TẬP LỊCH SỬ NƯỚC ANNAM
Tác giả: Đỗ Quang Chính, sj.
Chúng ta đều biết rằng, chữ Việt ngày nay đã do nhiều linh mục dòng Tên ở Việt Nam sáng tác vào đầu thế kỷ 17, còn người có công xuất bản đầu tiên (năm 1651) hai cuốn sách chữ quốc ngữ mới là linh mục Đắc Lộ. Ngoài ra, chúng ta cũng nói được rằng, nhiều thầy giảng Việt Nam đã giúp các linh mục dòng Tên hoàn thành chữ quốcngữ mới và chính các ông là những người Việt Nam đầu tiên học và truyền bá lối chữ này cho đồng bào mình, mặc dầu rất hạn hẹp.
Trong các bản văn chữ quốc ngữ mới do người Việt Nam viết vào giữa thế kỷ 17, có ba bản văn viết tay rất quý giá, hiện lưu trữ tại Văn khố dòng Tên ở La Mã.[1]
Thứ nhất là bức thư của thầy giảng Igesico Văn Tín viết tại Đàng Ngoài ngày 12-9-1659 và đã nhờ tàu buôn Hòa Lan trao cho linh mục dòng Tên G.F.de Marini lúc đó về La Mã (mới bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài năm 1658)2. Bức thư này gồm hai trang giấy: trang một viết trong khổ 16*24cm, trang hai trong khổ 16*9cm, vì trang này chỉ có 11 dòng chữ. Thầy Văn Tín viết chữ tương đối thưa. Tác giả “làm thư” này để thăm Marini; trong thư ông bày tỏ lòng thương nhớ linh mục rất nhiều: ơn Thài xưa dại dõ tôy nhèu đàng cho nên thàn mà ráp cậi Thài cho nen chãng hai bai giờ vứang thài tôy càng buồn hơn nưã mà ướoc au cho được thai mạt Thài như con tlon mẹ vè cho được bú bại…” [2] (ơn Thầy xưa dạy dỗ tôi nhiều đàng cho nên thánh mà ráp cậy Thầy cho nên chẳng hay bây giờ vắng thầy tôi càng buồn hơn nữa mà ước ao cho được thấy mặt Thầy như con trông mẹ về cho được bú vậy).
Thứ hai là bức thư của thầy giảng Biển Đức Thiện (Bento Thiện) viết tại Đàng Ngoài (ở Thăng Long) ngày 25-10-1659 cũng gởi cho linh mục G.F.de Marini cùng một trật với thư của thầy Văn Tín. Thầy giảng Biển Đức Thiện có lẽ đã được linh mục Gaspar d’Amaral ghi tắt là Bento trong sổ bộ thầy giảng Đàng Ngoài năm 1637. Nếu đúng như thế thì năm 1637, ông mới là kẻ giảng chứ chưa có chức thầy giảng, và lúc đó ông được 23 tuổi, gia nhập đạo Công giáo đã 10 năm [3], tức là một trong những người theo đạo Công giáo đầu tiên ở Đàng Ngoài.
Thư dài hai trang, viết chữ nhỏ: trang 1 viết trong khổ 16*28cm, trang hai trong khổ 19*28cm. Tác giả báo tin cho linh mục Marini về tình hình chung các thầy giảng, kẻ giảng, các giáo hữu và về hoạt động của mấy linh mục dòng Tên như Rangel, Borgès. Hơn nữa ông cũng nhắc tới việc Marini đi La Mã và ông tỏ ra mến nhớ linh mục nhiều: “… tôy làm thư nầi xin cho đến Thầi như bàng độy ớn Thầi bài chãng biét là tôy có được gạp Thầi nữa chăng, vì một ngài là một xa thì tôy xin Thầi nhớ đến tôy là tôy tá ở nhà các Thầi tôi lại ước au cho được ăn mày nhà các Thầy cho đến chết tôi là Kẽ mọn chãng đáng đến đức Thánh Papa thì xin cổu Thầi sẽ làm phúc cho ăn mái côủ ấy tôi độy ơn Thầi lám”. [4](Tôi làm thư này xin cho đến Thầy như hằng độiơn Thầy vậy chẳng biết là tôi có được gặp Thầy nữa chăng, vì một ngày là một xa thì tôi xin thầy nhớ đến tôi là tôi tá ở nhà các thầy tôi ước ao cho được ăn mày nhà các thầy cho đến chết tôi là kẻ mọn chẳng đáng đến đức thánh Papa thì xin công Thầy sẽ làm phúc cho ăn mày công ấy tôi đội ơn Thầy lắm).
