi Montmartre. Hình như đó là một cuộc hành hương khởi sự từ nhà nguyện Notre-Dame-des-Champs[113]. Đến Đền Các Thánh Tử Đạo[114], ở lưng chừng đồi, cách nhà thờ Saint-Pierre trên đỉnh đồi chừng 600 bước. Đó là một nhà nguyện chiều dài chừng 18 mét, gồm tầng trên, thường có khách hành hương đến viếng, và tầng hầm là nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ, thường ít người đến. Thánh I-nhã và các bạn họp nhau dâng lễ tại nhà nguyện ở tầng hầm. Chân phước Phêrô Favre, lúc ấy là linh mục duy nhất của nhóm, chủ sự thánh lễ. Trước khi hiệp lễ, lần lượt từng người đọc lời khấn. Sau lễ, nhóm đến ăn bữa trưa và chia sẻ với nhau tại Suối Thánh Denis[115]. Trong những giờ phút xúc động ấy, theo gợi ý của thánh I-nhã, cả nhóm thỏa thuận một số điểm để duy trì và củng cố điều vừa khởi sự: (1) suy niệm hằng ngày; (2) xưng tội và rước lễ các Chúa Nhật và Lễ Trọng; (3) thỉnh thoảng họp mặt và dùng bữa ăn thanh đạm với nhau, lúc ở nhà người này, lúc ở nhà người khác; (4) cho tới khi đi Venezia, hằng năm tất cả cùng nhắc lại lời khấn tại chính nơi và vào chính ngày như lần đầu. Chiều tối cả nhóm mới cùng nhau trở về đại học.
Nicolas Bobadilla gọi sự kiện diễn ra ngày 15.8.1534 tại Montmartre là "khởi đầu" của Đoàn Giêsu, là "gốc và nguồn" của Dòng Tên[116]. Simão Rodrigues cũng gọi là "khởi nguyên" của Dòng Tên[117]. Để ghi nhớ sự kiện này, vào thế kỷ XVII, bảng lưu niệm sau đây[118] được đặt tại Đền Tử Đạo:
Dòng Tên
nhận thánh I-nhã là cha
và thành phố Paris là mẹ,
chào đời tại đây ngày 15.8.1534
khi chính thánh I-nhã cùng với các bạn
tận hiến trọn đời cho Thiên Chúa
qua các lời khấn trong thánh lễ
để tôn vinh Thiên Chúa hơn[119].
Trong thư thỉnh nguyện Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XV tuyên thánh cho thánh I-nhã, vua Louis XIII viết: "Vương quốc Pháp đã được diễm phúc tiếp đón một người tôi tớ vĩ đại như vậy của Thiên Chúa đến Paris học, tập họp để tử và đặt nền móng cho Dòng Tên.[120]" Gần chúng ta hơn, Georg Schurhammer viết: "Một ngôi sao của Giacóp đã vào trong lòng của 7 sinh viên Paris, và dấu ấn về những giờ phút tận hiến ấy sẽ không bao giờ rời họ nữa."[121]
Có thể coi sự kiện Montmartre ngày 15.8.1534 là biến cố thành lập Dòng Tên không? Có lẽ nếu chúng ta phân biệt Đoàn Giêsu và Dòng Tên, thì sẽ dễ trả lời hơn. Chắc chắn nhóm những người bạn trong Chúa ở Montmartre ngày 15.8.1534 chưa phải là một dòng tu, vì chưa có lời khấn tuân phục và chưa được thiết lập theo Giáo Luật. Phải đợi đến năm 1540 ở Rôma nhóm ấy mới thực sự được biến thành một dòng tu. Diego Laínez cho biết lúc ấy thánh I-nhã và các bạn không muốn thành lập một dòng tu[122]. Cả đến năm 1539, nhóm vẫn ngại biến thành một dòng tu. Nhưng năm 1537 tại Vicenza, nhóm nhận tên là Đoàn Giêsu mà không thêm một yếu tố nào khác. Cho nên sự kiện Montmartre đúng là biến cố thành lập Đoàn Giêsu, trước khi nhóm ấy biến thành một dòng tu. Tuy nhiên, chỉ trong tiếng Việt chúng ta mới phân biệt Dòng Tên với Đoàn Giêsu. Khi Đoàn Giêsu được biến thành Dòng Tên từ cuộc bàn định Mùa Chay năm 1539 đến khi được Tòa Thánh chính thức phê chuẩn năm 1540, thánh I-nhã và các bạn muốn giữ nguyên tên đã chọn tại Vicenza năm 1537. Điều ấy cho thấy đối với các ngài, tinh thần của Đoàn Giêsu vẫn nguyên vẹn trong Dòng Tên. Do đó có thể nói Dòng Tên được gieo hạt ở Manresa, nảy mầm ở Paris và thành cây để sinh hoa trái tại Rôma. Yếu tố then chốt và xuyên suốt chính là Linh Thao. Trước hết ở Manresa, thánh I-nhã đáp lại tiếng Chúa mời gọi bằng việc bước theo Đức Kitô thanh bần và hiến thân phục vụ tha nhân. Kế đến ở Paris, vẫn giữ nguyên lý tưởng bước theo Đức Kitô thanh bần và hiến thân phục vụ tha nhân, ngài cùng với các bạn tiến thêm một bước nữa trong việc đáp lại tiếng Chúa mời gọi bằng việc họp thành một tập thể tư tế. Cuối cùng tại Rôma, tập thể tư tế ấy đáp lại tiếng Chúa mời gọi và tiến thêm một bước nữa để thành Dòng Tên. Theo Dudon, vào năm 1534, cộng đoàn tu sĩ sau này được gọi là Dòng Tên mới chỉ là một hạt giống chưa có hình thù nhất định; tuy nhiên, tinh thần Linh Thao làm cho cộng đoàn ấy hoạt động và định hình đã thực sự tác động và phát huy toàn bộ tiềm năng rồi[123].
Trong thời gian ở Paris này, kẻ ấy bị đau dạ dày, cứ hai tuần lại bị đau khoảng một giờ, và bị sốt nữa. Một lần cơn đau kéo dài đến 16 hay 17 giờ. Sau này khi đã hoàn tất chương trình triết học, kẻ ấy học mấy năm thần học, và thu nhận các bạn cùng chí hướng, nhưng bệnh tình ngày càng nặng hơn. Kẻ ấy đã tìm thầy chạy thuốc khắp nơi, nhưng không có kết quả. Các thầy thuốc xét là không có gì ích lợi cho kẻ ấy hơn khí hậu quê nhà. Các bạn cùng chí hướng cũng khuyên như vậy, mà còn thúc giục nữa… Cuối cùng, các bạn cùng chí hướng thuyết phục được kẻ hành hương, một phần cũng vì kẻ ấy có thể dàn xếp công việc cho các bạn trong nhóm quê ở Tây Ban Nha. Mọi người đồng ý là sau khi sức khỏe khá hơn, kẻ ấy sẽ đi lo công việc cho các bạn, rồi đến Venezia chờ các bạn[124].
Lúc mới đến Paris, ngài thấy mình khỏe mạnh: Từ khoảng gần 5 năm, kẻ ấy không bị đau dạ dày nữa, nên bắt đầu gia tăng các việc đền tội và hãm mình.[125] Thánh I-nhã luôn luôn nghĩ là ngài bị đau dạ dày. Thực ra, ngài bị sạn trong bàng quang, do đó ngài cảm thấy đau ở dạ dày[126]. Thời ấy, người ta chưa biết bệnh này, nên cũng không biết cách chữa trị. Về quê chỉ là giải pháp cầu may! Nhưng chắc bệnh tình của ngài khiến các bạn thực sự băn khoăn. Giả như chỉ một mình ngài và chỉ vì cơn bệnh, chúng ta gần chắc là ngài không chịu bỏ dở chương trình thần học, không đành tạm biệt nhóm những người bạn trong Chúa mới thành hình[127]. Nhưng giờ đây ngài không chỉ một mình, mà có các bạn: vừa được các bạn chẳng những khuyên mà còn thúc giục, mặt khác ngài có thể dàn xếp công việc cho các bạn trong nhóm quê ở Tây Ban Nha. Trước đây ở Loyola, gia đình không sao giữ ngài ở lại được. Rồi ở Tây Ban Nha, các ân nhân và thân hữu không sao ngăn cản ngài đi Paris được. Giờ đây, cách bạn ngài đã thực sự có chỗ đứng quan trọng trong lòng ngài. Một thay đổi rất đáng kể. Nhóm bạn trở thành một phần trong cuộc sống của ngài. Ngài rời Paris, nhưng không bỏ nhóm, mà để các bạn yên tâm về ngài cũng giúp gia đình các bạn yên tâm về con em. Nhất là có một điểm hẹn: đến Venezia đầu năm 1536 để cùng nhau đi Giêrusalem.
Sắp lên đường thì kẻ hành hương được tin mình đã bị tố cáo với vị thanh tra giáo lý và một phiên tòa sắp được mở ra để kết án. Nghe vậy, mặc dầu chưa bị triệu tập, kẻ ấy tự mình đến gặp vị thanh tra và nói với vị ấy về điều mình nghe được, rồi thêm là mình sắp đi Tây Ban Nha và mình có các bạn cùng chí hướng. Vì thế kẻ ấy xin được xét xử. Vị thanh tra xác nhận là có người tố cáo, nhưng vị ấy thấy chẳng có gì quan trọng. Vị ấy chỉ muốn xem tập Linh Thao. Sau khi đọc, vị ấy ca ngợi lắm và xin kẻ hành hương cho mình một bản. Điều này đã được thực hiện[128]. Tuy nhiên, kẻ ấy lại xin tiến hành xét xử, để có bản án. Vì vị thanh tra từ chối, kẻ ấy đi mời một viên kiểm sát và các nhân chứng đến gặp vị ấy, và viên kiểm sát lập biên bản về toàn bộ sự việc[129].
