Thánh I-nhã : Tự do để yêu mến và phục vụ (kết)

Thánh I-nhã : Tự do để yêu mến và phục vụ (kết)

Hoàng Sóc Sơn, SJ.

Chương IX: GIÊRUSALEM HAY RÔMA?

 Ba tháng ở Azpeitia

             Trên đường, kẻ ấy cảm thấy sức khỏe khá hơn. Về đến Tỉnh, kẻ ấy bỏ đường lớn, theo đường núi, vì ít người qua lại hơn. Đi được một quãng ngắn, kẻ ấy thấy có hai người mang vũ khí tiến lại phía mình. (Con đường này nổi tiếng về những vụ ám sát). Sau khi đã đi quá, họ quay lại đuổi theo kẻ ấy, nên kẻ ấy chột dạ. Tuy nhiên, kẻ ấy hỏi họ, và được biết họ là người giúp việc của anh kẻ ấy, và ông anh gởi họ đi đón kẻ ấy. Hình như lúc kẻ ấy đến Bayonne, bên Pháp, có người đã nhận ra kẻ ấy. Thế là hai người giúp việc đi trước dẫn đường, kẻ ấy theo sau, vẫn trên con đường cũ. Trước khi đặt chân vào phần lãnh địa của gia đình, kẻ ấy gặp lại họ. Họ một mực nài nỉ kẻ ấy theo họ về nhà người anh, nhưng họ không lay chuyển được kẻ ấy[1].

Thánh I-nhã rời Paris vào những ngày đầu xuân: khí hậu ấm áp, cây cối đâm chồi nảy lộc. Từ Paris đến Tây Ban Nha, chắc ngài theo lộ trình bình thường của khách hành hương đến Santiago de Compostela: qua Orléans đến Bayonne rồi qua cửa khẩu Hendaye đến Irun. Qua khỏi thành phố San Sebastian, đã đến Tỉnh của ngài, thánh I-nhã "bỏ đường lớn, theo đường núi, vì ít người qua lại hơn", có lẽ vừa thanh thản hơn, vừa tránh gặp người quen. Sau này, tại tòa điều tra phong chân phước năm 1595, cháu thánh I-nhã là nữ tu Potenciana[2] kể lại chi tiết hơn. Ở Azpeitia có một người chuyên cung cấp thịt cho dân chúng tên là Joán de Eguibar, thuộc gia đình bà nhũ mẫu thánh I-nhã. Ông này gặp thánh I-nhã ở quán trọ gần Iturrioz nên về báo tin cho lâu đài Loyola. Anh thánh I-nhã là García Martín gởi linh mục Balthasar Garagarza đi đón[3]. Tuy nhiên, ngài có chương trình riêng.

Kẻ ấy đến trọ tại nhà tế bần, và vào giờ thích hợp thì đi xin ăn trong vùng lân cận[4].

            Theo García-Villoslada, ở Azpeitia có hai cơ sở cùng được gọi là "nhà tế bần"[5]: nhà San Martín dành cho bệnh nhân, nhà Santa Magdalena dành cho người vô gia cư hay khách đi đường[6].

Santa Magdalena cách nhà thờ xứ chừng 500 mét về hướng đông, trong khi lâu đài Loyola cách nhà thờ xứ chừng 2 km về hướng tây. Coi sóc Santa Magdalena từ năm 1529 là Pedro López de Garín (con bà nhũ mẫu María của thánh I-nhã) và vợ ông là Emilia de Goyaz.

Thánh I-nhã đến Santa Magdalena ngày nào? Theo Potenciana, ngài đến lúc 5 giờ chiều một ngày tháng 4 năm 1535. García-Villoslada cho rằng gần chắc đó là hôm thứ sáu ngày 23 tháng 4. Như vậy, ngài phải đi đường khoảng gần 1 tháng.

Tại nhà tế bần, kẻ ấy bắt đầu nói những điều về Thiên Chúa cho nhiều người đến thăm, và nhờ ơn Chúa, nhiều hoa trái đã trổ sinh. Vừa đến nơi, kẻ ấy quyết định mỗi ngày dạy giáo lý cho trẻ em. Anh của kẻ ấy phản đối: chẳng ai thèm đến đâu! Nhưng ngay từ đầu, có nhiều người đến nghe, kể cả người anh. Ngoài giáo lý, kẻ ấy còn giảng, vào các Chúa Nhật và ngày lễ, để giúp những người phải đi bộ mấy dặm đến để nghe[7].

Ông trưởng tộc Martín García đích thân đến mời thánh I-nhã về lâu đài Loyola[8]. Đó là chuyện bình thường: ngoài tình cảm và bổn phận anh đối với em còn cả danh dự của dòng tộc nữa. Từ khi ngài rời gia đình năm 1522, trong 10 năm ngài không liên hệ gì với gia đình. Trong thư gởi anh gởi từ Paris vào cuối tháng 6 năm 1532, ngài giải thích lý do: "Muốn chữa một vết thương nặng, người ta phải lần lượt dùng hết thuốc này đến thuốc khác. Cũng vậy, khi em bắt đầu bước vào con đường của mình, em phải dùng loại thuốc cần thiết. Giờ đây, phần nào đã quen đường, một loại thuốc khác sẽ không làm hại em. Ít là giả như em có cảm tưởng thuốc này gây hại, chắc chắn em đã không đi tìm làm gì." Rồi ngài cụ thể hơn: "Từ năm sáu năm nay, em cũng muốn viết cho anh, nhưng có hai khó khăn. Trước hết là em phải học, và phải tiếp xúc với nhiều người, không phải vì những việc đời đâu. Thứ đến liệu viết thư em sẽ giúp được người nhà và người thân theo huyết thống phục vụ và ca ngợi Thiên Chúa, đồng thời chúng ta trở nên thân thiết về thiêng liêng và cùng nhau tiến tới trong những điều liên hệ đến lợi ích vĩnh cửu chăng? Em không dám chắc và phỏng đoán là không đủ. Phải nói rất thật là em quý mến ai ở trên đời này bao nhiêu tùy theo mức độ em giúp được người ấy phục vụ và ca ngợi Chúa: ai quý mến điều gì vì chính mình chứ không phải vì Thiên Chúa thì người ấy không yêu mến Thiên Chúa."[9] Có thể nói thánh I-nhã không còn là một người của dòng họ Loyola nữa, nhưng là người của Thiên Chúa. Nếu ngài còn giữ liên hệ nào với gia đình, thì chỉ với tư cách một người của Thiên Chúa. Chúng ta dễ hiểu câu thánh I-nhã trả lời anh: "Em về Azpeitia không phải để đến lâu đài Loyola hay lâu đài nào khác, nhưng là để gieo rắc Lời Chúa, và giúp người ta ý thức tầm mức nặng nề của tội trọng."[10] Hai anh em đọ sức. Các lý lẽ loài người của người anh không lay chuyển được trái tim đã được tôi luyện của người em. Trái lại, lời lẽ đầy sức mạnh thiêng liêng của người em đã thuyết phục được người anh. Ông sẽ đến nghe thánh I-nhã dạy giáo lý. Ông đem đến Santa Magdalena cho em một cái giường tốt, nhưng ngài không dùng đến bao giờ. Ông muốn cho thánh I-nhã tiền để sống và làm việc tông đồ, nhưng ngài không nhận[11]. Cha Dalmases bình luận: "Như chúng ta đã thấy trong các dịp khác, đối với thánh I-nhã tiền bạc là chuyện dư thừa."[12] Thay vì khó chịu lúc ban đầu, chỉ ít lâu sau ông rất cảm phục và kính trọng thánh I-nhã. Theo gương sáng và lời khuyên của em, ông sống tử tế, đạo đức và làm gương sáng cho đến khi qua đời năm 1538.

            Chẳng những người anh trưởng tộc mà sau 13 năm, cả dân chúng Azpeitia thấy một chú Ínigo hoàn toàn khác! Khuôn mặt và tên tuổi ngài vẫn hoàn toàn quen thuộc. Nhưng nguyên việc ngài ở Santa Magdalena đủ làm dân chúng bàn tán rồi. Thay vì quần áo bảnh bao của nhà quý tộc, ngài mặc áo như người nghèo; thay vì cỡi ngựa và đeo gươm, ngài đi bộ và tay không. Chẳng những vậy, còn đi ăn xin, rồi ăn cùng bàn với những người hành khất, lại nói năng khiêm tốn và đạo đức. Về công việc, ngài khởi sự bằng việc hằng ngày dạy giáo lý cho trẻ em, rồi nói chuyện về đời sống thiêng liêng với người lớn. Một khởi đầu thật đơn giản, nhưng đối với dân Azpeitia là cả một thay đổi động trời.

Có lẽ ngài chính thức ra mắt và giảng công khai lần đầu tại ẩn viện Đức Mẹ Elosiaga vào ngày 25.4.1535. Hôm ấy là lễ cầu mùa, đông đảo dân chúng từ nhiều nơi đến Azpeitia tham dự buổi rước kiệu để xin Chúa chúc lành cho mùa màng và công việc làm ăn. Năm 1595, Ana de Anchieta kể lại: "Cha I-nhã lên một cây mận giảng mạnh mẽ về các tật xấu và tội lỗi." Ba tật xấu và tội lỗi chủ yếu của dân Azpeitia là bài bạc, trai gái và gây gỗ[13]. Có lẽ ngài đã tấn công trực tiếp, không nể nang chi hết. Dân chúng phản ứng thế nào? Cũng chính Ana de Anchieta kết luận: "Lời giảng của ngài giúp cho nhiều người trở nên sốt sắng; nhiều phụ nữ khóc vì xúc động"[14]. Đó là buổi ra mắt ngoạn mục và thành công, nhưng mới chỉ là bước đầu.

            Kẻ ấy cũng cố gắng xóa bỏ một số lạm dụng, và nhờ ơn Chúa giúp, đã sửa chữa được điều này điều kia. Thí dụ về nạn bài bạc, kẻ ấy thuyết phục được người phụ trách tư pháp ra lệnh cấm và có những biện pháp để thi hành luật. Có một lạm dụng khác là các cô gái trong vùng luôn luôn để đầu trần, và chỉ đội khăn khi đã kết hôn. Nhưng có nhiều phụ nữ làm nhân tình của các linh mục hay những người khác, và trung thành với những người đàn ông ấy như thể là vợ họ. Vì thế, thường có những cô nhân tình chẳng xấu hổ chi hết khi mình đội khăn vì người này người kia, mà thiên hạ ai cũng biết rõ hết. Thói quen ấy sinh ra lắm thứ tội. Kẻ hành hương thuyết phục nhà hữu trách ra luật sẽ phạt như tội hình sự tất cả những người đội khăn vì ai đó không phải là chồng mình. Thế là lạm dụng này bắt đầu bị xóa bỏ. Đối với người nghèo, kẻ ấy vận động để có một qui định câng quĩ cấp phát đều đặn cho họ những điều cần thiết. Kẻ ấy cũng can thiệp để người ta ấn định mỗi ngày đổ chuông ba lần, sáng, trưa và tối, để mọi người đọc kinh Kính Mừng như tại Rôma[15].

Trong cuộc điều tra phong chân phước năm 1595, khoảng 20 nhân chứng cùng cho biết khá nhiều điều về hoạt động tông đồ của ngài[16].

Tại Santa Magdalena, hằng ngày ngài dạy giáo lý cho trẻ em; vào các ngày thứ hai,thứ tư và thứ sáu hằng tuần, ngài giảng cho người lớn; khi đông người đến nghe, ngài giảng ngoài sân, có người leo lên tường hay lên cây để nghe. Suốt 10 ngày giữa lễ Lên Trời và lễ Hiện Xuống, ngài giảng mỗi ngày về một trong Mười Điều Răn. Mỗi Chúa nhật, ngài thường giảng tại nhà thờ giáo xứ. Ngoài ra, ngài còn vận động xây dựng nếp sống theo Tin Mừng. Dân Azpeitia rất mê bài bạc, phần nào vì vậy mà hết đời này sang đời khác vẫn nghèo khổ. Ngài vận động dân chúng bỏ tệ nạn này. Các nhân chứng cho biết nhiều bộ bài bị liệng xuống sông[17]. Tệ nạn trai gái cũng rất phổ biến, ngay từ gia đình ngài[18]. Ngài vận động để chính quyền thị trấn áp dụng nghiêm túc luật cấm đội khăn đối với phụ nữ chưa chính thức kết hôn đã có từ năm 1484 do vua Fernando và nữ hoàng Isabel ban hành.