Thứ ba là tập Lịch sử nước Annam có lẽ là tập Lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ mới, còn được giữ lại cho đến ngày nay. Đây chính là tài liệu chúng tôi muốn trình bày với bạn đọc.
Tập Lịch sử này dài 12 trang giấy, chữ nhỏ li ti: 11 trang đầu viết trong khổ 19*28cm, trang cuối cùng trong khổ 19*6cm và chỉ có 9 dòng chữ. Tuy ở trang 12 tức trang cuối cùng, tác giả không ghi dấu gì tỏ là phần kết thúc, nhưng theo nội dung cho ta thấy có lẽ tác giả chú ý chấm dứt ở đây.
Trứơc hết nên biết rằng, tác giả không ký tên, không đề nơi và năm tháng soạn thảo. Tuy nhiên chúng tôi dám chắc là tài liệu này do thầy giảng Biển Đức Thiện viết tại Đàng Ngoài; vì, nếu đem so sánh chữ viết tập Lịch sử này với bức thư của Biển Đức Thiện mà chúng tôi vừa sơ lược ở trên, thì thấy giống hệt nhau. Còn về năm soạn thảo cũng vào năm 1659, và người nhận là linh mục G.F.de Marini lúc đó đi La Mã.
Sở dĩ chúng tôi dám viết như thế là vì hai bức thư trên đây của Biển Đức Thiện và Văn Tín, cùng tập Lịch sử nước Annam được đóng liền nhau nhất là trên đầu bức thơ của Biển Đức Thiện, tác giả ghi rõ bằng tiếng Bồ Đào Nha: Ao Pe Philipe Marini (gởi cho cha Philiphê Marini). Như thế cho phép chúng ta hiểu rằng, cả ba tài liệu này được gửi cùng một trật cho linh mục Marini vào cuối năm 1659. Hơn nữa, chính Marini đã yêu cầu Biển Đức Thiện viết cho ông một số tài liệu lịch sử Annam hầu bổ túc cho bộ sách tiếng Ý của ông về Việt Nam mà ông sẽ cho xuất bản sau này. Bộ sách gồm 5 quyển được in tại La Mã năm 1663, hai năm sau được tái bản ở Vénise, đến năm 1666 phần đầu bộ sách lại được xuất bản bằng Pháp ngữ ở Ba Lê.[5]
Tập Lịch sử nước Annam không được phân chia từng tiết mục rõ ràng tuy nhiên tác giả đã trình bày các vấn đề theo thứ tự sau đây: chính trị, xã hội, thi cử, hành chính, tín ngưỡng. (chúng tôi bỏ phần chính trị, từ truyện Lạc Long, Âu Cơ, đến cuộc phân tranh của nhà Trịnh, Mạc, Nguyễn, vì sợ dài) Riêng phần chính trị đã chiếm hết 50% tài liệu, số còn lại dành cho các phần kia, mà chúng tôi xin trích ra những điểm hữu ích hơn: Chúng tôi sẽ chuyển sang lối viết ngày nay cho dễ đọc, nhưng tuyệt đối tôn trọng cách hành văn của tác giả, kể cả dấu chấm, phết.