Vào khoảng cuối tháng 3 năm 1535, thánh I-nhã bị tố cáo vì tiếp tục hướng dẫn Linh Thao và vì các bạn cùng chí hướng rước lễ hằng tuần, lại thường xuyên hội họp với nhau[130]. Trong bầu khí lạc giáo tràn lan khắp Paris, như lời Nicolas Bobadilla, việc ngài bị nghi ngờ không có chi đáng ngạc nhiên. Tuy không bị triệu tập, nhưng muốn trắng đen rõ rệt, ngài đích thân đến gặp vị thanh tra giáo lý, Valentin Liévin, linh mục dòng Thánh Đaminh. Ngài đã quen vị này vì nhiều lần ngài đã dẫn những người theo lạc giáo đến gặp vị ấy để xin hòa giải. Trọng tâm vẫn là Linh Thao bị nghi ngờ. Chẳng những ngài không sợ mà còn đòi được xét xử. Ngài muốn được công nhận là không lạc giáo, để trước mắt ở Tây Ban Nha và về lâu dài ở bất kỳ đâu, ngài được quyền làm việc tông đồ. Hơn nữa, ngài sợ đang khi ngài đi vắng, các bạn bị liên lụy sẽ rất khó giải quyết. Không được xét xử, ngài xin làm biên bản như giấy chứng nhận ngài vô tội. Ngài đã trải qua nhiều kinh nghiệm rồi và biết có thể sau này còn gặp rắc rối nữa! Người ta không giữ được tờ biên bản này. Tuy nhiên, năm 1537 cha Thomas Laurent, O.P., thanh tra giáo lý tại Paris, xác nhận vị tiền nhiệm Valentin Liévin nhìn nhận thánh I-nhã vô tội và ca ngợi ngài nữa.
Sau việc đó, kẻ ấy cỡi một con ngựa nhỏ mà các bạn cùng chí hướng đã mua cho, và một mình lên đường về quê[131].
Lúc đến Paris 7 năm trước, thánh I-nhã một mình và đi bộ. Giờ đây ngài rời Paris, vào khoảng cuối tháng 3 năm 1535[132], một mình nhưng cỡi ngựa. Thực ra, ngài không còn một mình nữa, nhưng đã có một nhóm bạn trong Chúa. Vì những người bạn ấy mà ngài cỡi ngựa và về Tây Ban Nha. Đường từ Paris đến Azpeitia dài chừng 900 km. Ngài phải đi mất khoảng 1 tháng. Lộ trình của ngài có lẽ là Paris, Chartres, Tours, Poitiers, Bordeaux, Bayonne, Azpeitia. Dầu sao, điểm đến của ngài không phải Tây Ban Nha, nhưng là Venezia, và hơn nữa là Giêrusalem, nơi ngài và các bạn sẽ thi hành dự tính chung.
7 năm ở Paris có ý nghĩa rất quan trọng đối với thánh I-nhã và Dòng Tên. Trước hết, ngài có bằng Cử nhân giáo khoa đại học Paris và đương nhiên được coi như thuộc hàng trí thức. Đây là điều rất cần, phần nào gần như bảo đảm, trong hoạt động tông đồ thời ấy. Ngoài các kiến thức cơ bản, ngài gặp gỡ trực tiếp những nhà trí thức hàng đầu của Châu Âu, tiếp xúc với những luồng tư tưởng bảo thủ nhất cũng như cấp tiến nhất qua sách vở. Ngài cũng sẽ vận dụng khoa sư phạm của đại học Paris vào việc huấn luyện anh em trẻ sẽ vào Dòng Tên cũng như vào các trường Dòng Tên sẽ mở sau này. Thứ đến, ngài chín chắn hơn về đời sống thiêng liêng cũng như đời sống tông đồ. Về đời sống thiêng liêng, ngài không có những thị kiến hay những an ủi mãnh liệt, nhưng trung thành và kiên trì tiến bước giữa những cố gắng, khó khăn, thách đố của cuộc sống thường ngày. Về đời sống tông đồ, ngài rút kinh nghiệm những thất bại lúc đầu do vội vàng và hời hợt để nghĩ đến những điều sâu xa hơn và lâu dài hơn. Đây chính là điều dẫn ngài đến chỗ liên kết được nhóm Những người bạn trong Chúa sẽ là nòng cốt cho Dòng Tên. Sau hết, bản văn Linh Thao của ngài cũng có bước tiến với phần đầu bản Quy tắc cùng cảm nghĩ với Hội Thánh, đồng thời ngài cũng biết vận dụng Linh Thao nhuần nhuyễn hơn để có được những con người như chân phước Phêrô Favre và thánh Phanxicô Xavier. Tóm lại, khi đến Paris, thánh I-nhã đã là một vị thánh, nhưng Paris đã giúp ngài trở thành một tông đồ hữu hiệu và đặt những nền tảng đầu tiên cho Dòng Tên mà ngài sẽ là một nhà lãnh đạo thiên tài.
Phụ trang 22
Paris thời thánh I-nhã
Thành phố Paris hiện nay có diện tích 100 km2, từ đông sang tây chừng 12 km, từ bắc xuống nam khoảng 9 km, điểm thấp nhất ở độ cao 26 m trên mực nước biển.
Các cư dân đầu tiên sống trên khu vực Paris hiện nay mà lịch sử ghi nhận được là nhóm người Parisii. Họ đến định cư chủ yếu tại cù lao Cité trên sông Seine hiện nay khởi đầu từ khoảng năm 250 đến năm 100 trước công nguyên. Họ ở trong các chòi lá tròn, sinh sống bằng nghề chài lưới ở sông Seine và săn bắn ở các khu rừng lân cận.
Năm 52 trước công nguyên, đế quốc Rôma xâm chiếm và đô hộ Paris cũng như toàn bộ lãnh thổ nước Pháp hiện nay, lúc ấy gọi là xứ Gallia, thủ phủ tại Lyon. Lúc ấy, sông Seine rộng bằng hai hiện nay, và có nhiều cù lao, nhưng chỉ có người trên cù lao lớn nhất (tức là cù lao Cité hiện nay, lúc ấy rộng 10 hectares, nay rộng 17 hectares). Trên bờ phải sông Seine, phía đông là đầm lầy (khu Le Marais hiện nay), phía tây là rừng (dấu vết còn lại là Bois de Boulogne). Trên bờ trái, khu vực đồi Sainte-Geneviève hiện nay thường có người qua lại. Đế quốc Rôma cai trị Pháp gần 500 năm. Trong thời gian ấy, họ xây dựng từ trước công nguyên Dinh Trấn Thủ và Đền thờ thần Jupiter trên cù lao Cité. Giữa hai dinh thự ấy là khu phố buôn bán và sinh hoạt. Dần dần họ mở rộng sang khu đồi ở bờ trái. Các dấu vết hiện nay còn lại là một đền thờ, một đấu trường, một trường đua, một khu tắm tập thể, một nghĩa địa… Họ bắc cây cầu gỗ đầu tiên nối cù lao với bờ trái, hiện nay là Petit Pont (Cầu Nhỏ). Phía bờ phải, họ xây dựng hai đền thờ thần Mars và thần Mercure trên đồi Montmartre hiện nay. Họ cũng bắc một cầu gỗ nối cù lao với bờ phải, ban đầu được gọi là Grand Pont (Cầu Lớn), hiện nay là Pont Notre-Dame. Họ cũng xây dựng một đường sá, đặc biệt con đường lên hướng bắc, hiện nay là đường Saint-Denis và con đường xuống hướng nam, hiện nay là đường Saint-Jaques. Số dân Paris thời ấy khoảng 20 ngàn người. Trong thời kỳ này, thánh Denis đem Tin Mừng đến Paris và chịu tử đạo trên đồi Montmartre vào giữa thế kỷ III.
Vào giữa thế kỷ V, quân Hung nô đe dọa Paris, nhiều người dân bỏ trốn, nhưng thánh nữ Geneviève kêu gọi dân chúng tin tưởng cầu nguyện xin Chúa che chở. Quân Hung nô không tấn công, và thánh nữ được coi là vị thánh bảo trợ Paris. Năm 486, Clovis chiến thắng người Rôma, làm chủ toàn bộ nước Pháp. Ông theo đạo và năm 508 chọn Paris làm thủ đô. Dần dần cả nước Pháp theo đạo và được mệnh danh là con đầu lòng của Hội Thánh. Các đền thờ Rôma được thay thế bằng các nhà thờ Công Giáo. Việc buôn bán phát triển mạnh, nên khu thương mại Paris được mở rộng về phía bắc, này là khu phố Halles. Tuy nhiên, trong khoảng 6 thế kỷ sau đó, Paris bị bỏ gần như hoang phế, nhất là sau 4 lần bị người Normand cướp phá vào thế kỷ IX. Năm 978, quân Đức xâm lăng Pháp và bị đánh bại tại Paris. Vua Hugues Carpet lên ngôi và nước Pháp chính thức thành hình. Phải đợi đến thế kỷ XI, Paris mới lấy lại thế mạnh và phát triển nhanh chóng, đặc biệt về phía bắc. Nhiều cung điện và dinh thự của hàng quý tộc, nhiều khu buôn bán của giới thương gia được xây dựng ở bờ phải, trong khi nhiều nhà thờ và tu viện, nhiều cơ sở giáo dục được xây dựng ở bờ trái. Đường sá trong thành phố được lát đá. Tường thành Philippe-Auguste được xây dựng vào đầu thế kỷ XIII cho thấy Paris thực sự đã là một thành phố. Vua thánh Louis IX với những cuộc viễn chinh của Đạo binh Thánh Giá vào nửa sau thế kỷ XIII cho thấy nước Pháp đã trở thành một khối dân công giáo và một cường quốc ở Châu Âu. Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ XIV, nước Pháp suy yếu so với nước Anh trong cuộc chiến tranh 100 năm. Tường thành Charles V vào thế kỷ XIV đánh dấu việc Paris vừa được mở rộng hơn vừa được bảo vệ hơn về hướng bắc. Giữa thế kỷ XIV, Pháp đẩy lui được quân Anh, khởi đầu một cuộc phát triển nhanh chóng.