Tu viện Isabelitas (dòng Phanxicô) cách nhà thờ xứ Azpeitia 150 mét, do chị họ thánh I-nhã là María López de Emparan và người bạn là Ana de Urango thành lập năm 1497. Ngay từ đầu tu viện đã có xung đột với nhà xứ, do gia đình thánh I-nhã bảo trợ, về quyền lợi vật chất khi tổ chức các thánh lễ, đám tang, buổi giảng… Cha sở cũ là Juan de Anchieta lúc sống đã bênh vực tu viện, lúc chết (30.7.1523) lại di chúc xin được chôn tại nhà nguyện tu viện. Andrés de Loyola (cháu thánh I-nhã) dùng võ lực chiếm xác để chôn tại nhà thờ giáo xứ[19]. Người anh linh mục của thánh I-nhã là Péro Lopez 3 lần đi Rôma để kiện lên Tòa Thánh. Lần cuối Tòa Thánh buộc tu viện bồi thường nhà xứ 180 ducado, nhưng cha sở về đến Barcelona thì chết năm 1527. Andrés là con ruột lên làm cha sở kế nhiệm. Việc kiện cáo dây dưa mãi. Do thánh I-nhã vận động, ngày 18.5.1535, hai bên ký tên vào bản thỏa thuận 21 điểm giải quyết tất cả những bất đồng. Nhân chứng ký tên đầu tiên chính là thánh I-nhã[20].

Chúa Giêsu cho biết có thứ quỷ chỉ trừ được bằng cầu nguyện. Thánh I-nhã vận động hằng ngày, lúc 12 giờ trưa, nhà thờ xứ và 10 ẩn viện trong xứ đồng loạt đổ chuông; nghe chuông, mọi người quỳ gối đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Kính Mừng xin cho những người có tội trọng được ơn ăn năn trở lại; rồi một kinh Lạy Cha và một kinh Kính Mừng nữa xin cho họ ơn chừa tội[21]. Thánh I-nhã xin gia đình luôn giữ thói quen đó. Trong di chúc, anh thánh I-nhã là Martín García yêu cầu giữ thói quen đó và mỗi năm trả 2 ducado cho người kéo chuông nhà thờ xứ, 1 ducado cho mỗi nữ tu kéo chuông ở các ẩn viện[22].

Có những người nghèo thật và những người lười biếng không chịu làm ăn. Thánh I-nhã vận động hội đồng thị trấn ra luật cấm ăn xin và lập quĩ giúp người nghèo. Luật được phê chuẩn ngày 23.5.1535[23].                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                          

Trong thời gian ở Azpeitia, ngài có về thăm gia đình một lần. Domenja de Ugarte, giúp việc cho người coi sóc Santa Madalena kể: Một hôm chị dâu thánh I-nhã, bà Magdalena, cùng với nhiều người khác trong gia đình đến Santa Magdalena xin ngài ghé thăm gia đình ở lâu đài Loyola, nhưng ngài trả lời là ngài mệt, để hôm khác. Lần thứ hai, bà nại đến hương hồn cha mẹ ngài, nhưng ngài vẫn trả lời như trước. Lần thứ ba, bà quỳ xuống đất, xin ngài vì lòng yêu mến cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu, ngài trả lời: "Chị nói như vậy thì em sẽ đến Loyola, và cả Vergara hay bất cứ nơi nào khác nữa."[24] Cha Gil González Dávila, Dòng Tên, cho biết cha Pedro Tablares đã được nghe thánh I-nhã kể: ngài biết có một người phụ nữ mỗi tối đến lâu đài Loyola bằng một lối bí mật để gặp một người trong gia đình ngài. Một buổi tối ngài về và bắt gặp quả tang. Người phụ nữ thú nhận hết. Ngài đưa người ấy về phòng ngài và giữ ở đó đến sáng. Từ đó, không bao giờ người ấy đặt chân đến lâu đài Loyola nữa[25]. Có thể bà Magdalena đã xin ngài về giúp giải quyết việc ấy nên ngài nhận lời chăng? Người trong gia đình có liên hệ lén lút với người phụ nữ ấy là ai? Có người nghi là chính người anh trưởng tộc của ngài. Theo García-Villoslada[26] thì người ấy là con trai lớn của anh ngài. Thực vậy, anh ngài có 8 người con chính thức, và đã từng có 2 đứa con rơi, nhưng từ khá lâu đã sống rất nghiêm túc. Trái lại, cháu Beltrán của ngài, người sẽ thay anh ngài đứng đầu gia đình Loyola, lúc ấy sống khá phóng túng và đã có 4 đứa con rơi. Lễ kết hôn giữa Beltrán và Juana de Recalde, quê ở Vergara, được tiến hành vào năm 1536. Chúng ta có thể phỏng đoán bà Magdalena cho biết Beltrán chơi bời phóng đãng, nhờ ngài về giúp để chấm dứt tình trạng tội lỗi và kết hôn tử tế. Vì thế thánh I-nhã nói sẵn lòng đến Loyola hay Vergara… Sau đó Beltrán tập Linh Thao, sống nghiêm túc, đạo đức, nêu gương sáng, rất cảm phục và kính trọng thánh I-nhã.

Kết quả 3 tháng ở Azpeitia, Potenciana cho biết: "Rất nhiều người từ Azpeitia cũng như từ các nơi khác trong vùng đến nghe ngài, đến nỗi có người phải trèo lên tường hay lên cây để nghe… Nhờ các bài giảng, các cuộc nói chuyện và đời sống thánh thiện của ngài, nhiều người đã sửa mình, chừa bỏ các thói xấu."[27] Theo Andrés de Oraa, người làng Aizarna, gần Azpeitia: "Cha Inigo có giọng tốt, lời cha nói thấm vào lòng và sinh hoa kết quả. Cách giảng của cha là thuyết phục người ta sống đạo và từ bỏ các thói hư tật xấu. Nhờ các bài giảng và các lời nhắc nhở của cha, người ta đã bỏ bài bạc, nhậu nhẹt và các tật xấu khác."[28] Theo Ana de Anchieta: "Ở Santa Magdalena, ngài ngồi ăn chung bàn với những người nghèo, nêu gương sáng lớn về khiêm tốn, thanh bần và kiên nhẫn, như một người thánh thiện và đầy Thánh Thần."[29] Một chuyện ở Azpeitia ai cũng biết là có 3 phụ nữ trước đó sống phóng túng đã hoán cải và đi hành hương Giêrusalem. Magdalena de Mendiola, còn gọi là Sendo, nói với bạn: "Ana này, lời của chú ấy xuyên thấu tim tôi… Từ trước đến nay, tôi phục vụ người đời, từ nay về sau, tôi muốn phục vụ Thiên Chúa."[30] Một người là Catalina de Ispuzu đã chết trên đường[31]. Có người ở Azpeitia nói dân chúng coi ngài như một giám mục và như một thẩm phán.Theo Domenja de Ugarte, tất cả mọi người ở Azpeitia và vùng lân cận đều nhìn nhận ngài là người hoàn hảo và thánh thiện. Trước kia cũng như hiện nay, ai cũng cảm phục và kính trọng ngài.[32]

Gần chúng ta hơn, Dudon viết: "Trong tâm tư dân Azpeitia năm 1535, chỉ còn một hình ảnh: một hối nhân, mặc áo vải màu xám, mang dép, ngày ngày dạy giáo lý cho trẻ em, giảng cho dân chúng, phục vụ bệnh nhân… Sẽ không bao giờ họ quên hiện thân sống động của sự khiêm tốn, hiền từ và bác ái Kitô giáo. Mọi người đều xúc động: Tôi đã thấy một Đức Kitô khác."[33] Theo García-Villoslada, đồng hương sững sờ trước gương sáng đức hạnh của thánh I-nhã: Hoàn toàn đúng là 3 tháng sống đức hạnh đã xóa sạch các dấu vết không hay thời trai trẻ của ngài[34].

            Mục đích ban đầu của thánh I-nhã khi về Azpeitia có thể chỉ là để chữa bệnh. Theo Polanco, ngài muốn về Azpeitia ít lâu để dùng các việc lành sửa chữa những gương xấu thời trai trẻ[35]. Nhưng kết quả 3 tháng cho thấy ngài tiến xa hơn nữa: chúng ta thấy rõ khuôn mặt, dầu chỉ mới là phác họa, của một nhà cải cách đích thực. Tại sao dân chúng chẳng những thích đến nghe thánh I-nhã giảng, mà còn thực hiện những điều ngài đề nghị nữa? Có lẽ vì hai lý do. Dân chúng trong vùng thực sự đói khát lương thực nuôi linh hồn. Mặc dầu trong khu vực có cả chục linh mục, nhưng họa lắm giáo dân mới được nghe giảng. Chẳng những vậy, thánh I-nhã là một nhà quí tộc từng nổi tiếng trong vùng, nay đã từ bỏ vinh hoa phú quí để sống như người nghèo và với người nghèo, chuyên chăm cầu nguyện và làm việc tông đồ, nên khi nghe ngài nói, người ta nhận ra đúng là Thiên Chúa ở với ngài. Thánh I-nhã không tranh cãi thần học, không chỉ trích giáo quyền, không mơ tưởng những chuyện vá trời lấp biển. Ngài thực tế bắt tay vào việc. Trước hết là bằng đời sống nghèo khó và khiêm tốn, bằng việc siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Thứ đến bằng việc dạy giáo lý cho trẻ em, nói chuyện với dân chúng và giảng cho họ. Nội dung là những điều đơn sơ nhưng thực tế. Cuối cùng bằng việc thiết lập những định chế nhằm loại trừ các thói quen xấu và tập những thói quen tốt. Kinh nghiệm Azpeitia sẽ là những bài học quí báu cho ngài sau này khi cùng với các bạn biến nhóm bạn thành một dòng tu rồi nắm cương vị điều hành Dòng Tên xả thân góp phần vào cuộc canh tân của Hội Thánh.

Mặc dầu lúc đầu khỏe mạnh, sau đó kẻ ấy ngã bệnh nặng. Khi bình phục, kẻ ấy quyết định lên đường để làm những công việc các bạn cùng chí hướng đã nhờ[36].

Về việc chữa bệnh, thánh I-nhã không nói gì, và chúng ta cũng không có tài liệu nào khác. Chỉ biết ban đầu ngài khỏe mạnh, sau đó ngã bệnh nặng, và khi bình phục thì ra đi. Thánh I-nhã ở Azpeitia khoảng 3 tháng.

Kẻ ấy cũng quyết định lên đường mà không mang theo đồng nào trong mình. Anh của kẻ ấy rất bất bình vì quyết định này, lại thêm xấu hổ vì kẻ ấy đi bộ. Tối đến, kẻ hành hương đồng ý như sau: sẽ cỡi ngựa cùng với người anh và người nhà cho đến ranh giới tỉnh[37].

Theo Dalmases, thánh I-nhã rời Azpeitia khoảng 23.7.1535[38]. Ngài tặng nhà trọ Santa Magdalena con ngựa nhỏ màu hung[39] và định tiếp tục cuộc hành trình một mình và đi bộ. Nhưng nhượng bộ gia đình một chút: ngài cỡi ngựa và cho người nhà tiễn chân. Chính hôm ấy, thánh I-nhã ký tên làm chứng Beltrán López de Gallaiztegui bán cho Beltrán de Onaz một con ngựa màu nâu[40]: hình như đó quà cháu tặng chú trước khi lên đường.

Nếu dân chúng Azpeitia không quên thánh I-nhã thì ngài cũng không quên họ. Năm 1539, từ Rôma ngài viết thư cho người cháu, lúc ấy đã là trưởng tộc, khuyên nên "ổn định và cải tổ đặc biệt hàng giáo sĩ" ở Azpeitia. Ngài cũng thêm: "Tổ tiên chúng ta đã rất nỗ lực để trổi vượt trong những lãnh vực khác… Cháu hãy ước ao trổi vượt về điều sẽ tồn tại vĩnh cửu và đừng uổng công trong những gì sau này sẽ khiến phải hối hận."[41] Năm 1540, ngài viết một lá thư cho dân chúng Azpeitia nhắc lại kỷ niệm và những thói quen tốt họ vẫn giữ, khuyên họ xưng tội và rước lễ hằng tháng, hằng tuần và ngay cả hằng ngày. Ngài cũng khuyên họ gia nhập Hội Thánh Thể mới được Đức Giáo Hoàng phê chuẩn[42].