I. LỊCH SỬ XÃ HỘI [6]
1. Lễ tiết trong năm
“Thói nước Annam, đầu năm, mùng một tháng giêng gọi là ngày tết Thiên hạ đi lậy vua đoạn lậy chúa mới lậy ông bà ông vải cha mẹ, cùng Kẻ cả bề trên, quan quyền thì lậy vua chúa, thứ dân thì lậy bụt trước, ăn tết ba ngày mà một ngày trước mà xem ngày mùng hai mùng ba, ngày nào tốt, thì vua chúa đi đền giao, gọi là nhà thờ trời, hiệu thiên thượng đế, hoàng địa kì, vua chúa đi lậy mà xin cho thiên hạ được mùa cùng dân an, đến mùng bẩy mùng tám mới hết cúng làm cỗ cho thiên hạ ăn, mười ngày, lại xem ngày nào tốt, mới mở ấn ra cho thiên hạ, đi chầu cùng làm việc quan cùng hỏi kiện mọi việc (…), đến hạ tuần tháng giêng, đức chúa lại tế kí đạo dưới bãi cát, làm đàn thờ, trước thì thờ thiên Chúa thượng đế một đàn, là một đàn từ vua Lê Thái Tổ cho đến nay, một đàn thì thờ Thần Kì đạo, đức chúa lậy ba đàn này đoạn đến đàn Thần Kì đạo, đức chúa lậy đoạn liền chỉ gươm cùng chém lại bắn cung, đoạn lại đánh trống, mà chỉ gươm cho thiên hạ bản sứ mới đuổi đi, thì gọi là khao quân, đoạn liền về tập voi tập ngựa gọi rằng đã hết năm mới (…), đến tháng chạp ai có mồ mả cha mẹ anh em vợ chồng thì làm cỏ cùng đắp lại cho tốt cùng sạch sẽ cũng có làm cỏ mà đơm, đến gần ngày tết vua chúa ban lịch cho thiên hạ xem ngày, đến ngày ba mươi, thì đức chúa đi giội gọi là bỏ mọi sự cũ đi mà chịu mọi sự mới, đến mùng một, liền lên nêu mọi nhà…” [7]
2. Lễ tế chính thức
“Bằng sự cái phép tế các nơi, đầu năm là tế thượng đế nghĩa là thiên chúa, tế Xã tắc nghĩa là tế thiên thần, tế Khổng Vân, là tế kẻ làm mưa gió, tế thánh là tế Ông Khổng, thì phủ huyện quan tế các Thần mọi nơi thiên hạ”. [8]
3. Việc cưới hỏi.
“Bằng phép lấy vợ, trước thì xem hai bên có đẹp lòng chăng, thì nhà trai đi hỏi lấy trầu cau, đến mà nói cùng nhau, nhà gái có gả, thì nhà trai liền xem tuổi cùng xem số có tốt chăng, mới đi hỏi lại, nhà giàu thì con lợn hay là bò, như của làm tin vậy, nhà khó thì cá hay là gà, trai thì đi làm về ở nhà cha vợ ba năm mà hai bên xem ý nhau, có đẹp lòng cùng hiền lành thì mới lấy, liền đi chịu lời là hẹn ngày, hoặc là bò lợn cho họ ăn, đoạn mới cưới hoặc là trọng hèn, thì cho nhà trai ăn ngày trước, đoạn liền để một bàn độc giữa nhà, có ai đi ăn cưới, cậu, cô, chú, bác, anh, em, có ai cho của gì, vàng bạc lụa tiền vải vóc các sự thì để lên bàn độc ấy cho, đoạn hai vợ chồng ra lậy họ hàng, đến ngày sau nhà gái, mới lại ăn cưới có con hát hát mừng, đoạn xem ngày nào tốt cho nhà gái mới đưa con về cho nhà trai, mới cho của cải ruộng nương tiền bạc lúa thóc trâu bò gà lợn các vật, cho con về cùng chồng, đến ngày có con để được bẩy ngày thì đơm Mộ Bà, con trai thì bẩy ngày, con gái thì chín ngày, năm sau đến ngày ấy làm cỗ cho người ta ăn gọi là ăn tôi tôi họ hàng có đi ăn thì lại cho tiền bạc ngày ấy. Vua chúa cùng nhà quan, thì gọi là Vía, đạo đức Chúa trời thì gọi là Sinh nhật, vua chúa có rước Vía, thì thiên hạ đi lậy cúng đem của đi tiến cho vua chúa, mà người lại ban cho các con, quan thì cho áo cùng tiền quân dân thì ăn cỗ”.[9]
4. Quan võ
“Bằng sự chức bên vũ thần, trước thì chịu nam tước, bá tước, hầu tước, quận công, đề đốc, đô đốc, tả phủ, hữu phủ, thiếu bảo, thiếu phú, thái uý, thái bảo, thái phú, thái sư, phủ tướng, hữu tướng, phú nguyên suý, đô nguyên suý, đại nguyên suý, ấy là chức bên vũ.