Thánh I-nhã đến Paris vào đầu thế kỷ XVI, lúc khởi đầu một thời kỳ phát triển đặc biệt của Paris. Paris lúc ấy là thành phố lớn nhất Châu Âu[133] với chừng 300 ngàn dân và được chia thành 3 khu khá rõ rệt: Mấy cù lao trên sông Seine là khu trung tâm, gọi là Cité; bờ phía bắc gồm các cung điện, các dinh thự, các khu buôn bán, gọi là Ville; bờ phiá nam gồm các học viện của Đại Học và các tu viện được gọi là Université. Nền văn minh thành thị bắt đầu phát triển cùng với giáo dục và thương mại, nên Paris vừa đông dân, vừa giàu có và trí thức, trở nên rất quan trọng đối với nước Pháp. Có thể nói ai làm chủ được Paris là làm chủ được nước Pháp. Sau hơn một thế kỷ các vua Pháp ở ngoài Paris, năm 1530 vua Francois I chính thức trở lại Paris và cho khởi công xây dựng Điện Louvre mới. Đa số dân Pháp thời ấy sống bằng nghề trồng trọt hay chăn nuôi. Dân Paris chủ yếu sống nhờ các dịch vụ: buôn bán, phục vụ các nhà quý tộc và các sinh viên. Việc buôn bán được thể hiện rõ nhất qua khu thương mại Les Halles và đoàn thương thuyền hùng hậu. Nhưng nét nổi bật nhất của Paris vẫn là sinh hoạt trí thức. Với đại học và sự phát triển của ngành in[134], Paris trở thành đầu não của nước Pháp và trung tâm trí thức hàng đầu của Châu Âu và Hội Thánh. Năm 1516, vua Pháp được Tòa Thánh trao quyền bảo trợ nghĩa là có toàn quyền về quản trị trên Giáo Hội Pháp. Năm 1525, quân Pháp bị đánh bại ở Pavia, miền bắc Ý, và vua Francois I bị Tây Ban Nha bắt làm tù binh; sau đó phải trả tiền chuộc và nhượng bộ về đất đai. Năm 1528, Công đồng giáo tỉnh Sens[135] đề ra những biện pháp kỷ luật để đối phó với phong trào Cải Cách Tin Lành. Paris vừa là trung tâm vừa là đầu não các biến động chính trị, văn hóa, kinh tế và tôn giáo của Pháp.
Sau thất bại của các đoàn Đạo Binh Thánh Giá, Châu Âu Công Giáo bị đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo đe dọa. Trong khi đó, hai thế lực hàng đầu của Châu Âu là hoàng đế Karl V và vua Francois I luôn luôn tranh chấp. Thêm vào đó, phong trào Tin Lành khiến cho Châu Âu bị chia rẽ trầm trọng. Bản tuyên xưng đức tin của phong trào Cải Cách Tin Lành năm 1530 tại Augsbourg, nước Đức, cũng như vụ ly dị rồi ly khai năm 1534 của vua Henry VIII, nước Anh, đều gây chấn động tại Paris. Paris sống từng ngày với những biến chuyển vừa nhanh chóng vừa quyết liệt của Châu Âu và Hội Thánh. Henri
Phụ trang 23
Đại học Paris thời thánh I-nhã
Đại học Paris có quy chế chính thức từ năm 1215. Hoạt động giáo dục đã có trước đó từ lâu tại nhà thờ Notre-Dame. Đến thế kỷ thế kỷ XII, một số thầy trò chuyển sang khu vực đồi ở bờ trái, tổ chức dạy và học ngay trên đường. Đến thế kỷ XIII, các học viện dần dần được xây dựng ở khu vực đồi Sainte-Geneviève chẳng bao lâu phát triển rất mạnh và trở nên một trung tâm trí thức hàng đầu của Châu Âu và Hội Thánh. Nhiều dòng tu thiết lập cộng đoàn cho các tu sĩ trẻ từ nhiều nơi đến học. Đại học Paris đã nổi tiếng với những giáo sư thời danh như Pierre Lombard, thánh Albertô Cả, thánh Tôma Aquino… Vì ở khu vực này ngôn ngữ được sử dụng tại các học viện cũng như tại các tu viện là tiếng Latinh nên về sau được gọi là Quartier Latin.
Vào thời thánh I-nhã, số sinh viên theo học tại Paris được ước lượng khoảng từ 4 ngàn đến 20 ngàn, trong đó 2/3 là sinh viên nước ngoài. Về việc ăn ở, các sinh viên tuỳ theo hoàn cảnh có thể nội trú hay ngoại trú. Một sinh viên được học bổng, chẳng hạn Simão Rodrigues, được nội trú tại ký túc xá, được nuôi ăn, ở và học hoàn toàn miễn phí. Một sinh viên không được học bổng cũng có thể nội trú, chẳng hạn chân phước Phêrô Favres và thánh Phanxicô Xavier, nhưng phải trả mọi chi phí. Các sinh viên có thể ăn ở bên ngoài học viện. Nếu gia đình giàu có, sinh viên có thể thuê một phòng riêng, và nhiều khi có cả người giúp việc nữa. Nếu gia đình nghèo, một nhóm sinh viên mướn nhà trọ, ở chung một phòng và tự lo việc ăn uống. Ngoài ra, mỗi giáo sư đều được quyền có một sinh viên giúp việc: sinh viên này được đại học miễn chi phí ăn ở và học. Thánh I-nhã khi mất hết tiền tại nhà trọ đã nghĩ đến giải pháp này, nhưng không thành. Từ năm 1530, khi làm phụ khảo, thánh Phanxicô Xavier cũng có một sinh viên giúp việc. Tất cả cách sinh viên phải mặc đồng phục: áo dài và thắt lưng vải, màu đen nếu là sinh viên thần học, màu nào khác tùy mỗi học viện thuộc các phân khoa khác.
Có 4 phân khoa: Nghệ Thuật, Thần học, Y học và Giáo Luật. Phân khoa Nghệ Thuật có thể gọi là khối Phổ Thông dạy tiếng Latinh, triết học Aristốt và một số kiến thức khoa học như toán, địa lý, thiên văn. Thời ấy chưa có trường tiểu học hay trung học như hiện nay. Đại học nhận sinh viên từ 10 tuổi. Sau khi được coi là thông thạo tiếng Latinh, sinh viên phải học 3 năm rưỡi các môn còn lại. Tốt nghiệp phân khoa Nghệ Thuật, sinh viên được cấp bằng Cử Nhân. Chỉ sau đó, sinh viên mới được tiếp tục học một trong 3 phân khoa khác để lấy bằng tiến sĩ. Tùy theo từng người, thời gian học để được cấp bằng tiến sĩ có thể từ 5 đến 12 năm. Chẳng hạn chân phước Phêrô Favre và thánh Phanxicô Xavier cùng đến Paris học từ năm 1525, lúc 19 tuổi, và tốt nghiệp phân khoa Nghệ Thuật năm 1530, nhưng khi rời Paris năm 1536, cả hai vẫn chưa có bằng tiến sĩ. Giảng dạy tại ba phân khoa sau là các giáo sư có học vị tiến sĩ. Giảng dạy tại phân khoa Nghệ Thuật hầu hết là các phụ khảo mới tốt nghiệp cử nhân và đang theo học tiếp để lấy học vị tiến sĩ. Mỗi năm các giáo viên mời sinh viên của mình đi dự tiệc hai lần: trong dịp ấy, sinh viên nộp tiền học cho các giáo viên.
Việc học được tổ chức trong các học viện. Mỗi học viện gần như một trường biệt lập, do một cá nhân hay một tổ chức thiết lập, có cơ sở riêng, ban giáo sư và sinh viên riêng, hiệu trưởng riêng, ký túc xá riêng, nội quy riêng. Có tổng cộng chừng 60 học viện. Phân khoa Nghệ Thuật chiếm ¾ số sinh viên và số học viện. Các sinh viên và học viện của phân khoa Nghệ Thuật được chia thành 4 khối dân: (1) Khối Normandie gồm các sinh viên gốc miền tây bắc nước Pháp; (2) khối Picardie gồm các sinh viên gốc miền đông bắc nước Pháp; (3) khối Pháp gồm các sinh viên gốc miền đông, miền trung và miền nam Pháp, cùng với các sinh viên gốc Ý, Tây Ban Nha và Bồ đào Nha; (4) khối Anh hay Đức gồm các sinh viên gốc Tô cách lan, Anh, Đức và miền Alsace. Các sinh viên Nghệ Thuật sẽ thi theo khối dân. Các giáo sư Nghệ Thuật mỗi quý họp lại bầu viện trưởng cho toàn thể đại học.