 

Từ Azpeitia đến Valencia

 

Ra khỏi ranh giới tỉnh, kẻ ấy xuống ngựa, không đem theo gì, hướng về Pamplona, rồi đi Almazán, quê của cha Laínez, rồi đi Siguenza và Toledo; rồi từ Toledo đi Valencia. Tại quê của các bạn cùng chí hướng, kẻ ấy không nhận gì, mặc dầu được cho rất nhiều, mà người ta còn năn nỉ nữa. Tại Valencia, kẻ ấy gặp được Castro, đan sĩ dòng Xitô [43].

Thánh I-nhã không nói gì về mùa hè ở Tây Ban Nha thường rất nóng nực. Một trong những mục đích thánh I-nhã nhắm đến khi về quê là đến gặp gia đình các bạn người Tây Ban Nha. Có lẽ các bạn muốn nhờ ngài giải thích với gia đình về quyết định hiến thân phục vụ Chúa, để gia đình yên tâm.

Thánh I-nhã có ghé Pamplona không? Chúng ta không có bằng chứng nào. Hình như ngài không thiết tha gì với những kỷ niệm thời "phù phiếm". Vả lại, ngài phải đến thăm gia đình các bạn, rồi phải lo học cho xong chương trình thần học. Trước hết ngài đến gặp người anh trưởng tộc của thánh Phanxicô Xavier tại Obanos, cách Pamplona hơn 10 km về phía đông nam[44]. Anh ngài nghe đồn thánh I-nhã theo lạc giáo và gây rối ở Paris, lại tụ tập một nhóm, trong đó có cả thánh Phanxicô Xavier, nên hết sức tức giận và hình như vì thế không gởi trợ cấp cho em nữa. Điều đầu tiên Thánh I-nhã làm là trao thư của người em cho người anh[45]. Thánh Phanxicô Xavier cho biết: "Chắc anh biết là nếu quả ngài Inigo đúng như anh nói, chắc ngài không ngu gì đến gặp anh: một tên bất hảo đời nào lại dẫn xác đến trước người hắn đã xúc phạm… Em tha thiết xin anh đừng ngại gặp và nói chuyện với ngài, cứ tin những điều ngài nói. Tiếp xúc với ngài và nghe lời khuyên của ngài, anh sẽ được giúp đỡ rất nhiều… Một lần nữa, em xin anh đừng bỏ lỡ dịp tốt." García-Villoslada cho rằng gặp thánh I-nhã, một người toát ra sự thánh thiện, nhỏ nhẹ, khiêm tốn, bác ái và khôn ngoan, người anh trưởng tộc đã hết thành kiến và giao cho thánh I-nhã số tiền thánh Phanxicô Xavier cần để đi hành hương Giêrusalem[46]. Năm 1531, thánh Phanxicô Xavier đã nhờ anh xin giấy chứng nhận gia đình quý tộc, nhưng có lẽ vì giận, anh ngài không xin. Sau khi gặp thánh I-nhã, anh ngài gởi giấy chứng nhận đến Paris năm 1536, kèm theo cả việc ngài được dành cho một ghế kinh sĩ tại nhà thờ chính tòa Pamplona. Tuy nhiên, lúc ấy ngài không cần đến nữa.

Rồi thánh I-nhã vượt 130 km đến Almazán, để gặp gia đình của Diego Laínez. Ở đây mọi sự dễ dàng hơn nhiều. Đó là một gia đình gốc Do Thái, khá giả và rất đạo đức, rất vui mừng được biết tin tức của người nhà, đặc biệt việc Diego muốn hiến thân phục vụ Chúa và đi hành hương Giêrusalem. Theo James Brodrick, gia đình cha Laínez muốn tặng thánh I-nhã một con ngựa và tiền bạc để đi đường, nhưng ngài không nhận[47].

Trên đường đến Toledo, ngài ghé Siguenza, không biết để gặp ai hay có việc gì. Có thể ngài đến gặp một người quen nào đó và muốn mời người ấy gia nhập nhóm bạn chăng? Qua Alcalá, ngài đến Toledo. Đó là thành phố có nhiều đền đài rất đẹp, giàu truyền thống và truyền thuyết nhất ở Tây Ban Nha[48]. Tuy nhiên, đối với thánh I-nhã, đơn giản đó là quê của Alfonso Salmeron. Ngài cho gia đình biết tin tức, đặc biệt về việc Alfonso muốn hiến thân phục vụ Chúa và sắp đi hành hương Giêrusalem. Cũng như gia đình Laínez, gia đình Salmeron hết sức vui mừng. García-Villoslada nói thánh I-nhã dùng dầu thơm và mật ngọt đổ vào lòng người nhà để họ đón nhận hi sinh khi chia sẻ thập giá của Đức Kitô[49].

Thánh I-nhã không đến gia đình Nicolas Bobadilla. Đó là một gia đình rất nghèo và rất đạo đức. Ông thân sinh của Nicolas đã mất năm 1517, thân mẫu qua đời năm 1535. Có lẽ Nicolas không gởi thư, vì không có vấn đề gì đặc biệt, nên thánh I-nhã thấy không cần đến.

Thánh I-nhã cũng ghé thăm mấy người bạn cũ. Trước khi đi Paris, ngài đã có 4 người bạn cùng chí hướng ở Tây Ban Nha.

Như họ đã thỏa thuận trước, từ Paris, kẻ hành hương thường xuyên viết thư cho họ về việc khó đem họ đến Paris học được. Kẻ ấy có viết thư cho Dona Leonor Mascarenhas, xin bà viết thư cho triều đình vua Bồ Đào Nha để xin một suất học bổng tại Paris do nhà vua ban. Bà có gởi thư cho Calixto, tặng một con la để đi đường và tiền để chi tiêu. Calixto đến triều đình Bồ Đào Nha, nhưng cuối cùng không đi Paris. Anh ấy về lại Tây Ban Nha rồi đến Ấn Độ của hoàng đế cùng với một phụ nữ đạo đức. Sau đó, anh về lại Tây Ban Nha, rồi đi Ấn độ nữa. Cuối cùng, anh ấy quay về Tây Ban Nha, lần này đã giàu có, làm cho mọi người từng quen biết anh ấy ở Salamanca trước kia đều ngạc nhiên. Caceres về quê ở Segovia sống như thể đã quên mất ý định ban đầu. Arteaga được phong làm nghĩa sĩ. Sau đó, khi Dòng Tên đã được thành lập ở Rôma, anh ấy được đề cử làm giám mục ở Ấn Độ. Anh ấy viết thư cho kẻ hành hương để nhường chức vụ ấy cho một anh em trong Dòng. Khi kẻ ấy từ chối, anh ấy thụ phong giám mục, rồi sang Ấn Độ của hoàng đế, nhưng chết trong hoàn cảnh khá lạ thường. Lúc bị bệnh, anh ấy có hai chai để đựng nước giải khát, một chai nước do thầy thuốc chỉ định, chai kia đựng nước có chất độc. Người ta cho anh ấy uống lộn chai có chất độc, thế là anh ấy chết[50].

Khi thánh I-nhã về lại Tây Ban Nha, cả 4 người bạn cũ đều đã chọn hướng đi riêng. Theo Nadal, Gioan Nhỏ đã vào dòng Thánh Phanxicô[51]. Calixtô và Caceres đã quay về với lối sống 'phù phiếm'. Chỉ còn Arteaga xem ra chưa dứt khoát. Theo Tellechea, ngài đến gặp, có lẽ hy vọng thuyết phục vào nhóm mới, nhưng không thành công[52].

Ở Paris, nhóm 3 người Tây Ban Nha tập Linh Thao đã gây chấn động đại học.

Castro sau đó về Tây Ban Nha, giảng thuyết tại Burgos một thời gian, rồi vào dòng Chartreux tại Valencia. Peralta đi hành hương Giêrusalem, đi bộ[53], nhưng đến Ý thì bị một người bà con làm sĩ quan giữ lại, dẫn đến gặp Đức Giáo Hoàng và được Đức Giáo Hoàng khuyên nên trở về Tây Ban Nha.

Thánh I-nhã đến thăm Pedro de Peralta, kinh sĩ, nhà thần học và nhà giảng thuyết nổi tiếng ở nhà thờ chính tòa Toledo. Chắc ngài không có ý thuyết phục Peralta quay lại với nhóm, chỉ thăm thân hữu thôi. Sau này Peralta nói với Ribadeneira là chỉ nguyên những gì Peralta thấy nơi thánh I-nhã cũng đủ để phong thánh cho ngài[54]. Cuối cùng ngài đến thăm Juan Castro lúc ấy là đan sĩ tại đan viện Vall Cristo ở Segorbe gần Valencia. Ngài ở đó 8 ngày: hưởng bầu khí yên tĩnh và thanh bình, hát kinh thần vụ với cộng đoàn, gặp gỡ các đan sĩ. Đó là điều ngài mong ước từ lâu, và giả như không xác tín được gọi phục vụ Chúa cách khác, chắc ngài ở lại đó luôn!

Có một cuộc gặp gỡ mà thánh I-nhã không nhắc đến, nhưng khá thú vị. Lúc ở Alcalá thánh I-nhã có quen một phụ nữ quý phái và đạo đức: bà Leonor de Mascarenas, người Bồ Đào Nha (1503-1584). Khi đi Paris, ngài nhờ bà xin cho Calixto một học bổng của vua Bồ Đào Nha[55]. Vào tháng 4 năm 1535, bà đang coi sóc các hoàng tử và công chúa tại Madrid. Chắc ngài đã đến thăm bà, và nhân dịp ấy, người sau này sẽ là vua Felipe II đã gặp ngài. Năm 1556, Ribadeneira cho biết nhà vua biết rõ thánh I-nhã khi ngài gặp bà Leonor mấy lần, trong thời gian bà coi sóc nhà vua lúc ấy là thái tử[56]. Năm 1586, họa sĩ Alonso Sánchez Coello tặng nhà vua một số bức tranh mới vẽ, trong đó có bức chân dung thánh I-nhã[57]. Nhìn bức chân dung, nhà vua khen: "Tốt lắm! Giống lắm. Tôi biết cha Ignacio và đây đúng là gương mặt ngài. Tuy nhiên, khi tôi gặp, ngài để râu nhiều hơn." Tu huynh López thuật chuyện này cho biết thêm: nhà vua gặp thánh I-nhã lúc bà Leonor coi sóc; bà giới thiệu ngài với thái tử: "Đây là người người thánh thiện, thái tử nên xin ngài cầu nguyện cho."[58] Năm 1594, cha José de Acosta cho biết trong buổi tiếp kiến, nhà vua nói đã gặp thánh I-nhã ở Madrid[59]. Riêng bà Leonor luôn luôn cảm phục thánh I-nhã như một vị thánh và sau này rất quý mến Dòng Tên. Có lần bà viết thư cho chân phước Phêrô Favre: "Giả như là người nam thì chắc chắn tôi muốn theo cha và cha Inigo, nhưng vì là phụ nữ, nhiều tội lỗi và chẳng có công trạng gì…"[60] Điều chúng ta muốn lưu ý ở đây là chẳng những thánh I-nhã để lại ấn tượng sâu đậm nơi một phụ nữ mà ngay cả một em bé 8 tuổi, nhưng 51 năm lúc đã làm vua một cường quốc hàng đầu thời ấy, vẫn nhớ đã gặp ngài và nhớ cả khuôn mặt ngài.

Đến Valencia, theo lời giới thiệu của Juan, ngài ở nhà ông Martín Pérez de Almazán (thân sinh của Cristobal Pérez, sau này làm linh mục Dòng Tên). Ông là người rất đạo đức. Ông cho thánh I-nhã 4 đồng ducado vàng để đi đường.