“Bằng sự kén thiên hạ, thì sáu năm, mới một lần, ai già thì bỏ ra trai thì lấy làm lính đánh giặc, ai thứ nhất gọi là nhất hạng, hai là nhị hạng, ba là tam hạng (…), ai đã già thì bổ lão nhiêu ai có cha làm quan đời trước, thì cho công thần, kẻ ở chùa, cùng kẻ đi hát, thì về đàng khác, thầy thuốc cùng các nghề thì có chức riêng”. [10]
5. Quan văn
“(…) cấp công, là coi các thợ, cấp hộ là coi các việc đàng, cấp binh là coi các việc quân quốc, cấp lễ, là coi các Lễ quí thuế, cấp lại là coi các việc bên lệnh sử, lại lên chức khác, là đô công đô hình, đô binh, đô lễ, đô hộ, đô lại, lại chức khác, là hữu công, hữu hình, hữu binh, hữu hộ, hữu lễ, hữu lại. Tả công, tả hình, tả binh, tả lễ, tả hộ, tả lại, Thượng công, Thượng hình, Thượng binh, Thượng lễ, Thượng hộ thượng, thượng chưởng lục bộ, thì coi hết thay thảy thượng công xem việc các thợ, thượng hình xem việc bàn kiện, thượng binh xem việc quân quốc, thượng hộ xem việc đắp đàng, thượng Lễ xem việc lễ tế thượng lại xem việc các bên Văn…”. [11]
II. LỊCH SỬ THI CỬ 1. Thi hương
“ (…) ba năm, lại thi một lần, gọi là hương thi, trước thi đi khảo xã, ai có hay chữ mới lấy tên, đại xã thì hai mươi người, trung xã mười lăm người tiểu xã mười người đoạn xem ai có hay chữ thì dâng sổ cho nhà huyện, thi học trò, đi khảo nhà huyện có đỗ, thi lại khảo nhà phủ, ai hơn thì cho tên nhất, gọi là ưu, thứ hai là tứ tràng, thứ ba là tam tràng, đoạn mới họp lại làm một xứ là một tràng mà thi, có quan giữ áp tràng, bên Văn thì quan tấn sĩ, bên vũ thì quan đô đốc, công dân đàn cùng nha Ti, nhà hiến, mà học trò vào tràng thứ nhất gọi là Kinh nghĩa, khảo sách mười ngày, liền ra bảng cho thiên hạ xem tên ai đỗ thì ở lại mà thi. Ngày sau gọi là tràng Lục, ai đỗ ngày Lục, thì lại vào ngày phú, đỗ ngày phú, thì gọi là sinh đồ, lại thi một ngày nữa gọi là ngày sách ai đỗ ngày sách, thì gọi là hương cống”. [12]
2. Thi Hội
“Đến năm sau những kẻ hương cống, mới ra thi ngoài Kẻ Chợ trong đền, có vua chúa quan triều cùng thiên hạ đi ngày ấy, thì gọi là hội thi, ai đỗ bốn ngày mới gọi là tấn sĩ, liền ra bảng, cho thiên hạ biết những quan tấn sĩ ấy, liền đi lại vua chúa, đoạn lại về học, một tháng mới thi lại, ai thuộc chữ hơn đứng thứ nhất gọi là trạng nguyên, thứ hai là bảng nhãn, thứ ba là thám hoa, thứ bốn là hoàng giáp, thứ năm là chính tấn sĩ, thứ sáu là đồng tấn sĩ, ngày sau chúa cho đi làm quan các xứ”. [13]
III. LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH [14] 1. Sổ phả, huyện ở các Xứ
“Bây giờ kể các xứ Thanh hoá nghệ an quảng nam Thuận hoá đông tây nam bắc.
Thanh hóa có bốn phủ, mười bẩy huyện cùng có ba chu (…)
Nghệ an Xứ chín phủ mười hai huyện hai chu (…)
Thuận hoá hai phủ, bẩy huyện, ba trăm bốn mươi mốt xã, bảy mươi ba sách.
Bố chính sáu mươi xã bốn mươi trại.(…)
Quảng nam Xứ bốn phủ, bảy huyện hai trăm mười tám xã, ba mươi bốn trại. (…)
Hải dương Xứ, bốn phủ bảy huyển hai trăm tám xã ba mươi bốn trại (…)
Sơn tây Xứ sáu phủ bốn huyện hai chu (…)
Kinh bắc Xứ bốn phủ hai mươi huyện (…)
An ban Xứ một phủ ba huyện tám mươi bốn xã, một trăm hai trại (…)
Kềnh sơn Xứ một phủ tràng Kênh phủ bãi chu một trăm ba mươi mốt xã hai mươi sáu trại.
Thái nguyên Xứ phú bằng phủ bẩy huyện hai chu, một trăm hai mươi bốn xã một trăm ba mươi trại (…)
Cả và thiên hạ năm mươi mốt phủ, một trăm bẩy mươi hai huyện, bốn mươi tám chu, bẩy nghĩa chia trăm tám mươi bẩy xã”.
2. Riêng Sơn Nam Xứ
“Sơn Nam Xứ, mười một phủ, bốn mươi hai huyện.