Trừ một số ít các sinh viên giàu sang, hầu hết các sinh viên rất nghèo. Thánh Phanxicô Xavier cho biết ngài phải sống rất cực khổ, và lúc nào cũng thiếu trước hụt sau, ngay cả khi ngài đã làm phụ khảo. Chân phước Phêrô Favre được một linh mục trong gia đình giúp nên sau khi tốt nghiệp cử nhân có thể học thần học mà không cần làm phụ khảo. Thánh I-nhã cũng không cần làm phụ khảo trong lúc học thần học vì được các ân nhân giúp. Kỷ luật mỗi học viện mỗi khác, nhưng nói chung khá khắt khe. Hằng ngày phải dự lễ, đọc kinh, ăn uống chung. Phải dự tất cả các tiết học và các buổi thảo luận. Muốn ra khỏi học viện phải xin phép hiệu trưởng, và phải đi với một người do vị này chỉ định. Phải tham dự các đám rước kiệu do đại học tổ chức, các buổi đón tiếp vua hay các quan chức, và cả các cuộc hành quyết những người bị kết án là lạc giáo. Mỗi tuần sinh viên chỉ có giờ giải trí vào hai buổi chiều. Mỗi năm có khá nhiều kỳ nghỉ: lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh, mùa hè…
Hằng ngày các tiết học thường bắt đầu lúc 5 giờ sáng. Phương pháp của đại học Paris khá đặc biệt vào thời ấy. Các sinh viên học Latinh được phân chia theo trình độ, sinh viên được chỉ định phải học lớp nào với giáo viên nào. Thỉnh thoảng giáo viên tổ chức thi, ai đủ trình độ có thể vượt lớp. Từ khi học triết, chẳng những sinh viên có quyền chọn học viện mà còn được tự do chọn giáo viên nữa. Tuy nhiên, thời hạn tối thiểu để sinh viên được thi cử nhân là phải học triết và các kiến thức khoa học trong ba năm rưỡi. Sau đó, ở cấp tiến sĩ, không ấn định thời gian bắt buộc nữa, nhưng thường khoảng 7-10 năm. Nội dung học ở phân khoa Nghệ Thuật, ngoài phần kiến thức khoa học, gồm luận lý, tâm lý, đạo đức, siêu hình, tất cả theo Aristốt. Các phụ khảo thường theo một cuốn sách giáo khoa có sẵn, chỉ việc cắt nghĩa cho sinh viên. Mỗi ngày thường buổi sáng cũng như buổi chiều sinh viên nghe giáo viên giảng 150 phút, rồi thảo luận 30 phút. Trong khi đó, ở đại học Koln, sinh viên phải nghe giảng buổi sáng 6-7 tiết, chiều 2-4 tiết, và không có giờ thảo luận. Ở tất cả các đại học thời ấy, sinh viên không có giờ học bài riêng, cũng không có giờ tham khảo sách riêng.
Hai điều thánh I-nhã rất thích ở phương pháp Paris là chia lớp học theo trình độ sinh viên và ngoài giờ nghe giảng bài, sinh viên còn có giờ để thảo luận. Sau này ngài sẽ cho các trường học của Dòng Tên theo phương pháp Paris. Nhưng Paris thời thánh I-nhã rõ ràng có hai mặt: một bên là thành trì của học thuật kinh viện đang bị đe dọa, một bên là lò những môn học mới, đặc biệt các cổ ngữ mở đường tìm về nền văn hóa trước Kitô giáo[136].
Phụ trang 24
Phong trào Nhân Văn
Khởi đầu từ Ý vào thế kỷ XIV, phong trào Phục Hưng lan rộng khắp Châu Âu vào thế kỷ XVI, khai sinh một nền văn hóa mới và ảnh hưởng đáng kể trên đời sống Hội Thánh.
Vào thời Trung Cổ, toàn bộ Châu Âu theo Kitô giáo, phía đông là Giáo Hội Chính Thống, phía tây là Giáo Hội Công Giáo. Ngôn ngữ chính của phương đông là tiếng Hylạp, ngôn ngữ chính của phương tây là tiếng Latinh. Ở phương tây, thần học Kinh Viện được coi là đã đạt tới đỉnh cao của trí tuệ loài người. Tuy nhiên, với cái nhìn duy siêu nhiên, nhấn mạnh đến ơn cứu độ linh hồn và đời sau, đời sống con người và những giá trị nhân bản phần nào bị lãng quên. Qua những cuộc viễn chinh của Đạo Binh Thánh Giá và những cuộc xâm lăng của người Arập, rồi những trao đổi thương mại qua đường hàng hải, vào cuối thời Trung Cổ, một số bản văn và học giả phương đông được giới thiệu với giới trí thức phương tây. Người ta khám phá ra giá trị nhân bản của các tác giả và tác phẩm Hylạp và Latinh trước Kitô giáo. Linh hồn của phong trào Phục Hưng là chủ nghĩa nhân bản. Có thể nói người khởi xướng là Francesco Petraca (1304-1374), một nhà thơ Ý, người đã tìm kiếm lại những bản văn Hylạp cổ và thấy ở đó những giá trị nhân văn phần nào bị thời Trung Cổ lãng quên. Dần dần, phong trào Phục Hưng ảnh hưởng đến nhiều lãnh vực trong đời sống xã hội như kiến trúc, nghệ thuật, văn chương và khoa học. Vào đầu thế kỷ XV, Leonardo Bruni nói: "Tôi có cảm tưởng thời đại của Cicero và Demosthenes gần tôi hơn thời gian 60 năm vừa qua nhiều."
Ban đầu, phong trào này có tính cách hoàn toàn nhân văn, không đụng chạm gì đến tôn giáo. Tuy nhiên, áp dụng vào thần học, người ta muốn đọc chính bản văn nguyên thủy bằng tiếng Hilạp hay tiếng Hipri của Kinh Thánh, học hỏi bản văn nguyên thủy bằng tiếng Hilạp và tiếng Latinh của các Giáo Phụ chứ không chỉ dừng lại ở những vấn đề phần nào giả tạo và từ chương của Kinh Viện. Tiếng Latinh của Kinh Viện bị các nhà nhân văn coi là quê mùa; các nhà thần học Kinh Viện bị các nhà nhân văn coi là trí thức rởm. Các nhà nhân văn khẳng định sự cao cả và phẩm giá con người dựa trên nguồn gốc thần linh và tính bất tử. Nếp sống Kitô giáo vụ hình thức và theo thói quen không đáp ứng lòng đạo của những tín hữu muốn sống đức tin sâu xa. Thực ra, Francesco Petraca muốn cứu vãn các giá trị Rôma và Kitô giáo, chứ không có ý đả phá. Không bao giờ các nhà nhân văn tấn công Hội Thánh với tư cách là một định chế xuất phát từ Thiên Chúa. Họ cũng không đòi sửa Kinh Thánh hay thay đổi Tin Mừng, chỉ muốn sửa bản dịch cho trung thành hơn và viết lại bằng Latinh chính xác hơn và văn vẻ hơn. Tuy nhiên, vì nóng lòng muốn cải tổ, một số nhà nhân văn đã chỉ trích Hội Thánh khá nặng nề, khiến những người lãnh đạo Hội Thánh lo ngại.
Người nổi tiếng nhất của phong trào Nhân Văn là linh mục học giả Erasme (1466/69-1536), người có 15 đến 20 triệu cuốn sách được in, được Rabelais coi "vừa là cha vừa là mẹ" và được Voltaire gọi là vua không ngai của Châu Âu thế kỷ XVI. Sinh trưởng tại Hà Lan và thọ giáo với các Anh Em Đời Sống Chung theo linh đạo Devotio Moderna, sau đó ông gia nhập dòng Kinh sĩ Thánh Âutinh và thụ phong linh mục năm 26 tuổi. Không phải là một tu sĩ hay linh mục xấu, nhưng ông không hề là một tu sĩ hay linh mục nhiệt thành. Ông thích thơ văn nên bị phong trào Nhân Văn thu hút. Năm 27 tuổi, ông bắt đầu đi chu du khắp Châu Âu, vừa để gặp gỡ và học hỏi với các nhà nhân văn, vừa để phổ biến phong trào. Ông đến Paris năm 29 tuổi và theo học tại học viện Montaigu. Không đồng ý với đường lối tu đức khắc khổ của Jan Standonck, ông tiếp tục đi đây đó và viết sách. Năm 1500, cho xuất bản tại Paris cuốn Châm Ngôn ông muốn dung hòa đức tin Kitô giáo với nền văn hóa Hilạp và Latinh. Năm 1504, cuốn Thủ Bản Chiến Sĩ Đức Kitô được phát hành tại Bỉ. Năm 1508, cuốn Châm Ngôn được ông bổ túc và tái bản. Từ đây ông được coi là nhà trí thức hàng đầu ở Châu Âu. Đồng thời giọng văn châm biếm nếp sống của tu sĩ và giáo sĩ của ông cũng bị nhiều người chỉ trích. Năm 1511, ông phát hành cuốn Ca ngợi sự điên rồ: đây là cuốn sách được in nhiều nhất từ khi có máy in. Năm 1516, ông xuất bản cuốn Tân Ước, trong đó ông chú giải theo các Giáo Phụ chứ không theo các nhà Kinh Viện. Có thể tóm tắt tư tưởng của ông bằng chính từ ông dùng: triết học của Đức Kitô. Theo ông, Hội Thánh đã không trung thành với Tin Mừng, nên kêu gọi mọi người trở về với Tin Mừng. Cách thức của ông là chỉ trích một cách châm biếm và cay độc những lạm dụng trong Hội Thánh[137]. Ông được nhiều người hâm mộ nhưng cũng bị nhiều người kết án. Mặc dầu cách sống của ông không được coi là mẫu mực, những tư tưởng của ông gần như lay động Hội Thánh lúc ấy đang mơ màng.
Vì sợ phong trào Cải Cách Tin Lành, người ta e ngại phong trào Nhân Văn dọn đường cho lạc giáo. Tại Paris, phong trào Nhân Văn thu hút được không ít trí thức, đứng đầu là Jacques Lefèvre d'Étaples, một linh mục thông thái và đạo đức. Tuy nhiên, lúc ấy phong trào bị khuynh hướng thủ cựu ngự trị tại học viện Sorbonne, đứng đầu là Noel Bédier, chống đối và kết án. Năm 1526 và 1527, hai lần đại học Paris kết án Erasme. Ông bị người Công Giáo tẩy chay và cuối cùng toàn bộ tác phẩm của ông bị Hội Thánh kết án năm 1559. Về phía Tin Lành, người ta giữ thái độ dè dặt hơn. Tuy nhiên, sau khi đoạn tuyệt với Luther, ông cũng bị người Tin Lành gạt bỏ. Năm 1530, vua Francois I thiết lập Collège Royal de France không nằm dưới quyền đại học Paris để cổ võ việc đổi mới theo phong trào Nhân Văn. Sau này nền giáo dục Dòng Tên sẽ tiếp thu những kết quả tích cực của phong trào.