Mặc dầu sức khỏe chưa bảo đảm lắm, thánh I-nhã đã đi bộ, vừa đi vừa xin ăn, vượt qua 650 km, để gặp gỡ gia đình của các bạn cùng chí hướng người Tây Ban Nha, vừa báo tin cho gia đình, vừa thu xếp những điều cần thiết để các bạn yên tâm đi Giêrusalem.

Kẻ ấy muốn đáp tàu đi Genova, nhưng bạn bè xin đừng đi, vì họ nói tên Râu Đỏ đang ở trên biển cùng với nhiều tàu chiến... Mặc dầu họ nói đủ điều để làm cho kẻ ấy sợ, nhưng không gì làm cho kẻ ấy thay đổi ý định[61].

Râu Đỏ là biệt danh người Châu Âu dùng để gọi chung hai anh em Arudj (1474-1518) và Khizr ed-Din (biệt danh tự xưng, nghĩa đen là Tốt Cho Đạo; 1476-1546). Hai anh em cùng sinh tại Sicilia, nhưng lớn lên theo Hồi Giáo và trở thành giang hồ trên biển. Arudj lần lượt phục vụ Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ rồi Tunisie, và gây kinh hoàng cho người Tây Ban Nha ở phía tây Địa Trung Hải, nhưng chết trong một trận đánh với người Tây Ban Nha tại Alger. Kế nghịệp anh, Khizr ed-Din phục vụ đế quốc Ottoman vào lúc hùng mạnh nhất, được hoàng đế Soliman II phong làm Beylerbey (Đệ nhất lãnh chúa), chỉ huy hạm đội 6000 quân trên Địa Trung Hải, chống lại hoàng đế Karl V. Năm 1529, Khizr ed-Din đánh đuổi quân Tây Ban Nha khỏi đảo Penon ở Châu Phi; năm 1534 chiếm Tunis, rồi cướp phá bờ biển Nam Ý và Silicia… Mặc dầu người ta can ngăn, nhưng thánh I-nhã cứ đi: ngài phải tiếp tục chương trình thần học và có hẹn với các bạn.

Kẻ ấy xuống một chiếc tàu lớn và gặp bão lớn[62]. Gặp cơn bão lớn, bánh lái tàu bị gãy. Tình trạng nguy kịch đến nỗi kẻ ấy cũng như nhiều người khác trên tàu cho rằng chỉ với những phương tiện tự nhiên thì không sao thoát chết được. Chính lúc ấy, khi xét mình cẩn thận để dọn mình chết, kẻ ấy không cảm thấy sợ vì tội lỗi hay hình phạt, nhưng cảm thấy hối tiếc và đau đớn nhiều vì thấy mình đã không sử dụng các tặng phẩm và ân huệ Chúa ban[63].

Thánh I-nhã không cho biết rõ thời gian. Ngài rời Valencia trong tháng 10. Ngài có ghé lại Barcelona không? Chúng ta không có bằng chứng. Điều ngài nhớ nhất là trong chuyến đi ấy ngài tưởng không sao thoát chết được.

Đến Genova, kẻ ấy lên đường đi Bologna. Trên đường, kẻ ấy khổ cực trăm bề, nhất là có lần bị lạc và phải đi bộ dọc theo bờ sông. Nước chảy mãi dưới sâu, đường đi tít trên cao. Càng đi xa, đường càng hẹp, hẹp đến nỗi tiến không được mà lùi cũng không được. Kẻ ấy bắt đầu phải bò, và tiến được khá xa, nhưng rất sợ, vì hễ nhúc nhích là thấy như sắp lăn tòm xuống sông. Chưa bao giờ kẻ ấy gặp khó khăn phần xác và phải gắng sức đến như vậy. Nhưng cuối cùng cũng thoát nạn. Ngay cửa ngõ Bologna, lúc đi qua một chiếc cầu gỗ nhỏ, kẻ ấy ngã xuống nước. Đứng lên được thì người ướt nhem và dính đầy bùn, làm cho những người gần đó phá ra cười. Vào Bologna, kẻ ấy đi xin bố thí, nhưng không được một xu nào, mặc dầu đã đi khắp nơi[64].

Bologna cách Genova hơn 200 km về hướng đông. Thánh I-nhã vẫn đi bộ và ăn xin ngang đường. Giữa mùa thu thời tiết dễ chịu, nhưng ngài có ba kỷ niệm đáng nhớ cho thấy những nhọc nhằn và bất trắc của cuộc sống theo kiểu hành hương. Riêng về việc ngài không xin được gì ở Bologna, Ribadeneira ngạc nhiên: một thành phố giàu thế, lớn thế, bác ái thế![65] Sau đó, thánh I-nhã đến Học viện Tây Ban Nha, tên chính thức là San Clemente, và được đồng hương cho ăn ở ít lâu, khoảng 11 đến 18 tháng 12[66]. Ngài dự tính ở lại đó để hoàn tất chương trình thần học ở đại học, nhưng thấy khí hậu Bologna làm cho ngài không được khỏe mạnh, nên quyết định đi Venezia, có lẽ sau lễ Giáng Sinh năm 1535.

 

Venezia cởi mở

 

Kẻ ấy ở lại Bologna ít lâu vì ốm đau, rồi đi Venezia, vẫn theo cách ấy[67].

Vẫn theo cách thức ấy nghĩa là đi bộ và ăn xin trên đường. Trong thư gởi cha Diego Cazador, viết ngày 12.2.1536, thánh I-nhã cho biết: “Hai tuần trước lễ Giáng Sinh, tôi ở Bologna, phải nằm liệt giường một tuần vì đau dạ dày, lạnh, và sốt. Thế là tôi quyết định đi Venizia, và đã đến đây được một tháng rưỡi, nói chung là sức khỏe tốt hơn nhiều.[68]

            Trong thời gian ở Venezia, kẻ ấy hướng dẫn Linh Thao và nói chuyện về đời sống thiêng liêng. Đặc biệt kẻ ấy hướng dẫn Linh Thao cho một số người có tiếng như cha Pietro Contarini, cha Gasparo de Dotti, một người Tây Ban Nha tên là Rozas. Cũng có một người Tây Ban Nha nữa là cha Hoces, liên hệ nhiều với kẻ hành hương, và cả với vị giám mục Cette nữa. Mặc dầu cha ấy cũng mong tập Linh Thao, nhưng chẳng khởi sự làm chi hết. Cuối cùng, cha ấy quyết định bắt đầu tập, và được 3 hay 4 ngày, cha ấy mới bộc lộ tâm tình với kẻ hành hương: cha ấy sợ là trong Linh Thao sẽ được dạy một giáo thuyết sai lạc, như cha ấy nghe có người nói. Vì thế, cha ấy đã đem theo một số sách để có thể tham khảo, nếu bị lừa gạt. Cha ấy được lợi ích rất nhiều nhờ Linh Thao, và cuối cùng quyết định theo cách sống của kẻ hành hương. Chính cha ấy là người qua đời trước nhất[69].

            Venezia là một thành phố rất độc đáo về địa dư cũng như về lịch sử[70]. Đây là lần thứ ba thánh I-nhã đến Venezia, nên chắc là ngài đã khá quen. Ngài ở đâu? "Tôi sống trong nhà một người thông thái và tốt bụng: tôi nghĩ không ở đâu hơn được."[71] Có lẽ đó là Andrea Lippomani, một người nổi tiếng là đạo đức và bác ái, sau này sẽ sáng lập học viện đầu tiên của Dòng Tên tại Padova. "Tình trạng sức khỏe không cho phép tôi chịu thiếu thốn hay những mệt nhọc thể lý khác ngoài việc học."[72] Ngài được nuôi ăn ở để yên tâm học hành. Ở Venezia không có đại học, nên ngài phải tự học một mình. Được vị tổng đại diện Jacobo Cazador giáo phận Barcelona mời về đó giảng, ngài trả lời: "Đó là điều con rất mong ước… nhưng con phải học xong đã, tức là phải đợi đến Mùa Chay năm tới.[73]"

            Khác với Paris lúc ấy đàn áp những người muốn cải cách, Venezia được coi là vùng đất tự do: vừa là thành trì của phong trào Tin Lành ở Ý vừa là điểm xuất phát của nhiều nỗ lực canh tân Hội Thánh Công Giáo.

Ngay từ năm 1513, dưới thời Đức Giáo Hoàng Lêô X, trước khi có phong trào Tin Lành, một bản bản điều trần 6 chương, do hai người Venezia là Tommaso Giustinani (+ 1528) và Vincenzo Quirini (+1514) soạn, đã đề ra một kế hoạch rộng lớn về cải cách toàn diện Hội Thánh[74]: hoán cải người Do Thái, người ngoại giáo và người Hồi Giáo; đoàn kết các nước Công Giáo; canh tân toàn diện đời sống tín hữu; phải bắt đầu công cuộc cải tổ từ Đức Giáo Hoàng và giáo triều Rôma. Bản điều trần viết rất thẳng thắn: "Hội Thánh của Thiên Chúa không phải là một đế quốc trần gian, nhưng là cộng đồng tín hữu do Đức Giáo Hoàng thay mặt Đức Kitô đứng đầu. Đức Giáo Hoàng không phải là một viên quản lý tài sản vật chất, nhưng là người phân phát những ân huệ thiêng liêng và vĩnh cửu của Thiên Chúa."

            Cũng như trên toàn "nước Ý"[75], ở Venezia phong trào canh tân được khởi đầu với các hội đoàn giáo dân với dấu đặc trưng là hoạt động bác ái và từ thiện. Nổi bật nhất là Hội Tình Yêu Thiên Chúa (Compagnia del Divino Amor). Được thành lập 1497 tại Genova, được phê chuẩn 1513; dần dần hội này lan rộng đến Venezia và khắp nơi. Ngoài đời sống đạo đức, đặc biệt dự lễ và rước lễ, hội cổ võ giúp đỡ trẻ mồ côi và đặc biệt những người bệnh nan y.

            Năm 1522, thánh Gaetano de Thiene lập ở Venezia Nhà tế bần Nan Y. Năm 1524, giám mục Gian Pietro Carafa từ bỏ chức vụ coi sóc giáo phận Chieti, hợp tác với thánh Gaetano biến nhóm anh em ban đầu thành "Hội dòng Teatino" gồm các giáo sĩ sống theo quy luật tu sĩ. Từ năm 1531, thánh Gaetano đi các nơi khác, công việc hội dòng ở Venezia được trao cho giám mục Carafa. Một vị thánh khác người Venezia đồng thời với thánh I-nhã, nhưng ngài cũng không gặp: thánh Giêrônimô Emiliani (1481-1537), vị sáng lập dòng tu giáo sĩ Somasca, cũng ở cùng nhà trọ với ngài nhưng đã rời Venezia ít lâu trước khi ngài đến đó. Đó là hai trong ba dòng tu giáo sĩ được thành lập trước Dòng Tên[76].

            Một khuôn mặt nổi bật khác của Hội Thánh tại Venezia là Gaspar Contarini, được một tác giả đương thời gọi là "một người khôn ngoan và đức hạnh, một người trời hơn là một người đời". Đó là một giáo dân nhiệt thành, đã học triết học và thần học tại Padova, từng làm sứ thần Venezia bên cạnh hoàng đế Karl V, rồi sứ thần Venezia cạnh Tòa Thánh, nhưng từ năm 1530, trở về Venezia chuyên đọc sách và gặp gỡ bạn bè. Năm 1535, Contarini được chọn làm hồng y, và chủ nhiệm Ủy Ban Canh Tân Hội Thánh.