Khoái chu phủ, năm huyện một trăm bẩy mươi bốn xã. Thái bằng phủ bốn huyện một trăm mười một xã, ba mươi mốt trại. Kiến xương phủ ba huyện một trăm bốn mươi xã ba trại. Tiên hưng phủ, bốn huyện chín mươi tám xã. Thường tín phủ ba huyện một trăm bốn mươi ba xã, hai mươi mốt trại. Ứng thiên phủ bốn huyện một trăm chín mươi ba xã bẩy trại. Lí nhân phủ, năm huyện hai trăm mười tám xã, tâm tại. Thiên tràng phủ, bốn huyện một trăm ba mươi hai xã, ba mươi bẩy trại. Nghĩa hưng phủ, bốn huyện, một trăm sáu mươi ba xã, bốn trại. Tràng an phủ, ba huyện, một trăm mười một xã, bốn mươi trại. Thiên quan phủ, ba huyện, sáu mươi xã hai động”.
IV. TÍN NGƯỠNG[15]
1. Thờ thổ công
“ (…) Sự Thổ công, thì thờ ngoài vườn, vì xưa có một người ở bên Ngô ở Xư Hồ quảng hay đi săn chơi trên rừng, ngày ấy thấy một trứng bỏ giữa đàng thì người ấy lấy về mà để chơi, ngày sau trứng ấy nở ra được cái rắn liền cho nó ở nhà thì nó đi bắt gà lợn người ta mà ăn thịt, hết nhiều của người ta lắm thì người ta kêu, ông ấy liền đem nó lên trên rừng là nơi trứng cũ ngày xưa, mà rằng con ở đây chớ về nhà làm chi, con sẽ kiếm ăn rừng nầy vậy, nó liền ở đấy, có gặp ai thì bắt ăn thịt dù mà trâu bò hay là ngựa cũng vậy, thiên hạ sợ chẳng có ai dám đi lại đấy nữa, thì kêu cùng vua rằng đất ấy có cái rắn dữ chẳng có ai đánh được nó, mà vua có sai ai đi thì nó cắn chết, thì chẳng còn ai dám đi, vua liền rao thiên hạ rằng ai mà đánh được rắn ấy, thì vua cho làm quan, thấy vậy người nuôi nó ngày trước liền chịu lệnh vua mà đi đến nơi nó ở nó liền ra toan cắn ông ấy thì ông ấy rằng, con cắn ông ru, này là ông nuôi con ngày xưa, mà con chẳng biết ơn ru, nó liền đến chân ông ấy, như lậy người vậy. Ông ấy liền chém một nhát nó liền chết, ông ấy về tâu vua thì phán cho làm quan thì ông ấy rằng tâu vua tôi chẳng đáng làm quan, vua phán rằng mày muốn đí gì thì tao cho ông ấy rằng tôi muốn ăn cho đủ, thì vua cho hễ là trong xứ ấy có của gì mới thì cho ông ấy ăn trọn đời. Vì vua để cho coi đất ấy, đến này sau ông ấy chết, thì Xứ ấy còn thờ ông ấy như xưa gọi là chúa đất, đến ngày sau có người Annam đến đấy thấy liền bắt chước mà về nhà làm nơi thờ mà nói rằng chúa đất cho nên người ta bắt chước người ấy cho đến nay….”
2. Chùa, nhà thờ thần
“Chùa thờ Bụt thì một làng là một chủa, nhà thờ thần thì cũng vậy chẳng kể được cho hết”.
3. Nhà thờ Công giáo
“Nghệ an Xứ những nhà thánh thờ đức Chúa trời được bẩy mươi lăm nhà thánh. Sơn nam Xứ được một trăm tám mươi ba nhà thánh. Hải dương Xứ được ba mươi bẩy nhà thánh. Kinh bắc Xứ được mười lăm nhà thánh. Thanh hoá xứ được hai mươi nhà Thánh. Sơn tây xứ được mười nhà thánh”.
Tập Lịch sử nước Annam tuy vắn nhưng tác giả đã trình bày nhiều điểm quan trọng của xã hội Việt Nam thời đó. Theo tài liệu này, chúng ta thấy được, Biển Đức Thiện viết chữ quốc ngữ mới và lối hành văn hay hơn Văn Tín; hơn nữa tác giả phải là một nhà học thức khá, bằng chứng là ông rất rành về thể lệ thi cử, các cấp quan văn võ và về địa dư hành chính. Thiết tưởng tập lịch sử này giúp cho chúng ta hiểu rộng hơn xã hội Việt Nam giữa thế kỷ 17.