Phụ trang 25
Đan viện Notre-Dame de Vauvert
Năm 1257, theo lời mời của vua thánh Louis IX, nhóm 5 đan sĩ dòng Chartreux đầu tiên đến Paris. Nhà vua tặng lâu đài Vauvert làm đan viện[138]. Năm 1276, việc xây dựng đan viện được khởi sự. Đan viện mua thêm một phần đất để mở rộng khuôn viên. Năm 1567, hoàng hậu Marie de Médicis mua lâu đài Luxembourg làm tư dinh và đổi một phần đất với đan viện để làm vườn. Năm 1792 Cách Mạng Pháp giải thể đan viện. Năm 1866, những vết tích cuối cùng của đan viện bị xóa bỏ.
Dòng Chartreux do thánh Bruno sáng lập năm 1084 gần Grenoble, miền đông nam nước Pháp. Ngài sinh khoảng năm 1030-1035 tại Đức, qua đời năm 1101 tại Ý. Từng là giáo sư thần học, ngài tìm đến một đời sống khổ hạnh để chuyen chăm cầu nguyện. Sống trong đan viện, nhưng các đan sĩ Chartreux sống như những ẩn sĩ. Mỗi người ở trong một chòi riêng: ngủ nghỉ, ăn uống, làm việc, cầu nguyện… tất cả tại chòi. Mỗi ngày các đan sĩ họp nhau ba lần để dâng lễ và tham dự các giờ kinh chính. Chỉ có giờ sinh hoạt cọng đoàn vào Chúa nhật và ngày lễ. Nếp sống Chartreux rất khổ hạnh: không bao giờ ăn thịt; mỗi tuần có một ngày chỉ ăn bánh mì và uống nước lã; mỗi năm có trên 200 ngày giữ chay. Ngoài nhiệm vụ chính là cầu nguyện, các đan sĩ làm việc trí thức hay tay chân. Đan sĩ muốn ra ngoài, phải có phép của bề trên cả ở Grenoble. Ban đầu mỗi đan viện chỉ có tối đa 12 linh mục và 16 tu huynh; về sau cho tăng gấp đôi và nhiều khi hơn nữa. Vào năm 1530, dòng Chartreux có 195 đan viện trên nhiều nước. Trong khi đa số các dòng tu lúc ấy cần cải tổ, riêng dòng Chartreux không cần đến cải tổ[139].
Đan viện Thánh Mẫu Vauvert ở Paris là đan viện Chartreux duy nhất ở ngay sát một thành phố. Chúng ta không biết rõ số đan sĩ vào lúc thánh I-nhã ở Paris; nhưng được biết năm 1520 có 36 linh mục, 17 tu huynh, 1 hiến sinh; năm 1589 có 43 linh mục, 17 tu huynh, 4 tập sinh. Đan viện mở cửa cho giáo dân đến dự lễ Chúa nhật và lễ trọng. Từ cổng chính vào phải qua 3 cổng mới đến nhà nguyện chính, dành cho các đan sĩ và giáo dân nam giới. Giữa cổng thứ hai và thứ ba có một nhà nguyện nhỏ dành cho phụ nữ. Mỗi thứ sáu, đan viện đãi các người nghèo một bữa ăn thanh đạm. Suốt gần 300 năm, các đan sĩ nêu gương sáng và không gây ra một tai tiếng nào.
Khung cảnh đơn sơ, bầu khí yên tĩnh, không gian thoáng đãng, đời sống cầu nguyện và bác ái của các đan sĩ… rất thuận tiện cho thánh I-nhã và các bạn đến hồi tâm, cầu nguyện, và bàn luận về tương lai.
Phụ trang 26
Đền Các Thánh Tử Đạo Montmartre
Theo truyền tụng, giám mục tiên khởi Paris là thánh Denis cùng với hai người bạn là thánh Rustique và thánh Eleuthère đã chịu tử đạo trên đồi Montmartre khoảng năm 250. Khoảng năm 475, thánh nữ Geneviève cho xây dựng một ngôi đền tại nơi được cho là các ngài đã bị trảm quyết, cách đỉnh đồi chừng 300 mét về hướng nam. Từ thế kỷ IX, người ta cắt nghĩa gốc tên Montmartre là Mons Martyrum (Núi Các Vị Tử Đạo). Tuy nhiên, nguồn gốc thực có thể là Mons Mercurii (Núi Thần Mercure) hay Mons Martis (Núi Thần Mars): hai ngôi đền thờ hai vị thần này được người Rôma xây dựng ở đó từ thế kỷ I và II. Gọi là núi, nhưng thực ra địa điểm cao nhất, nhà thờ Saint-Pierre hiện nay, chỉ cao 129,35 mét. Dầu sao, đó là điểm cao nhất của Paris.
Vào khoảng thế kỷ IX đã có một xóm dân cư trên đồi sống bằng nghề trồng nho, tập họp chung quanh một ngôi nhà nguyện trên đỉnh đồi dâng kính thánh Denis. Năm 1096, các đan sĩ dòng Biển Đức, nhánh Cluny, lập một đan viện tại Montmartre. Năm 1133, vua Louis VI cho chuyển các đan sĩ Cluny đi nơi khác và lập một đan viện nữ cũng thuộc dòng Biển Đức, thường được gọi là Các Bà Trắng, với nhà thờ Saint-Pierre hiện nay, gồm 2 phần, một dành cho giáo dân, một dành cho các nữ tu. Khuôn viên đan viện rộng 13 hecta có tường bao quanh. Đền Các Thánh Tử Đạo được đặt trực thuộc đan viện. Từ năm 1096, đền ngôi này đã là một điểm hành hương. Năm 1305, ngôi đền được trùng tu: một nhà nguyện mới được xây dựng bên trên nhà nguyện cũ: từ đó đền gồm nhà nguyện trên ở tầng trệt, và nhà nguyện dưới ở tầng hầm. Toàn bộ ngôi đền dài khoảng 18 mét. Hai phần được thông với nhau bằng một cầu thang 15 bậc. Cửa đền thường khoá, phải có phép và chìa khoá của đan viện mới vào được. Từ ngoài đường, bước qua cửa, người ta xuống thẳng tầng hầm, rồi từ đó theo cầu thang lên tầng trên. Tầng trên sáng sủa, thường khách hành hương đến viếng cầu nguyện và dâng lễ ở đó. Tầng hầm, tối hơn và ít người đến hơn, thường chỉ những ai muốn cầu nguyện riêng mới xuống. Tuy nhiên, theo các nữ tu của đan viện thì tầng hầm là nơi được tôn kính hơn. Chính tại tầng hầm mà thánh I-nhã và các bạn tuyên khấn.
Năm 1611, khi sửa chữa ngôi đền, những người thợ đã phát hiện mãi sâu bên dưới tầng hầm một tầng hầm nữa dài 10 mét, rộng từ 2 đến 3 mét, có mái vòng, thông với tầng hầm trên bằng một cầu thang 45 bậc. Ở tầng hầm này có nhiều dấu vết cho thấy đó từng là một nhà nguyện dâng kính các vị tử đạo, chẳng hạn những chữ được khắc vào đá: MAR, CLEMIN, và DIO được giải thích là Thánh Clementê và thánh Denis tử đạo. Từ đó, ngôi đền càng thu hút nhiều khách hành hương hơn, cả các vua chúa, sứ thần Tòa Thánh và các giám mục. Năm 1622, đan viện cho chuyển một số nữ tu từ trên nhà thờ Saint-Pierre xuống một tu viện được xây dựng cạnh ngôi đền.
Năm 1630, vua Louis XIII cho xây lại trên nền cũ ngôi đền mới vừa lớn hơn vừa đẹp hơn. Vẫn có phần trên và phần dưới, nhưng phần dưới chỉ còn rộng tương đương với phần cung thánh của phần trên. Ở phần dưới, có một bức tranh vẽ chân phước Phêrô Favre mặc lễ phục, tay nâng Mình Thánh Chúa: trước mặt là thánh I-nhã đang đọc lời khấn và 5 người bạn khác. Bảng lưu niệm thánh I-nhã và các bạn khấn được đặt ở tầng trên, có lẽ để khách hành hương dễ thấy và dễ đọc hơn. Không biết ai đã đặt tranh và bảng ấy từ khi nào.
Năm 1686, đan viện phá bỏ đan viện trên đỉnh đồi, mở rộng nhà ở khu vực đền, và chuyển toàn bộ nữ tu xuống. Nhà thờ Saint-Pierre được giữ làm nhà xứ cho giáo dân trong khu vực. Vào thời Cách Mạng Pháp, toàn bộ khu đan viện và ngôi đền bị phá huỷ, trong khi nhà thờ Saint-Pierre vẫn nguyên vẹn. Lúc ấy, số giáo dân thuộc giáo xứ là gần 700.