Tại Rôma, Đức Giáo Hoàng Phaolô III nhậm chức năm 1534 thực lòng muốn canh tân Hội Thánh. Ngài sinh năm 1468 tại Canino hay Rôma, nước Ý, giữa thời Phục Hưng và tại cái nôi của phong trào Phục Hưng. Do đó, ngài được giáo dục rất chu đáo. Năm 23 tuổi, ngài được Đức Giáo Hoàng Innocentê VIII bổ nhiệm làm thư ký và lục sự Tòa Thánh. Ngài được phong hồng y năm 25 tuổi, rồi giám mục hai giáo phận Corneto và Montefiascone năm 31 tuổi[77]. Khi ngài được đặt làm giám mục Parma năm 41 tuổi, ngài vẫn chưa thụ phong linh mục và đã có 3 người con rơi. Mặc dầu mãi đến năm 1513 ngài mới dứt bỏ tình nhân, nhưng ngay từ năm 1509 ngài đã tỏ ý muốn cải tổ Hội Thánh khi bổ nhiệm một linh mục thông thái và đạo đức là Bartholomeo Guidiccioni làm Tổng Đại Diện giáo phận Parma. Năm 1516, ngài kinh lý giáo phận, điều hết sức họa hiếm đối với các giám mục đương thời. Năm 1519, ngài quyết định thụ phong linh mục rồi giám mục và dâng thánh lễ mở tay dịp lễ Giáng Sinh. Ngài cũng triệu tập công đồng giáo phận và quyết định áp dụng các nghị quyết của công đồng chung Laterano. Từ đó, ngài được nhìn nhận là một nhà cải cách, mặc dầu nếp sống của ngài còn mang nhiều nét thế gian của thời Phục Hưng. Ngay từ đầu, ngài đã nghĩ đến việc triệu tập một công đồng chung để cải tổ Hội Thánh. Tuy nhiên, ngài gặp nhiều khó khăn cả nơi người khác cũng như nơi chính bản thân. Ngài muốn cải tổ Hội Thánh, nhưng bản thân chưa thể dứt bỏ hoàn toàn tinh thần thế gian[78]. Việc ngài tin dùng hồng y Contarini là một khởi điểm đáng mừng.

Trong bối cảnh ấy, thánh I-nhã cũng góp phần vào công cuộc canh tân Hội Thánh theo cách thức của ngài. Ngoài việc học hành để về lâu về dài có thể làm việc tông đồ hữu hiệu hơn, ngài cũng nói chuyện thiêng liêng và giúp một số người tập Linh Thao. Về nói chuyện thiêng liêng, qua hai thư gởi nữ tu Rejadell, chúng ta thấy ngài là một bậc thầy về đời sống thiêng liêng[79]. Về Linh Thao, ngài viết cho cha linh hướng của ngài: “Con nghĩ Linh Thao là điều tốt nhất trên đời này để giúp một người thu được lợi ích cho mình cũng như để người ấy đem lại ích lợi cho người khác."[80] Ngài kể tên bốn người tập Linh Thao tại Venezia. Có hai linh mục người Ý: một là anh em họ của hồng y Contarini và coi sóc Nhà tế bần Nan Y, một là tổng đại diện của Sứ thần Tòa Thánh tại Venezia. Hai người Tây Ban Nha ít nổi tiếng hơn. Một người tên là Rozas, hiện chúng ta không biết là ai. Về người kia, linh mục Hoces, thánh I-nhã cho chúng ta biết khá nhiều điều, qua đó chúng ta hiểu được phần nào những khó khăn ngài đang phải đối diện tại Venezia và sẽ phải đối diện tại Rôma[81].

 

Một bất đồng quan điểm

 

Khi hồng y Contarini đi Rôma, khuôn mặt nổi nhất còn lại ở Venezia là giám mục Carafa. Năm 1536, vị giám mục sẽ được gọi về Rôma làm hồng y, rồi năm 1542 làm Tổng Thanh Tra Giáo Lý, tiền thân Bộ Giáo Lý Đức Tin hiện nay, và cuối cùng năm 1555 làm Giáo Hoàng Phaolô IV. Lúc ấy dòng Teatino có tổng cộng 14 tu sĩ thuộc hai cộng đoàn, một ở Venezia một ở Napoli. Cộng đoàn Venezia sống tại nhà thờ San Nicolao di Tolentino. Họ sống gần như ẩn sĩ, đề cao phụng vụ và siêng năng tham dự các bí tích. Sau này, những liên lạc giữa thánh I-nhã và Carafa không được thân thiện, chắc chắn vì hai bên không đồng quan điểm về cách thức canh tân Hội Thánh, đặc biệt về sự khác biết trong cách sống của dòng Teatino và Dòng Tên.

Hiện nay, văn khố Dòng Tên còn lưu giữ bản viết tay của điều thường được gọi là thư thánh I-nhã gởi giám mục Carafa[82]. Các nhà chuyên môn cho biết nét chữ, giọng văn và các từ ngữ đúng là của thánh I-nhã. Chắc chắn đó đúng là một lá thư, như chính thánh I-nhã viết: "Xin ngài đọc thư này với lòng yêu mến và thiện chí mà tác giả có khi viết." Tuy nhiên, tại sao lá thư mở đầu không đề nơi và ngày, cũng không đề tên người nhận; kết thúc không có lời chào thường lệ, và thay vì chữ ký là một chữ I với dấu chấm? Theo Georges Bottereau[83], bản viết tay hiện được lưu giữ có nếp gấp làm 8, các góc và các nếp gấp đã sờn nhiều, nên có lẽ đã được thánh I-nhã để trong túi lâu ngày. Các nhà nghiên cứu đều đồng ý có lẽ đó là bản nháp một lá thư chưa hoàn chỉnh và chưa được gởi đi. Tại sao chưa gởi? Đơn giản là thánh I-nhã chưa sửa xong: thánh I-nhã đã sửa nhiều chỗ, nhưng ngài có thói quen sửa chữa rất cẩn thận trước khi gởi. Trong số những người tập Linh Thao, Hoces được đề cập cuối cùng. Có thể sau đó ngài mới soạn và chưa kịp gởi, thì vị giám mục được Đức Giáo Hoàng Phaolô III gọi về Rôma vào tháng 9.36; đến tháng 12 làm hồng y. Vì thế ngài không gởi nữa[84]. Cũng có thể ngài quyết định không gởi sau nhiều ngày suy nghĩ và cầu nguyện.

Theo H. Boehmor, trong năm 1536, thánh I-nhã liên hệ mật thiết với những nhà cải cách, đặc biệt tiếp xúc gần gũi với dòng Teatino và bề trên cả là Carafa, một người đáng sợ và quá quắt[85]. Thực ra, chủ nhà của thánh I-nhã rất thân thiện với anh em Teatino, và giám mục Carafa là cha giải tội của ông, nên có thể đã làm trung gian để hai bên tiếp xúc. Tuy nhiên, chắc giữa thánh I-nhã và giám mục Carafa không có những trao đổi sâu xa và thân thiện. Lúc ấy vị giám mục là nhân vật nổi nang hạng nhất ở Venezia, còn thánh I-nhã chỉ là một giáo dân vô danh. Chẳng những vậy, đối với vị giám mục, thánh I-nhã chỉ là một kẻ lang bạt, bị ra tòa về giáo lý tại Tây Ban Nha rồi tại Paris, chưa là linh mục đã đòi làm linh hướng[86]. Chắc chắn hai bên không hiểu rõ nhau.

Tại sao thánh I-nhã lại dự tính gởi một lá thư như vậy? Về nội dung, ngài cho biết "không phải ngài khám phá hay tưởng tượng ra", nhưng đã nghe người khác "phát biểu và khẳng định". Chỉ sau khi đã "cân nhắc và lượng định", ngài mới viết " với ý hướng hoàn toàn ngay lành". Ngài xin người nhận đọc thư với "lòng yêu mến và thiện tâm". Như vậy, chắc chắn ngài đã không viết vì hiềm khích hay nóng nảy. Vì Hội Thánh, ngài mong cho dòng Teatino được "duy trì và phát triển". Các tu sĩ sống nghèo và siêng năng đọc kinh dự lễ: "đời sống thánh thiện và đạo hạnh ấy chắc chắn là đường hướng đến sự hoàn thiện". Tuy nhiên, ngài "ngạc nhiên" thấydòng "không phát triển được". Theo ngài, vị giám mục bề trên sống giàu có hơn, sang trọng hơn anh em, nên không thúc đẩy được anh em bằng gương sáng. Thứ đến, các tu sĩ sống thiếu thốn quá, rất khó đối với những người yếu sẽ rất khó bền đỗ trong ơn gọi. Vì anh em trong dòng không xin ăn, cũng không làm việc mục vụ hay từ thiện chi hết để giúp đỡ tha nhân, nên không giúp đỡ được giáo dân và cũng không được giáo dân giúp đỡ. Ngài nghĩ rằng "không sử dụng những phương tiện thích hợp nhất để duy trì và phát triển" như vậy là "thử thách Thiên Chúa". Điều ngài mong muốn rõ ràng là dòng Teatino thay đổi để "phục vụ Thiên Chúa hơn". Để kết luận, ngài coi việc của dòng Teatino "như việc của chính mình", nên viết thư này "như nói với chính mình". Có người cho cách thức của ngài là liều lĩnh và ngay cả thiếu lễ độ khi phê bình cách sống của một giám mục và cả đường hướng của một dòng tu. Thực ra, cần lưu ý là ngài không phê phán một giám mục hay một dòng tu đã hoàn chỉnh, nhưng góp ý với bề trên và cộng đoàn Venezia mà ngài biết, vì cho là "còn đang trong những bước đầu". Ngài còn nhấn mạnh là "không muốn cho ý kiến hay lời khuyên", chỉ nói một cách "đơn sơ và thân ái như nói với chính mình". Nhưng phải nhìn nhận là lúc ấy ngài chưa hiểu rõ dòng Teatino cũng như giám mục Carafa.

Dầu sao, qua va chạm này, chúng ta biết rõ hơn quan điểm thánh I-nhã về Dòng Tên lúc ấy đang dần dần định hình. Theo G. Bottereau, thư gởi Carafa là bản văn cổ nhất về Dòng Tên: 3 năm trước Cuộc Bàn Định của Các Cha Đầu Tiên, các lý tưởng của thánh I-nhã khá rõ rệt[87]. Về đời sống, bên trong, phải có "lòng yêu mến chân thành chứ không giả dối, thật lòng trước mặt Chúa", bên ngoài, phải "nêu gương sáng để cảm hóa mọi người hơn", "nhất là những người cùng sống với mình", vì người ta "để ý đến việc làm hơn lời nói". Về công việc, phải "hết lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa", nhưng cũng phải "giảng dạy", phải "xả thân lo việc từ thiện", phải "vận dụng những phương thế thích hợp nhất", để "phục vụ và ca ngợi Thiên Chúa chí linh".

Thánh I-nhã đã quyết định sáng lập một dòng tu? Ngày 24.7.1537, tức là gần một năm sau, khi đã thụ phong linh mục được một tháng, thánh I-nhã vẫn khẳng định: "Tôi chưa biết Thiên Chúa muốn tôi làm gì."[88]

 

Cũng đi Venezia

 

Chín người bạn cùng chí hướng đến Venezia đầu năm 1537.[89]

Thánh I-nhã chỉ viết một câu ngắn, nhưng có thật nhiều điều cần phải nói. Trước khi thánh I-nhã rời Paris, nhóm 7 người bạn trong Chúa thỏa thuận hẹn nhau tại Venezia để cùng đi Giêrusalem; nhóm Paris sẽ khởi hành ngày 25.1.1537.

Laínez cho biết khi thánh I-nhã rời Paris, chân phước Phêrô Favre được coi là "anh cả" của nhóm[90]. Trong thời gian thánh I-nhã ở Tây Ban Nha và Venezia, nhóm ở Paris vẫn tiếp nhận thêm người mới. Mỗi người tập Linh Thao do Chân phước Phêrô Favre hướng dẫn, và sinh hoạt đều đặn với các bạn. Hằng năm, cứ đến ngày 15 tháng 8, họ lên Montmartre nhắc lại lời khấn. Năm 1535, có thêm Claude Jay, đồng hương với chân phước Phêrô Favre, sinh khoảng 1500-1504, thụ phong linh mục năm 1528. Năm 1536, thêm Paschase Broet, sinh năm 1500, thụ phong linh mục năm 1524, và Jean Baptiste Codure, sinh năm 1508, lúc ấy chưa thụ phong linh mục. Cả ba bạn mới đều là người Pháp. Từ Venezia, thánh I-nhã viết thư cho một phụ nữ Tây Ban Nha ở Paris xin giúp đỡ 9 người bạn trong Chúa về vật chất để đi hành hương Giêrusalem[91].