Chú thích [1] Archivum Romanum Societatis Jesu, Jap.Sin 81 f.246r 259v
[2] G.F de Marini (1608-1682) sinh tại Ý, gia nhập dòng Tên năm 1625. Năm 1643 ông tới Áo Môn để truyền giáo. Từ 1647-1658, Marini truyền giáo ở Đàng Ngoài (phần nhiều ông ở Xứ Đông). Ngày 17-7-1658 Marini cùng với năm linh mục dòng Tên khác phải lên tàu về Áo Môn, vì chúa Trịnh Tạc không chấp thuận cho các ông ở Đàng Ngoài nữa. năm 1659 Marini được các linh mục dòng Tên tỉnh Nhật Bản bầu làm đại diện của Tỉnh để tham dự hội nghị dòng Tên thứ 11 tại La Mã, từ ngày 9-5 đến 27-7-1661. Năm 1671 Marini (lúc đó làm Giám tỉnh Nhật Bản) theo tàu từ Áo Môn đi Đàng Ngoài. Khi tới vịnh Bắc phần, tàu bị đánh đắm, nhưng không ai chết. Riêng Marini vì mang y phục tu sĩ, nên bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt giam 6 tháng. Sau khi được phóng thích, ông trở lại Áo Môn. Tháng 2-1673, Marnini lại tới Đàng Ngoài nhưng cũng bị bắt giam 6 tháng. Ra khỏi tù, ông đi Xiêm rồi về Áo Môn (Bibliothèque municipale de Lyon, Manuscrit 813, Fonds général f.11v 12v). Marini qua đời tại Áo Môn 17-7-1682. Marini đã xuất bản hai cuốn sách quan trọng, không kể một số tài liệu viết tay hiện còn lưu trữ tại Real Academia dela Historia de Madrid, Jesuitas và tại Archivum Romanum Societatis Jesu, Jap.Sin. Hai cuốn sách đó là: Delle Missioni de Padri della Compagnia di Giesu nella Provincia del Giappone, e particolarmente di quella di Tumkino, Libri Cinque, Roma 1663, in-40. Metodo della Dottrina che i Padri della Compagnia di Giesu insegnano à Neoffiti, nelle missioni della Cina, conla riposla alle objettioni di alcui Moderni che li impugnano opera del P.A.Rubino (do linh mục Marini dịch từ Bồ ngữ sang), Lione, 1665 in 4.
(2) Archivum Romanum Societatis Jesu, Jap.Sin 81 f.247r
[3] G.d’Amaral, Relacam dos catequisias da Christamdade de Tumkin seu modo de proveder, pera o Pe Manoel Dias, Vissilador de Jappão e China, trong Real Academia de la Historia de Madrid, Jesuitas, Legajo 21 bis, Fasc.16 f.36r.
[4] Archivum Romanum Societatis Jesu, Jap.Sin 81 f.246v
[5] Marini, Historia et relatione del Tunchino e del Giappone, Venetia 1669, in.12 – Marini, Relation nouvelle et curieuse des royaumes de Tunquin et de Lao, Paris 1666 in-4.
[6] Mọi tiêu đề trong những phần sau đây là do chúng tôi thêm vào cho rõ ràng, vì tác giả không chia từng tiết mục.
[7] Bento Thiện, Lịch sử nước Annam, trong Archivum Romanum Societatis Jesu, Jap.Sin 81 f.257.
[8] Ibid f.257v
[9] Ibid f.257v-258r.
[10] Ibid f.258r
[11] Ibid f.258r-258v
[12] Ibid f.258r
[13] Ibid f.258r
[14] Ibid f.258v-259r
[15] Ibid f.259

![[Bí tích thống hối hòa giải – Xưng tội tiến đức]: Phần II. Nhiệm vụ phải xưng tội đối với mọi người (số 6) [Bí tích thống hối hòa giải – Xưng tội tiến đức]: Phần II. Nhiệm vụ phải xưng tội đối với mọi người (số 6)](https://files.dongten.net/dongten/storage/2019/09/14899473704558_700-300x200.jpg?X-Amz-Algorithm=AWS4-HMAC-SHA256&X-Amz-Credential=cf834cba-572d-4598-8c21-86275f3840b8%2F20260612%2Fus-east-1%2Fs3%2Faws4_request&X-Amz-Date=20260612T010318Z&X-Amz-Expires=86400&X-Amz-SignedHeaders=host&X-Amz-Signature=56c2b93475e5a4cb1dc87e7ac36cd60418efa5098d7aa5cb4e17bf1dbe5afa67)