Sau khi Dòng Tên được tái lập năm 1814, các Giêsu hữu ở Paris đã cố tìm lại địa điểm ngôi đền cũ, nhưng không tìm được. Năm 1824, các tập sinh cho biết đã đến tìm nhưng không thấy một vết tích nào. Năm 1834, kỷ niệm 300 năm ngày thánh I-nhã và các bạn khấn tại Montmartre, Dòng Tên đã tổ chức lễ tại nhà thờ Saint-Pierre. Năm 1855, cha Toumesac, một kiến trúc sư nổi tiếng cùng với một nhóm Giêsu hữu quyết tâm đi tìm lại địa điểm ngôi đền ngày xưa. Đối chiếu nhiều tấm bản đồ thực hiện vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, các cha xác định được địa điểm và vẽ bản đồ chỉ dẫn. Năm 1871, cha sở nhà thờ Sainte-Madeleine tại Paris mua một miếng đất trong khu vực và cho dựng một nhà nguyện tạm thời bằng gỗ. Sau đó, các Nữ Tu Auxiliatrices cho xây một nhà nguyện theo kiến trúc gôtíc, kể cả một tầng hầm. Hiện nay, nhà nguyện ấy ở số 11, rue Yvonne le Tac, quận 18.
Chắc chắn nhà nguyện dưới hầm hiện nay không thật chính xác là ngôi đền thời thánh I-nhã, vì khi đào xuống để làm tầng hầm, người ta không thấy dấu vết nào. Tuy nhiên, có lẽ địa điểm ngôi đền cũ không cách xa nhà nguyện hiện nay bao nhiêu.
[1] Hk 72. Năm 1387, tại nơi hiện nay là Hotel-Dieu, gần nhà thờ Notre-Dame de Paris, có xảy ra một việc mà thời ấy người ta còn đồn đại mãi. Ởđó có một tiệm patê (thịt xay và nướng) ngon nổi tiếng. Bên cạnh tiệm ấy là một tiệm hớt tóc. Một hôm có một con chó tru tréo mấy ngày đêm, cho tới chết, trước cửa hai nhà ấy. Người ta nghi ngờ nên điều tra và khám phá ra là chủ của con chó, một sinh viên người Đức, đã vào tiệm hớt tóc ấy và đã bị người thợ hớt tóc giết, chuyển sang cho người hàng xóm làm patê! Hai người thông đồng với nhau như vậy từ lâu (X. Jacques Hillairet, Connaissance du vieux Paris, Rive gauche et les iles, Editions Princesse, Paris 1954, trang 7). Có thể do chuyện này mà hơn 100 năm sau người Tây Ban Nha vẫn truyền tụng người Pháp xiên người để nướng chăng.
[2] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 74.
[3] Hk 73.
[4] Hk 73.
[5] Jan van Standonk, sinh năm 1443 tại Malines (Bỉ), lúc nhỏ học với các Anh em Đời Sống Chung, theo linh đạo Devotio Moderna. Năm 1483: hiệu trưởng Montaigu. Năm 1490: lập nhóm sinh viên nghèo. Nhóm này gần như một dòng tu: 1) học như những người khác; 2) sống thành công đoàn; 3) mặc đồng phục; 4) tuyên lời khấn tạm; 5) đọc kinh và dự lễ nhưđan sĩ; 6) hằng ngày xin ăn ở cổng đan viện Chartreux. Vào đầu thế kỷ XVI, nhóm sinh viên nghèo lên tới 200 người.
[6] HK 73.
[7] Ignace de Loyola a Paris (1528-1535), AHL 1992, trang 10.
[8] Hk 74.
[9] Thánh Giacôbê Cho Khách Hành Hương ở nơi hiện này là số 16-18 Rue de la Grande-Truanderie, đối diện nhà thờ Saint-Leu Saint-Gilles trên đường Saint-Denis.
[10] X. Marcel Fosseyeux, L'assistance parisienne au milieu du XVIè siècle, Société de l'Histoire de Paris, XVIII, 1916, tr. 114.
[11] Hk 74-75.
[12] Hk 75.
[13] Thánh I-nhã, linh mục, sáng lập Dòng Tên, từng trọ tại nhà này.
[14] Tại thành phố này người ta tôn kính điều được coi là Máu Chúa Giêsu và hằng năm rước long trọng vào lễ Thăng Thiên. Là người rất thích các di tích về Chúa Giêsu v dễ tin như mọi người thời ấy, rất có thể thánh I-nhã đã đến viếng và ngay cả tham dự cuộc rước.
[15] Nhà thông thái này (1492-1540) gốc Do Thái, sinh tại Tây Ban Nha, học tại đại học Paris, theo cha là thương gia đến định cư tại Brugge từ năm 1512. Ông thông thạo Cưu Ước, chống đối triết học Kinh Viện, theo linh đạo qui Kitô. Vì chống việc vua Henry VIII nước Anh ly dị hoàng hậu Catarina nên ông phải rời Luân đôn.
[16] Từ 1553 đến 1558 là nữ hoàng Anh, thường được gọi là Catholic Mary vì bà theo Công Giáo, hay Bloody Mary, vì bách hại người theo Anh giáo.
[17] Hk 77.
[18] Hk 77-78.
[19] Hk 78-79.
[20] Hk 81.
[21]Đánh đòn công khai: người có lỗi phải cởi trần, quì gối; các giáo sư và sinh viên lần lượt mỗi người đến đánh một roi vào lưng. Có lẽ sau này vị giáo sư này hiểu rõ đầu đuôi hơn, nên thánh I-nhã không bị nhục hình ấy. Ít lâu sau, ngài sẽđến nội trú tại Sainte-Barbe mà không gặp khó khăn nào.
[22] Theo P. Ribadeneira, việc đe dọa phạt đánh đòn tập thể xảy ra sau này, khi thánh I-nhã đã ở học viện Sainte-Barbe và dẫn nhiều sinh viên đi lễ Chúa Nhật, không tham dự các buổi tranh luận. Thánh I-nhã đến gặp giáo sư Gouveia, và vị này quỳ gối xin lỗi ngài. (X. MHSJ 93, trang 223.227). Các nhà phê bình nghi ngờ tính xác thực của tác giả này.
[23] Hk 82.
[24]Đường này hiện nay không còn nữa.
[25] Giữa hai học viện có một hiềm khích ngấm ngầm. Montaigu thường để chất thải chảy ra Rue des Chiens khiến sinh viên hai bên thường cãi cọ với nhau. Năm 1522, con đường được lát đá, chất thải không ngấm được nên đường càng dơ bẩn hơn. Một hôm đang đêm sinh viên Sainte-Barbe lấy đá đập phá cửa sổ Montaigu. Sinh viên Montaigu trả đũa bằng cách đập phá lò nướng bánh của Sainte-Barbe. Giới hữu trách hai bên phải họp bàn và Montaigu cho đào một cống ngầm dẫn chất thải vào mọt hầm trong vườn. Từ đó sinh viên hai bên mới làm hòa với nhau.
[26] Michel Certeau, trong Pierre Favre, Memerial, Collection Christus n.4, DDB 1960, trang III.
[27] Hiện nay tại khuôn viên học viện ấy, người ta xây một ngôi trường cấp hai vẫn mang tên cũ: cổng vào ở số 4 Rue Valette, gần điện Panthéon; cổng vào học viện Sainte-Barbe cũở số 2 Rue Cujas.
[28] Francois de Dainville, SJ, Saint Ignace et l'Humanisme, Cahiers Universitaires Catholiques, 9-10, Juin-Juillet 1956, tr. 461.
[29] H. Bernard-Maitre, SJ, Les fondateurs de la compagnie de Jésus a Paris: 1525-1535, tr. 832.
[30] Số 2 Rue de Cujas hiện nay.
[31] Tiếc là tòa nhà dành làm ký túc xá Sainte-Barbe không còn nữa, nên chúng ta không biết đích xác về căn phòng này.
[32] Baccalaureatus ès Artes.
[33] Licencia.
[34] Hk 82.
[35] Nation de France. Các học viện Paris được chia thành 5 Nations: 1) Khối dân Pháp bao gồm các học viện gốc miền nam Pháp, cùng với các nước Ý, BồĐào Nha và Tây Ban Nha; 2) Khối dân Normandie; 3) Khối dân Picardie; 4) Khối dân Đức (trước đó gọi là Anh).
[36]Địa điểm hiện nay là Lycée Henri IV, Place Sainte-Geneviève.
[37] Trước đó, vào năm 1530, thánh Phanxicô Xavier được xếp thứ 22; chân phước Phêrô Favre được xếp thứ 23.
[38] Một ở nhà thờ Notre-Dame de Paris, một ởđan viện Sainte-Geneviève.
[39] Góc đường Cluny và Sommerard hiện nay.
[40] Chừng 500 mét.
[41] Có lẽ là Jacques Aimery (Chưởng Ấn từ 1521 đến 1540).
[42] Chúng ta không biết thánh I-nhã có phải là một trong 4 người ấy không.
[43] X. Phụ trang 24.
[44] Nhà cải cách Martin Luther (1483-1546), người khai sinh phong trào Tin Lành. Là tu sĩ dòng Thánh Âutinh và là giáo sư Kinh Thánh, ông bất mãn trước cách sống thế tục của giáo triều Rôma. Đặc biệt khi linh mục Johann Tetzel, dòng Đaminh, kêu gọi giáo dân xứ Saxe ở Đức góp tiền của xây dựng đền Thánh Phêrô ở Rôma để hưởng ân xá, bằng những lời lẽ nặng phần kinh doanh, ông cực lực phản đối. Năm 1517, ông yết thị bản 95 luận điểm thời danh ở cửa nhà thờ lâu đài Wittenberg, chủ yếu chống việc mua bán ân xá, và nhấn mạnh giáo lý của thánh Phaolô về công chính hóa không phải do việc làm nhưng do đức tin. Biến cố này đã gây chấn động ở Đức. Đức Giáo Hoàng Lêô X muốn thỏa hiệp, nhưng tư tưởng của ông ngày càng xa với giáo huấn của Tòa Thánh. Năm 1520 đánh dấu việc ông đoạn tuyệt với Tòa Thánh qua các tác phẩm Gởi hàng quý tộc Kitô giáo nước Đức, Hội Thánh lưu đày ở Babylon và Tự do Kitô giáo: ông đòi cải cách Hội Thánh triệt để theo quan điểm thần học của mình, tức là chỉ nhìn nhận một thẩm quyền duy nhất là Kinh Thánh. Đức Giáo Hoàng Lêô X ra sắc chỉ Exurge Domine kết án 45 luận điểm của Luther, nhưng ông đem sắc chỉ ra đốt công khai. Ngày 3.1.1521, ông bị vạ tuyệt thông. Tuy nhiên, tư tưởng của ông vẫn được không ít người ủng hộ.