Theo dự tính ban đầu, họ sẽ rời Paris ngày 25.1.1537 để đi Venezia. Nhưng giữa hai kẻ thù không đội trời chung là Karl V và François I không thể có hòa bình lâu dài được. Năm 1536, chiến tranh tái phát. François I đưa quân chiếm miền Savoie (đông nam Pháp hiện nay) và Torino (bắc Ý hiện nay). Quân đội Tây Ban Nha từ Ý tấn công miền nam và từ Bỉ xâm lấn miền đông bắc nước Pháp. Dân chúng Paris sôi sục tình cảm bài Tây Ban Nha. Trong 9 người của nhóm có 4 là người Tây Ban Nha. Họ quyết định rời Paris sớm, để bảo toàn nhóm: sẽ khởi hành ngày 15.11.1536. Được tin các bạn phải rời Paris sớm vì chiến tranh, từ Venezia viết thư cho cha Gabriel Guzman, dòng Thánh Đaminh, cha giải tội của hoàng hậu Eleanor, em gái hoàng đế Carlos V, để xin vị này giúp đỡ các bạn: “Vì bất ổn và chiến tranh khủng khiếp lan rộng, con rất sợ là họ sẽ rất thiếu thốn, và ngay cả cùng khốn. Vì chúng ta phải kính mến và để phục vụ Thiên Chúa, con xin cha làm bất cứ điều gì làm được và bằng bất cứ cách nào Thiên Chúa soi sáng cho cha để giúp đỡ họ.[92]

Khi biết quyết định của nhóm, nhiều người ngăn cản họ. Có một giáo sư cho như vậy là phạm tội trọng vì liều lĩnh. Nhưng họ đã có chương trình hết rồi. Họ không dám đi về hướng đông nam, tuy gần hơn nhiều, nhưng nguy hiểm hơn. Họ sẽ đi về hướng đông, qua Đức và Thụy Sĩ để đến Ý. Đường này xa hơn và khó hơn, nhưng đỡ nguy hiểm. Toán trước rời Paris đi Meaux ngày 11. Toán sau ở lại phân phát cho người nghèo các vật dụng thường ngày, rồi đúng ngày 15 thì lên đường[93]. Tất cả mặc áo chùng thâm của sinh viên thần học Paris, cổ đeo tràng hạt, vai đeo túi vải đựng sách kinh và quần áo. Họ đi bộ, nhưng đem theo tiền bạc để trang trải việc ăn uống và ở trọ. Trên đường, sẽ có giờ cầu nguyện riêng và giờ đọc thánh vịnh chung. Hằng ngày 3 linh mục sẽ dâng lễ, mọi người dự lễ và rước lễ. Mỗi tối đến nhà trọ sẽ quỳ gối tạ ơn Chúa về một ngày đã qua. Sáng hôm sau thức dậy lại quỳ gối dâng ngày mới cho Chúa.

Có thể chia lộ trình thành 5 chặng. Trước hết, từ Meaux đến Metz, khoảng 250 km, trên lãnh thổ Pháp. Đó là vùng chiến tuyến và là chặng nguy hiểm nhất. Họ chia thành hai toán, mỗi toán có người Pháp và có người Tây Ban Nha. Khi gặp quân đội nước nào, nếu bị hỏi, mỗi người chỉ trả lời một câu: Chúng tôi là sinh viên Paris. Nếu họ hỏi gì thêm, chỉ người nước ấy trả lời, để khỏi lộ. Quả thực mấy lần họ bị quân Pháp hỏi, có lần bị cho là khùng, vì hỏi gì cũng chỉ trả lời: Chúng tôi là sinh viên Paris. Từ Metz đến Strasbourg lúc ấy là vùng trung lập, nên cả nhóm đi chung. Đây là chặng đường hơn 200 km bình an và dễ dàng nhất. Từ Strasbourg đến Konstanz, tức là khu vực nói tiếng Đức và theo Tin Lành, nhóm gặp rất nhiều khó khăn. Không ai biết đường mà cũng không ai biết tiếng Đức, nên rất khó hỏi đường và nhà trọ. Đôi khi lạc đường. Hầu hết dân vùng ấy đã bỏ Công Giáo theo Tin Lành. Đôi khi các bạn bị đuổi, bị dọa giết, có lần phải khó khăn lắm mới thoát chết. Nhiều lần các bạn tranh luận về giáo lý với người Tin Lành. Có khi các bạn đau lòng chứng kiến đám cưới của một linh mục bỏ chức vụ. Cũng có lúc các bạn gặp một số người Công Giáo và cho họ chịu các bí tích. Từ Konstanz đến Trento, phải vượt qua núi Alpes giữa mùa đông. Trời lạnh, tuyết phủ kín, không biết đâu là đường. Có lúc tuyết ngập quá đầu gối. Rất khó tìm được chỗ trọ. Từ Trento đến Venezia, chỉ có một chút khó khăn về ngôn ngữ và trời lạnh, nhưng so với chặng ở Đức và chặng vượt núi Alpes thì không có chi đáng kể[94].

Họ đã vượt qua hơn 1000 km, và đến Venezia ngày 8.1.1537, khỏe và vui[95], sớm hơn dự trù hai tháng. Trong chuyến đi, Laínez cho biết về ăn uống thì "đủ, có khi thiếu chứ không dư"[96]. Rodrigues nhấn mạnh nhiều về niềm vui: chân như không chạm đất[97]. Chân phước Phêrô Favre ghi nhận: "Trong chuyến đi ấy, Thiên Chúa ban cho chúng tôi biết bao ân sủng kể chẳng xiết.[98]" Chắc chắn thánh I-nhã và các bạn rất vui mừng gặp lại nhau tại Venezia. Chân phước Phêrô Favre giới thiệu ba bạn mới; thánh I-nhã cũng giới thiệu Diego de Hoces và cả hai anh em Diego và Esteban de Eguía lúc ấy vắng mặt. Mặc dầu phải trải qua bao thử thách, nhóm chẳng những đứng vững mà còn tăng số. Và hơn cả con số là một sợi dây thiêng liêng nối kết cả nhóm với nhau trở nên bền chặt. Từ nay chỉ cái chết mới chia lìa được các bạn trong nhóm.

 

Chờ tàu

 

            Họ chia nhau đến phục vụ trong các nhà tế bần[99].

            Chúng ta đã biết là theo thỏa thuận giữa Venezia và đế quốc Ottoman, mỗi năm có một chuyến tàu hành hương khứ hồi Venezia-Giêrusalem. Tàu thường khởi hành vào mùa hè. Ít nhất cũng phải đến tháng 6 hay tháng 7 mới có tàu. Trong thời gian chờ đợi, họ chia ra hai giai đoạn: ba tháng đầu đi giúp người nghèo và người bệnh, ba tháng sau đi Rôma xin phép Đức Giáo Hoàng. Hai nhà tế bần được chọn là Santi Giovanni e PaoloNan Y, ngay tại Venezia. Riêng thánh I-nhã tiếp tục tự học thần học một mình, đồng thời đến nhà tế bần thăm anh em hoặc tiếp đón anh em đến thăm. Công việc tại nhà tế bần được cha Rodrigues cho biết là quét dọn, rửa ráy, lau chùi, dọn giường, đổ bình vệ sinh, chôn người chết. Hai cha Favre và Hoces biết tiếng Ý chuyên lo giải tội. Việc phục vụ được thực hiện cả ngày lẫn đêm, một cách chu đáo, nhiệt tình, hân hoan. Một điều khá quan trọng là phải thắng vượt những ghê sợ tự nhiên. Điển hình nhất là chuyện thánh Phanxicô Xavier với một người bệnh phong. Một hôm có người mình đầy mụn nhọt xin ngài gãi lưng cho. Đang khi gãi, ngài rất ghê sợ và muốn ói. Để thắng, ngài đưa tay vào miệng và nuốt hết mủ dính ở tay. Đêm ấy ngài ngủ mơ thấy mình bị bệnh phong ở miệng, ho mãi, khạc mãi vẫn không hết![100]

            Sau hai hay ba tháng, họ đi Rôma để xin Đức Thánh Cha ban phép lành cho chuyến đi Giêrusalem. Kẻ hành hương không đi, vì ngại gặp tiến sĩ Ortiz và cả vị hồng y Thêatinô. Các bạn cùng chí hướng từ Rôma trở về, mang theo một tín phiếu trị giá khoảng 200 đến 300 escudos là của bố thí để đi Giêrusalem. Họ chỉ nhận tín phiếu. Sau đó, vì không đi Giêrusalem được, họ gởi trả lại những người đã cho. Đi thế nào, các bạn cùng chí hướng về lại Venezia như vậy, nghĩa là đi bộ và xin ăn, nhưng chia thành ba toán, mỗi toán có những người thuộc các quốc tịch khác nhau[101].

Chúng ta đã biết vào thời ấy muốn đi hành hương Giêrusalem phải có phép của Đức Giáo Hoàng. Lẽ ra cả nhóm phải đi, nhưng thánh I-nhã ở lại Venezia vì ngại gặp tiến sĩ Ortiz và hồng y Carafa. Tiến sĩ Pedro Ortiz sinh năm 1501 và nhận học vị tiến sĩ thần học tại Paris năm 1525. Trong thời gian thánh I-nhã ở Paris, ông tích cực vận động để học giả Erasme và giám mục Briçonnet bị kết án. Thánh I-nhã nghi là chính ông đã tố cáo ngài với vị thanh tra giáo lý ở Paris. Từ năm 1530, ông làm sứ thần của hoàng đế Karl V cạnh Tòa Thánh. Hồng y Carafa của dòng Teatino từ lâu cũng không có thiện cảm gì với thánh I-nhã. Vì thế, ngài ở lại để tránh rắc rối có thể xảy đến cho cả nhóm.

Nhóm 9 người chia thành 3 toán, mỗi linh mục một toán, khởi hành từ Venezia[102]. Cha Laínez cho biết là vào giữa mùa chay[103]. Thánh I-nhã nói họ "hoàn toàn không có gì, chỉ hi vọng và tin tưởng nơi Chúa."[104] Theo cha Rodrigues, chuyến đi là thực nghiệm đầu tiên về thanh bần: ăn xin, chỉ xin đủ ăn trong ngày; ngủ nhờ nhà tế bần và dạy giáo lý cho những người ở đó; không rời khỏi sự thanh bần một móng tay![105] Đây là lúc thi hành lời khấn Montmartre. Có người nghĩ họ là những kẻ đã cướp phá Rôma năm 1527[106], nên bây giờ làm việc đền tội. Trước khi đến Ravenna, suốt mấy ngày không xin được gì ăn, vì vùng ấy không có người ở, đói và mệt tưởng chừng không sao đi tiếp được. Gần đến Ravenna, trời mưa khiến nước sông dâng cao, có lúc phải đi chân không, lội nước ngập đến ngực. Đến Ancona, lại lụt. Cả nhóm không có gì để ăn, trong túi không có đồng nào. Sau khi lên đò qua sông, bị chủ đò giữ sách nguyện, phải vào chợ ăn xin để chuộc lại. Cả nhóm dừng lại một ngày sốt sắng viếng Đức Mẹ Loreto. Theo cha Laínez, nhóm hân hoan lên đường, vừa đi vừa hát thánh vịnh[107]. Nhiều hôm chỉ có bành mì và nước lã, nhưng Chúa thương cho khỏe mạnh. Cuối cùng cả nhóm đến Rôma bình an vào chiều Chúa Nhật Lễ Lá 25 tháng 3.

Toán Tây Ban Nha ở nhà trọ Santiago tại quảng trường Navona. Tiến sĩ Ortiz là cố vấn của nhà trọ: trái với mọi lo ngại, ông gặp họ và ôm hôn thắm thiết, rồi sắp xếp để họ đến gặp Đức Giáo Hoàng tại Lâu Đài Thiên Thần vào thứ ba lễ Phục Sinh ngày 3.4. Hôm ấy, Đức Giáo Hoàng mời một số hồng y, giám mục, và tiến sĩ đến dùng bữa với ngài. Trong bữa ăn, các bạn thảo luận thần học, giải đáp những câu hỏi được nêu lên… Đức Giáo Hoàng rất hài lòng. Thánh I-nhã cho biết kết quả: 1) chẳng những cho phép, Đức Giáo Hoàng còn chúc lành và khích lệ các bạn đi hành hương Giêrusalem; 2) chính Đức Giáo Hoàng tặng các bạn 60 ducado, và các vị khác tặng 200 ducado để các bạn đi đường; 3) cho ai đã là linh mục được quyền giải tội và giải các vạ thuộc quyền giám mục; 4) ai chưa là linh mục được xin bất kỳ giám mục nào phong chức cho[108]. Thật là vượt trên mọi mong chờ.