[45] Đó là bức tượng bằng đá cao chừng 80 cm, đầu Đức Mẹ đội triều thiên, tay phải bồng Chúa Giêsu, tay trái cầm một bông huệ. Tượng này được sửa chữa lại và nay được tôn kính tại nhà thờ Saint-Gervais ở Paris dưới danh hiệu Đức Mẹ Giải Thoát (Notre-Dame de la Délivrance).
[46] Nay là rue Ferdinand Duval.
[47] Commentaire sur les 4 évangiles.
[48] Sau đó thua trận Pavia và bị bắt làm tù binh ở Madrid.
[49] Hiện nay là Collège de France ở Quảng trường Berthelot giáp đường Saint-Jacques.
[50] Mon. Bobadilla, MHSI 46,trang 614-5.
[51] Lt 352-370.
[52] Un grand serviteur du Portugal en France, Diogo de Gouveia, Coimbra editora, Limitada, 1952, trang 59.
[53]Ở các số 55-75 đường Saint-Jacques hiện nay.
[54] Monumenta Bobadillae, MHSI 46, trang 614-615.
[55] Ep. Ign. I, MHSI 22, trang 133-134.
[56] Trong bảng danh sách các giáo sư và sinh viên đại học Paris được ghi trên tường thư viện Sainte-Geneviève hiện nay, tên của Jean Calvin được ghi ngay sau thánh I-nhã, kếđến là Michelangelo. Hai người có gặp nhau không? Nếu hiệu gặp là thấy nhau thì chắc có, vì hai người ở hai nhà sau, hằng ngày có thể gặp nhau. Tuy nhiên, nếu hiểu gặp là bàn luận với nhau những vấn đề sâu xa thì chắc không. Trước hết, hai người tuổi tác khá cách biệt. Thứđến, lúc ấy thánh I-nhã chưa biết tiếng Pháp và chưa thông thạo tiếng Latinh, mà Calvin chỉ biết hai tiếng ấy. Cuối cùng, thời gian hai người ở gần nhau rất ngắn ngủi, không đủđể bàn luận những chuyện quan trọng như canh tân Hội Thánh.
[57] X. Louis Pastor, Histoire des Papes, tome IX, Plon 1913, trang 179-378.
[58] Ngày nay chúng ta biết bản văn do một mục sưở Neuchatel, Thụy Sĩ, là Antoine Marcourt soạn. X. Janine Garrison, Les Protestants au XVIè siècle, Fayard 1988, trang 165.
[59] Hk 84.
[60] Thánh Phanxicô Xavier lấy văn bằng chỉ vài ngày sau; chân phước Phêrô Favre mãi 6 năm sau mới lấy.
[61] Tiếng chuyên môn là Ineptio.
[62] Tạm dịch Magister Artum.
[63] X. FD, trang 386; 395-396.
[64] Ep. Ign. I, MHSJ 22, 91-92.
[65] FN I, tr. 100.
[66] FN II, tr. 555.
[67] FN II, tr. 555.
[68] FN II, tr. 198.
[69]X. Robert Rouquette, Ignace de Loyola Dans le Paris intellectuel du XVIè siècle, trang 32.
[70] Nhà nguyện do vua thánh Louis IX xây dựng vào thế kỷ XIII để lưu giữ các di tích về cuộc Thương Khó mà ngài đã chuộc được.
[71] Xem phụ trang 25.
[72] Hiện nay ở bãi đậu xe số 248 rue Saint-Jacques. Nhà thờ Notre-Dame des Champs hiện nay ở dịa điểm khác.
[73] MHSI 25, tr. 523, 722. Xem phụ trang 26.
[74] Trước giờăn, bất thình lình một giám luật bắt người bị phạt, lột áo, bắt qùy trước phòng ăn, các giáo viên và sinh viên mỗi người đến đánh một roi vào lưng. Hình phạt không nhắm làm cho đau, nhưng muốn làm cho xấu hổ.
[75] Hk 82-84.
[76] Trại phong này được thành lập năm 1497 và giải thể vào năm 1550. Địa điểm hiện nay là góc đường Sevres và Babylone, khu vực công viên Boucicaut và một phần siêu thị Bon Marché.
[77] X. Henri Fouqueray, Histoire de la Compagnie de Jésus en France, tome I, Librairie Alphongse Picard et Fils, Paris 1910, trang 26.
[78] Một thanh niên quen, có quan hệ không tốt với một phụ nữ ở ngoại thành. Thánh I-nhã vận dụng hết cách để thuyết phục, nhưng không được. Một hôm, biết ké ấy sắp đi, thánh I-nhã đến chỗ cầu bắc ngang qua sông trên đường, chờ. Vừa ty kẻ ấy đến, ngài cởi bỏ quần áo ngoài, giữa trời mùa đông giá lạnh, xuống nước ngâm mình tới cổ. Khi kẻ ấy đến, ngài nói: không biết la Chúa sẽ phạt sao? Tôi ở đây để cầu nguyện và đền tội cho anh, cho tới khi anh về, cho tới khi anh bỏ ý định để tránh bị Chúa phạt. Người ấy hoán cải. X. FN I, MHSI 66, trang 362-364.
[79] Có một linh mục sống phóng túng. Thánh I-nhã đến xưng tội chung cảđời, với lòng thống hối chân thành. Bịđánh động, vị linh mục xin ngài giúp tập Linh Thao, và hoán cải, trở nên một tấm gương vềđời sống đức hạnh. X. Bartoli I, 198.
[80] Đó là một tiến sĩ thần học. Được người ấy rủ chơi billards, thánh I-nhã nói: "Tôi không có tiền, mà chơi không thì không thú vị. Đề nghị là nếu tôi thua, tôi hầu hạ anh một tháng, bảo gì làm nấy. Nếu tôi thắng, chỉ xin anh làm một việc có ích cho linh hồn anh thôi." Kết quả là ngài thắng và giúp người ấy tập Linh Thao một tháng. X. Bartoli I, 198.
[81] FN I, MHSI 66, trang 181.
[82] Polanco, Summarium Hispanum de Origine et progressi Societatis Iesu, số 51.
[83] Các từẤn Độ trong số 80 này đều nghĩa là Mêhicô. Khi tìm ra Châu Mỹ năm 1492, Colombo tưởng đó là Ấn Độ. Vì thế trong thời gian đầu, người ta gọi Châu Mỹ là Ấn Độ.
[84] Nhiều người dịch là hiệp sĩ. Nguyên văn là comendatore: tước dành cho một giáo sĩđược hưởng vinh dự và bổng lộc như một hiệp sĩ.
[85] Chính xác là giáo phận Chiapas ở Mêhicô.
[86] Hk 80.
[87] Thánh I-nhã.
[88] Favri Monumenta, MHSI 48, trang 493.
[89] De vita Francisci Xavierii, Ex Officina Ioachim Trognaesi, MDXCVI, trang 11.
[90] Xem Francis Xavier, his life, his time, Volume I, The Jesuit Historical Institute, trang 140-188.
[91] Thư thánh Phanxicô Xavier ngày 25.3.1535, gởi gia đình, số 5. X. Bút tích Thánh Phanxicô Xavier, Hoàng Sóc Sơn giới thiệu, dịch và chú thích, tập I, trang 93.
[92] Thư thánh Phanxicô Xavier ngày 25.3.1535, gởi gia đình, số 7. X. Bút tích Thánh Phanxicô Xavier, Hoàng Sóc Sơn giới thiệu, dịch và chú thích, tập I, trang 95.
[93] Georg Schurhammer, sđd, trang 186.
[94] Thư thánh Phanxicô Xavier ngày 25.3.1535, gởi gia đình, số 6. X. Bút tích Thánh Phanxicô Xavier, Hoàng Sóc Sơn giới thiệu, dịch và chú thích, tập I, trang 94.
[95] X. FN II, trang 565. Theo tập tục của đại học Paris thời ấy, mỗi năm giáo viên mời sinh viện học với mình ăn tiệc hai lần, và trong những dịp ấy, họđóng học phí cho giáo viên.
[96] X. FN III, trang 249-320.
[97] Thánh I-nhã sẽ gặp khó khăn nữa với anh này ở Rôma.
[98] Thư thánh Phanxicô Xavier ngày 25.3.1535, gởi gia đình, số 7. X. Bút tích Thánh Phanxicô Xavier, Hoàng Sóc Sơn giới thiệu, dịch và chú thích, tập I, trang 95.
[99] De origine et progressu Soc.Jesu, MHSI 24, tr. 455.
[100] Cha Miona sau này gia nhập Dòng Tên tại Rôma năm 1545.
[101] Epist. Nad. 1, MHSI 13, trang 1-3.
[102] De origine et progressu Soc.Jesu, MHSI 24, tr. 497.
[103] Trong lời khấn ở Montmartre, không thấy nói gì đến chức linh mục. Thật ra chúng ta không biết chắc chắn thời điểm thánh I-nhã quyết định làm linh mục. Theo Joseph Conwell, có lẽ khi ngài cùng nhận định với các bạn ở Paris năm 1534, khởi đầu với chân phước Phêrô Favre rồi với thánh Phanxicô Xavier, từng người và cả nhóm đã quyết định làm linh mục (X. Impelling Spirit, trang 69-73). Tại Venezia năm 1537, trong khi chờ tàu đi Giêrusalem, việc thụ phong linh mục hình nhưđã được quyết định sẵn rồi. Theo Jean-Claude Dhotel, vài "vào năm 1543, tất cả các bạn đã hướng đến chức linh mục, kể cả thánh I-nhã" (X. Le voeu de Montmartre).