Sau khi tham dự Tuần Thánh và viếng bảy vương cung thánh đường như khách hành hương thường làm, các bạn từ Rôma về đến Venezia khoảng đầu tháng 5. Ngày lễ Thánh Thể[109] có cuộc rước kiệu truyền thống long trọng, chắc chắn thánh I-nhã và các bạn đã sốt sắng tham dự.

Tại Venezia, ai chưa làm linh mục thì được phong chức, và vị sứ thần, sau này là hồng y Veralla, ban các năng quyền. Họ thụ phong với tư cách thanh bần[110], và mỗi người khấn thanh bần và khiết tịnh[111].

Sau khi tự ý xin tuyên khấn khiết tịnh và thanh bần trong tay vị sứ thần Tòa Thánh, thánh I-nhã và 6 anh em được ban các chức nhỏ ngày 10.6, chức phụ phó tế ngày 15, chức phó tế ngày 17 và cuối cùng chức linh mục ngày 24.6, lễ thánh Gioan Tẩy Giả, do đức cha Vicenzo Negusanti, giám mục Arbe tại nhà nguyện ở tư dinh của ngài tại Venezia. Các bạn được ban toàn quyền giảng thuyết, dạy dỗ, giải thích Kinh Thánh công khai cũng như riêng tư, riêng trong nước cộng hòa Venezia được hưởng đặc ân giải các tội và các vạ dành riêng cho các giám mục, tổng giám mục và thượng phụ[112]. Riêng Salmeron vì chưa đủ 23 tuổi nên phải chờ đến tháng 10 mới thụ phong linh mục.

Bình thường tàu hành hương khởi hành vào tháng 6, cho đến năm ấy là 37 năm liền chưa hề gián đoạn. Nhưng căng thẳng giữa hai liên minh, một bên là Thổ Nhĩ Kỳ và Pháp, bên kia là Venezia, Tây Ban Nha và Tòa Thánh, lên tới đỉnh cao vào năm 1536. Các tàu chiến Thổ Nhĩ Kỳ lởn vởn trên Địa Trung Hải và biển Adriatic, trong khi Venezia đang trong tình trạng ứng chiến. Ngày 3.6, Venezia và Thổ Nhĩ Kỳ đoạn giao: hy vọng đi Giêrusalem trở nên rất mong manh. Dầu sao, thánh I-nhã và các bạn vẫn hy vọng sẽ dâng lễ mở tay tại Đất Thánh. Để chuẩn bị, tất cả các bạn quyết định dành ra 40 ngày sống cô tịch để hãm mình và cầu nguyện. Từng hai người đến những nơi gần Venezia để khi có tàu thì đến kịp: thánh Phanxicô Xavier và Salmeron đi Montelise; cha Rodrigues và cha Jay đi Bassano; cha Broet và cha Bobadilla đi Verona; cha Codura và cha Hoces đi Treviso; chỉ có một toán 3 người là thánh I-nhã cùng với chân phước Phêrô Favre và cha Laínez đi Vicenza.

Kẻ hành hương cùng với Favre và Laínez đi Vicenza. Tại đó, họ tìm được một căn nhà ở ngoài thành phố, không có cửa ra vào cũng không có cửa sổ. Họ ở đó và ngủ trên ít rơm họ đem vào. Mỗi ngày hai người vào trong thành phố xin ăn hai lần, nhưng được rất ít, nên chỉ sống cầm hơi. Thường thì họ ăn một chút bánh mì nướng, khi có; ai ở nhà thì lo nướng bánh. Họ sống 40 ngày như vậy, chẳng làm gì khác ngoài cầu nguyện[113].

Cũng thánh I-nhã cho biết đó là đan viện San Pietro in Vivarolo, cách cổng Santa Croce một dặm, đã bị bỏ hoang. Các đan sĩ Santa Maria delle Grazie đồng ý cho thánh I-nhã và các bạn muốn ở đó bao lâu cũng được[114]. Ribadeneira cho biết đó là một căn nhà nhỏ, bên ngoài tường thành, cách cổng Santa Croce một dặm, cửa ra vào cũng như cửa sổ đã bị lấy đi, nên gió và mưa tự do vào. Thánh I-nhã và các bạn lấy rơm trải ngay trên nền nhà để nằm ngủ [115]. Mỗi ngày chân phước Phêrô Favre và cha Laínez vào thành phố xin ăn 2 lần, còn thánh I-nhã ở nhà chuẩn bị bữa ăn. Thánh I-nhã viết: "Càng ngày chúng tôi càng nghiệm thấy rõ hơn câu 'không có gì nhưng có mọi sự' (2 Cr 6,10) là đúng."[116]

Trong thời gian ở Vicenza, trái với thời gian ở Paris, kẻ hành hương có nhiều thị kiến thiêng liêng, còn các an ủi thì vừa nhiều vừa nối tiếp nhau. Trong các chuyến đi, nhất là ở Venezia, khi chuẩn bị thụ phong linh mục và khi chuẩn bị dâng lễ, kẻ ấy có nhiều cuộc thăm viếng siêu nhiên tương tự như thường có khi kẻ ấy ở Manresa[117].

Suốt thời gian từ khi đi Giêrusalem về Tây Ban Nha năm 1524 đến lúc đi Vicenza năm 1537, thánh I-nhã không có những tâm tình sốt sắng hay những thị kiến. Vicenza trở nên như Manresa thứ hai của ngài: ngài thường có thị kiến và được ơn an ủi đến nỗi khóc gần hư cả mắt[118].

Sau 40 ngày, cha Jean Codure tới, và bốn người quyết định bắt đầu giảng. Bốn người đến bốn quảng trường của thành phố, và vào cùng ngày cùng giờ, họ kêu gọi lớn tiếng và dùng mũ để mời người ta tập họp lại nghe giảng. Những bài giảng đó làm đề tài cho người ta chuyện trò với nhau trong thành phố, nhiều người xúc động với lòng sốt sắng và cung cấp cho họ tất cả những điều họ cần về vật chất. [119]

Đề tài giảng thường là tật xấu, tội lỗi, nhân đức, tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Có nhiều người đến nghe. Tuy các nhà giảng thuyết chưa thông thạo tiếng Ý, nhưng qua thái độ sốt sắng người ta thấy được lòng nhiệt thành nên rất cảm phục. Họ nhận được nhiều của bố thí.

 

 

Đoàn Giêsu

 

Ngay từ cuối tháng 7.37, thánh I-nhã đã viết: "Năm nay, người ta rất mong có tàu đi Giêrusalem, nhưng vẫn chưa có và cũng không có."[120] Một mặt không được tuyệt vọng, một mặt vẫn phải chuẩn bị tương lai. Ngày 13.9, Venezia ký hiệp ước liên mih với Tòa Thánh chống lại Thổ Nhĩ Kỳ. Hy vọng về chuyến tàu hành hương kể là không còn gì nữa. Cuối tháng 9, thánh I-nhã gọi tất cả các anh em đến Vicenza để bàn định. Cả nhóm ở chung trong căn nhà trống hổng và nằm ngủ trên rơm trải ở nền nhà. Có lẽ thấy hy vọng đến Giêrusalem trở nên xa vời, các cha Xavier, Codure, Bobadilla và Laínez âm thầm dâng lễ mở tay. Cha Rodrigues sẽ dâng lễ mở tay ở Ferrara sau đó ít lâu. Riêng thánh I-nhã ‘đã quyết định chưa dâng lễ trong vòng một năm, để dọn mình và khấn xin Đức Mẹ thương đặt mình với Con của Mẹ’[121], vì hy vọng được dâng lễ mở tay tại Bêlem.

Trong khi tiếp tục chờ tàu, họ chia nhau đến các đại học ở Bắc Ý để tìm thêm các bạn mới cho nhóm. Các cha Codure và Hoces đi Padova, Jay và Rodrigues đi Ferrara, Xavier và Bobadilla đi Bologna, Broet và Salmeron đi Siena. Riêng thánh I-nhã sẽ cùng với chân phước Favre và cha Laínez đi Rôma với mục đích tương tự, đồng thời chuẩn bị nếu không đi Giêrusalem được thì cả nhóm sẽ ‘dâng mình cho Đức Thánh Cha’. Trước khi chia tay, cần giải đáp câu hỏi này: nếu người ta hỏi họ thuộc nhóm nào thì phải trả lời ra sao? Thì ra từ hơn 3 năm, kể từ ngày tuyên khấn lần đầu ở Montmartre, nhóm vẫn chưa có tên. Đã có những người gọi họ là nhóm I-nhã, nhưng thánh I-nhã nhất định phản đối. Ngài đề nghị các bạn đi cầu nguyện. Rồi theo đề nghị của thánh I-nhã, mọi người nhất trí tự xưng: "Chúng tôi là Đoàn Giêsu". Sau này cha Polanco giải thích lý do: “Vì giữa họ không có ai là lãnh đạo hay đứng đầu, ngoài Đức Giêsu Kitô là Đấng duy nhất họ phục vụ, họ thấy nên lấy tên của Đấng họ coi là đầu để đặt cho tập thể.[122] Đây sẽ là tên chính thức của nhóm và sau đó là của dòng. Tên nhóm có vẻ đơn giản nhưng diễn tả cả một linh đạo[123].

Họ đã quyết định sau một năm mà không có tàu, họ sẽ đi Rôma, cả kẻ hành hương nữa, vì trong chuyến trước, hai nhân vật kẻ ấy sợ lại tỏ ra ưu ái các bạn cùng chí hướng[124].

Thật ra, chúng ta không biết thời hạn một năm tính từ khi nào: từ tháng 1 khi cả nhóm có mặt tại Venezia hay từ tháng 6 là lúc thường tàu hành hương nhổ neo?

Ở Venezia, kẻ hành hương lại bị tấn công lần nữa, vì nhiều người kể là người ta đã đốt hình nộm của kẻ ấy ở Tây Ban Nha và ở Paris. Vụ này đi xa đến nỗi người ta mở một phiên tòa để xét xử, nhưng kết quả là kẻ ấy đã thắng[125].

Có nhiều câu hỏi đặt ra: Ai tố cáo? Khi nào? Phiên tòa diễn ra thế nào? Chúng ta chắc chắn được là có một cuộc điều tra dẫn đến phán quyết ngày 13.10.1537. Thánh I-nhã không cho biết ai tố cáo. Theo Miguel Landívar, người tố cáo có lẽ là linh mục Antonio Arias, người Tây Ban Nha, đã biết thánh I-nhã ở Paris, sau đó cũng như Landívar, đến Venezia với ý định gia nhập nhóm Những người bạn trong Chúa, tham gia chuyến khứ hồi Rôma để xin phép di Giêrusalem. Tuy nhiên, khi về lại Venezia đã thay đổi: cho thánh I-nhã và các bạn là theo bè rối Alumbrado và giả vờ phục vụ Thiên Chúa. [126] Nadal nêu đích danh giám mục Carafa đứng đàng sau giật dây[127]. Muốn bảo vệ thanh danh cần thiết cho hoạt động tông đồ, thánh I-nhã xin Sứ thần Tòa Thánh tại Venezia là Varelli xét xử. Vị này giao cho tổng đại diện Gaspar de Dotti điều tra cặn kẽ và tiến hành đúng theo luật: có lời chứng của ngyuên cáo, có thẩm vấn bị cáo, có luật sự biện hộ[128]. Thánh I-nhã đang ở Vicenza được gọi về Venezia để thẩm vấn. Cuối cùng, ngày 13.10, bản phán quyết cho rằng những lời tố cáo là vớ vẩn, vô căn cứ và bịa đặt, còn thánh I-nhã được nhìn nhận là một linh mục có đời sống và giáo thuyết tốt[129]. Với phán quyết này, thánh I-nhã và các bạn yên tâm lên đường đi Rôma.