[104] Hk 85.
[105] Fabrii Monumenta, MHSI 48, tr. 496.
[106] Mont. Ign., MHSI 25, trang 111 và 139.
[107] Thánh Phêrô Kanis cho biết theo lời kể của chân phước Phêrô Favre thì sự kiện diễn ra tại nhà nguyện Notre-Dame-Des-Champs, chứ không phải ở Montmartre (X. MHSI 25, Mont. Ign. 4, trang 721). Tuy nhiên, như chúng ta thấy trên đây, chính chân phước Phêrô Favre viết là tại Montmartre.
[108] MHSI 24, trang 457; MHSI 25, trang 523.
[109] MHSI 66, tr. 187.
[110] Theo đan sĩ Diart, đó là mùa hè nóng chưa từng thấy ở Paris (Journal, trang 169).
[111] Pierre Favre, Mémorial, Collection Christus n.4, DDB 1960, trang 8.
[112] De origine et progressu Soc.Jesu, MHSI 24, tr. 458.
[113] Thời ấy, những người đạo đức tại Paris thường đi hành hương theo vết chân thánh Denis, giám mục tiên khởi Paris: khởi hành từ nhà nguyện Notre-Dame-des-Champs, nơi ngài bị bắt (cách Sainte-Barbe chừng 600 mét về hướng nam), kết thúc tại nhà nguyện TửĐạo ở Montmartre, nơi ngài và các bạn bị chém (cách Sainte-Barbe chừng 4000 mét về hướng bắc). Có lẽ vì thế thánh Phêrô Kanis nghĩ lễ khấn diễn ra tại nhà nguyện Notre-Dame-des-Champs. X. Mont. Ign. 4, MHSI 25, tr. 721.
[114] Xem phụ trang 26.
[115] Nơi hiện nay là ngã ba Rue Girardon và Impasse Girardon, cách Đền TửĐạo chừng 400 mét.
[116] Bobadillae Monumenta, MHSI 46, trang 498.
[117] MHSI 24, trang 547.
[118] Bảng này bằng đồng được đặt ở nhà nguyện bên trên, để mọi người có thểđọc được, vì nhà nguyện bên dưới tối quá, ít ai đến.
[119] X. Henri Fouqueray, Histoire de la Compagnie de Jésus en France, tome I, Librairie Alphongse Picard et Fils, Paris 1910, tr. 649.
[120] X. Henri Fouqueray, Histoire de la Compagnie de Jésus en France, tome I, Paris 1910, tr. 50.
[121] Saint Francis Xavier, his life, his time, I, trang 215.
[122] Mont. Ign., MHSI 25, trang 111 và 139.
[123] X. Saint Igance, trang 211.
[124] Hk 84-85.
[125] HK 74.
[126] X. Ricardo Garcia-Villoslada, S.J., San Ignacio de Loyola, Nueva Biografia, trang 369.
[127] Trong thư gởi bà Isabel Roser năm 1532, ngài bày tỏ cái nhìn rất thiêng liêng về bệnh tật: "Một người phục vụ Thiên Chúa sau khi trải qua một cơn bệnh sẽ trở thành một tiến sĩ cỡ nhỏ trong việc hướng dẫn và sắp xếp đời sống mình để tôn vinh và phục vụ Thiên Chúa." X. Ep. Ign. I, MHSI 22, trang 85.
[128] Tiếc là ngày nay chúng ta không giữđược bản Linh Thao thánh I-nhã trao cho vị thanh tra giáo lý ở Salamanca và ở Paris. Giả như còn giữđược, chúng ta có thể biết rõ hơn những thay đổi trong bản văn, đặc biệt trong thời gian ngài ở Paris.
[129] Người ta không còn giữđược tờ biên bản này. Tuy nhiên, một tài liệu khác vào năm 1537 có nói đến nội dung sự việc. Cha Thomas Laurent, O.P., thanh tra giáo lý tại Paris xác nhận vị tiền nhiệm, Valentin Liévin, nhìn nhận thánh I-nhã vô tội và ca ngợi ngài nữa. Việc thánh I-nhã đòi bằng được giấy chứng nhận ngài vô tội: một phần ngài đã bị tố cáo nhiều lần rồi, nếu có giấy chứng nhận về sau sẽ bớt phiền phức; mặt khác ngài sợảnh hưởng đến hoạt động tông đồ của ngài và đến các bạn cùng chí hướng.
[130] Hình như người tố cáo là tiến sĩ Pedro Ortiz (1501-1548), người từng năng nổ vận động để Erasme và Briçonnet bị kết án. Từ năm 1530, ông là sứ thần của hoàng đế Karl V cạnh Tòa Thánh. Sau này, vào năm 1537, thánh I-nhã không theo các bạn rừ Venezia đi Rôma vì sợ ông sẽ gây trở ngại cho nhóm. Tuy nhiên, chính ông lại giúp các bạn ngài và sau này tập Linh Thao với ngài.
[131] Hk 87. Diego Laínez nói thánh I-nhã vẫn đi bộ như trong các chuyến đi khác (MHSI 66, tr. 104). Tuy nhiên, nhân chứng Ana de Anchieta 60 năm sau còn nhớ là con ngựa thánh I-nhã cỡi đến Azpetitia năm 1535 "nhỏ và màu hạt dẻ" ( MHSI 56, tr. 204).
[132] Theo Paul Dudon, tr. 213: "khoảng ngày 25.3", "có lẽ ngày 30, tức là thứ ba tuần Phục Sinh".
[133] Năm 1535, Marino Giustiniano, một du khách người Venezia mô tả: "Paris không rộng hơn Venezia bao nhiêu; đi bộ từ từ trong 3 giờ thì hết một vòng thành phố." X. Jean-Pierre Babelon, Nouvelle Histoire de Paris au XVIè siècle, Hachette 1986, tr. 164.
[134] Kỹ thuật in do Grutenberg sáng chế tại Satrabourg năm 1439. Xưởng in đầu tiên được thành lập tại Paris năm 1470. Theo Jean-Pierre Babelon, vào năm 1500 Paris có 70 nhà in, đến năm 1550 con số này lên đến 102, hầu hết tập trung tại Khu Latinh. Thường mỗi nhà in cũng là một tiệm sách. Trong thế kỷ XVI, số sách được in tại Paris là 25 ngàn cuốn (15 ngàn tại Venezia, 13 ngàn tại Lyon). X. Nouvelle Histoire de Paris au XVIè siècle, Hachette 1986, tr. 102.
[135] Lúc ấy Paris còn là một giáo phận nằm trong giáo tỉnh Sens.
[136] X. Henri Bernard-Maitre, Un grand serviteur du Portugal en France, Diogo de Gouveia, Coimbra editora, Limitada, 1952, tr. 58.
[137]Nhà văn Pháp François Rabelais, người tôn Erasme là "cha và mẹ", trong cuốn Gargantua (tập II, chương 7), có viết một câu châm biếm: "Le farguenat des Espaignolz supercoquelicantiqué par Frai Inigo."(Xin tạm dịch: Mùi hôi nồng nực Tây Ban Nha được tu sĩ Inigo đưa lên tận mây xanh). Có người cho rằng Inigo chính là thánh I-nhã ở học viện Montatigu dơ bẩn. Nhà nghiên cứu Abel Lefranc cho rằng lúc ấy thánh I-nhã chưa nổi tiếng đến nỗi được đưa vào văn học; có lẽ Inigo của Rabelais là một nhân vật tiêu biểu cho hạng người ăn ở dơ bẩn trong kịch nghệ Tây Ban Nha. X. Oeuvres de Fr. Rabelais, édition critique, Librairie ancienne Edouard Champion 1922, trang 88.
[138]Ở nơi hiện nay là Place A. Honnorat, tức là khoảng trống bên trong cổng chính Vườn Luxembourg; cổng vào lâu đài cũở nơi hiện nay là số 64 Boulevard Saint-Michel.
[139] X. A. Ravier, Ignace de Loyola et la Chartreuse de Paris, Etudes Ignatiennes, tr. 230.


![[Bí tích thống hối hòa giải – Xưng tội tiến đức]: IV. Phần kết: Những sự kiện cần đặc biệt lưu ý [Bí tích thống hối hòa giải – Xưng tội tiến đức]: IV. Phần kết: Những sự kiện cần đặc biệt lưu ý](https://files.dongten.net/dongten/storage/2019/09/14899473704558_700-300x200.jpg?X-Amz-Algorithm=AWS4-HMAC-SHA256&X-Amz-Credential=cf834cba-572d-4598-8c21-86275f3840b8%2F20260906%2Fus-east-1%2Fs3%2Faws4_request&X-Amz-Date=20260906T060718Z&X-Amz-Expires=86400&X-Amz-SignedHeaders=host&X-Amz-Signature=850c1461214cc67607c6ec1e5484eb29137cf2019bc6bd56310f6644555d4917)

![[Bạn Đường Đức Giêsu]: Sự thật là gì? [Bạn Đường Đức Giêsu]: Sự thật là gì?](https://files.dongten.net/dongten/storage/2019/12/IMG_9523-300x169.jpeg?X-Amz-Algorithm=AWS4-HMAC-SHA256&X-Amz-Credential=cf834cba-572d-4598-8c21-86275f3840b8%2F20260906%2Fus-east-1%2Fs3%2Faws4_request&X-Amz-Date=20260906T060718Z&X-Amz-Expires=86400&X-Amz-SignedHeaders=host&X-Amz-Signature=fd733dd68a406032463db899e1e976e3d1afd486ff0395113a5b1db8edc67039)