 

Thị kiến La Storta

 

            Họ chia thành ba hay bốn toán đi Rôma. Kẻ hành hương cùng đi với Favre và Laínez. Trong chuyến đi, kẻ ấy được Thiên Chúa viếng thăm rất đặc biệt. Sau khi thụ phong, kẻ ấy đã quyết định chưa dâng lễ trong vòng một năm, để dọn mình và khấn xin Đức Mẹ thương đặt mình với Con của Mẹ. Và một hôm, kẻ ấy đang cầu nguyện trong một nhà thờ, cách mấy dặm nữa thì đến Rôma, kẻ ấy cảm thấy một sự biến đổi trong tâm hồn và thấy rõ Thiên Chúa Cha đặt mình với Đức Kitô là Con của Người, đến nỗi kẻ ấy không bao giờ dám nghi ngờ việc Thiên Chúa Cha đã đặt mình với Con của Người[130].

Vicenza đưa thánh I-nhã đến chỗ chìm ngập trong bầu khí thần linh, mà nổi bật hơn hết là ước nguyện được nên một với Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Đi bộ trên quãng đường hơn kém 500 km từ Vicenza đến Rôma, ngài được Chúa ban ơn sốt sắng mãnh liệt, mắt gắn chặt vào những thực tại siêu nhiên, lòng tha thiết xin Đức Mẹ cầu khẩn cho mình ơn ‘được đặt với Con của Mẹ’.

Tháng 11.1537, khoảng ngày 15, ngài cùng với hai bạn đồng hành đến một địa điểm cách Rôma chừng 15 km về phía bắc gọi là La Storta. Tại đó, có một ngôi nhà thờ nhỏ nằm ngay bên đường. Ngài vào đó cầu nguyện và cảm nghiệm điều hiện nay chúng ta gọi là Thị kiến La Storta.

Cha L.G. da Câmara cho thánh I-nhã biết là cha Lainez kể hơi khác, thì ngài trả lời là “tất cả những gì cha Laynez kể đều đúng, vì chính kẻ ấy không nhớ các chi tiết.”[131] Ngày 2.7.1559, cha Lainez, lúc ấy là Bề Trên Cả Dòng Tên, giải thích Bản Khảo Sát của Hiến Chương Dòng Tên cho hơn 200 Giêsu hữu ở Rôma. Khi giải thích tại sao gọi Dòng là 'Dòng nhỏ xíu', ngài kể về việc thành lập Dòng và những lý do các cha đầu tiên nhận danh hiệu Đoàn Giêsu, và trong ngữ cảnh ấy, ngài nói về các thị kiến thánh I-nhã liên hệ đến đề tài. Theo ngài, hình như có hai, chứ không chỉ một thị kiến. Ít là ngài phân biệt hai thời điểm thánh I-nhã kể lại cho ngài. “Nền tảng đầu tiên của danh hiệu này là Cha I-nhã, như tôi sắp giải thích. Trên đường đi Rôma theo ngả Siena, Cha hay được Thiên Chúa đến thăm viếng và ban nhiều tâm tình thiêng liêng, đặc biệt liên hệ với bí tích Thánh Thể cực trọng, mà hằng ngày Cha nhận từ tay cha Phêrô Favre hay từ tay tôi, vì chúng tôi dâng thánh lễ mỗi ngày, riêng Cha thì không... Cha nói với tôi rằng hình như Thiên Chúa Cha đã ghi khắc vào trong lòng Cha những lời này: "Cha sẽ phù hộ chúng con ở Rôma". Và không hiểu những lời ấy muốn ám chỉ gì, Cha nói: "Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho chúng ta ở Rôma, có thể chúng ta sẽ bị đóng đinh vào thập giá ở Rôma." Rồi một lần khác, Cha nói hình như Cha thấy Chúa Giêsu vác Thánh Giá và Chúa Cha ở bên cạnh đó nói với Đức Kitô: "Cha muốn Con nhận người này làm đầy tớ". Và thế là Đức Giêsu thực sự đón nhận Cha và nói: "Ta muốn con phục vụ Chúng Ta." Vì thế, Cha rất sùng kính thánh danh cực trọng, và ước mong đặt tên cho nhóm là Đoàn Giêsu.”[132] Thánh Phêrô Kanijs, có lẽ theo lời kể của chân phước Favre, thuật lại lời Chúa Cha hơi khác: “Ta sẽ ở với các con.[133]

Kinh nghiệm La Storta rất đậm nét trong đời sống thánh I-nhã. Hơn sáu năm sau, ngài viết trong Nhật Ký Thiêng Liêng: “Tôi nhớ lại hôm tôi được Chúa Cha đặt với Chúa Con.”[134] Ngài không kể các diễn biến khả giác, chỉ nói đến một cảm nghiệm nội tâm. Hình như đối với ngài một chuyện hay hai chuyện cũng không quan trọng, Chúa Cha nói "Tại Rôma, Ta sẽ phù hộ các con" hay "Tại Rôma, Ta sẽ ở với các con" cũng không quan trọng. Điểm chính yếu là ngài đã được nhậm lời: được đặt với Chúa Con.

Được đặt với Chúa Con nghĩa là gì? Hình như không thấy ai ngoài thánh I-nhã xin ơn ấy. Chúng ta phải đặt lại lời nguyện ấy vào kinh Lạy Hồn Chúa Kitô[135] rất quen thuộc mà ngài rất thích. Hiển nhiên là khi cầu nguyện với kinh này, chúng ta thưa với Chúa Giêsu Tử Nạn. Nhưng nếu thưa chuyện với ai, phải giả thiết là người ấy đang nghe, nghĩa là đang sống. Trong ý hướng ấy, kinh Lạy Hồn Chúa Kitô thưa với Chúa Giêsu Phục Sinh: khi con chết, xin đặt con bên Chúa, nghĩa là chung hưởng vinh quang với Người. Nhưng thánh I-nhã không chỉ xin như vậy. Ngài đã được nhậm lời, mặc dầu còn sống. Chúng ta phải trở về với Linh Thao. Trước lời Đức Vua mời gọi "ai muốn đến với tôi, phải chịu gian lao với tôi, vì hễ theo tôi trong gian khổ cũng sẽ theo tôi trong vinh quang", người tập Linh Thao xin "được chịu tất cả mọi sỉ nhục, lăng mạ và thanh bần, cả trong thực tế cũng như trong tinh thần"[136]. Trước hai cờ hiệu của Đức Kitô và của Lucifer, người tập Linh Thao xin "được nhận vào dưới cờ của Người", tức là thanh bần, sỉ nhục và phỉ báng.

Thánh I-nhã theo chủ nghĩa thống ái? Có lẽ vào thời của ngài, nhiều người thực sự theo quan niệm thống ái. Nhưng nếu nhìn chung toàn bộ đời sống và linh đạo của ngài, chúng ta không thấy bóng dáng nào của chủ trương ấy. Vậy trước hết có lẽ là một lời nguyện tu đức: muốn theo Chúa Giêsu phải bỏ mình, do đó ngài xin những điều ngược lại với sở thích tự nhiên của con người. Nhưng sâu xa hơn, có lẽ đó là một ước nguyện thần bí muốn kết hợp hoàn toàn với Chúa Giêsu cả đến trong cái chết. Sách Gương Chúa Giêsu (mà ngài đọc hằng ngày) có câu: "Nhiều người theo Chúa Giêsu đến nhà Tiệc Ly, ít ai theo Chúa đến Đồi Sọ." Muốn trổi vượt trong việc bước theo Chúa Giêsu, thánh I-nhã muốn đi với Chúa đến cùng: "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hi sinh mạng sống vì bạn hữu" (Ga 15,13). Nói theo thánh Phaolô: "Chúng tôi luôn mang trong mình cuộc thương khó của Chúa Giêsu để sự sống của Chúa Giêsu cũng được biểu lộ nời mình chúng tôi" (2 Cr 4,10). Có thể thánh I-nhã xin với Đức Mẹ để được ở bên Chúa Giêsu trên Đồi Sọ như thánh Gioan và thánh Maria Magđala, đáp lại ước nguyện Chúa Giêsu trước giờ chịu chết: "Con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha ban cho con cũng ở đó với con" (Ga 17,24). Điều quan trọng không phải là ở đâu, nhưng là ở với Chúa Giêsu, bất kỳ nơi nào.

Cha André Ravier bình luận: “Đặt trở lại vào toàn bộ đời sống thần nhiệm của thánh I-nhã từ lúc hoán cải, đưa lại vào trong chuyển động của Tình Yêu đã thúc đẩy thánh I-nhã bắt chước và kết hiệp với Chúa Kitô (đúng theo nghĩa của thánh Gioan dùng) cùng lao nhọc và chịu đau khổ với Người để tôn vinh Thiên Chúa Cha hơn, thị kiến La Storta xuất hiện như thời điểm nổi bật, mặc dù biến cố rất giản dị; nơi thị kiến ấy kết tinh cả định mệnh của một con người, của sứ mạng Thiên Chúa ủy thác cho con người ấy và của cả công trình con người ấy sẽ thực hiện. Nếu như một số người thường nói, La Storta mang tính ngôn sứ, thì trước tiên do nó xác chuẩn cả một quá khứ đầy ân sủng.”[137]

            Đây là kinh nghiệm thiêng liêng quan trọng hàng đầu trong đời sống thánh I-nhã, đánh dấu đỉnh cao của quá trình 17 năm hành hương. Tại Loyola, ngài đã nghe được lời mời gọi phục vụ Đức Kitô và đã quảng đại đáp ứng. Tại Manresa, trong bài Hai cờ hiệu của Linh Thao, ngài đã xin được nhận vào dưới cờ của Đức Kitô. Nay ở La Storta, ngài được đặt với Chúa Con. Sau bao nhiêu năm lần bước theo một tiếng gọi tuy âm thầm nhưng rất mãnh liệt, giờ đây ngài xác định được rõ ràng ơn gọi của ngài và các bạn cùng chí hướng : 1) Ơn ngài xin từ lâu đã được Thiên Chúa nhận lời, đó là được đặt với Chúa Con, được phục vụ Chúa Giêsu vác Thánh Gía; 2) Thiên Chúa phê chuẩn danh hiệu Đoàn Giêsu, vì ngài và các bạn cùng chí hướng được nhận làm bạn đồng hành với Chúa Giêsu; 3) Ngài và các bạn cùng chí hướng không đi Giêrusalem nữa, nhưng đến Rôma, đặt mình dưới quyền sử dụng của Đức Thánh Cha.

Ngay lúc ấy, ngài có ấn tượng mạnh đến nỗi ngài nói với hai bạn cùng đi: “Tôi không biết chuyện gì sẽ đến với chúng ta. Có thể ở Rôma chúng ta sẽ bị đóng đinh vào Thánh Giá.[138]Dầu vậy, chắc chắn ngài không quên lời Chúa Cha: "Tại Rôma, Ta sẽ phù hộ các con" hoặc " Ta sẽ ở với các con."

 

Phụ trang 27

 

Venezia

 

            Venezia là một thành phố gồm hơn 100 cù lao, nằm ở ngoài khơi miền đông bắc nước Ý. Vào năm 2000, Venezia có 360 ngàn dân.

Khu vực bờ biển gần Venezia đã có người ở từ trước công nguyên. Vào thế kỷ V và VI, vì có nhiều cuộc xâm lăng, dân chúng chạy trốn ra các cù lao rồi định cư luôn. Năm 568, Venezia gồm 12 thị trấn. Năm 584, sau khi đế quốc Rôma Phương Tây sụp đổ, Venezia được đế quốc Rôma Phương Đông công nhận: trên danh nghĩa thuộc Byzance, trên thực tế độc lập. 12 thị trấn bầu một Hội Đồng gồm 12 đại biểu để quyết định mọi việc. Năm 697, Hội Đồng bầu Thống Lĩnh tiên khởi, gần như một tổng thống trong chế độ cộng hòa.

Năm 827-829, các nhà buôn đem về từ Alexandria (Ai Cập) điều được coi là hài cốt của thánh Marcô. Đền thánh Marcô được khởi công năm 830. Vị thánh này được tôn làm bổn mạng của Venezia, và quảng trường trước cửa đền trở thành trung tâm sinh hoạt chính yếu của thành phố. Nhờ địa thế hiểm trở và uy thế của đế quốc Byzance, Venezia không bị các đoàn quân xâm lăng và tàn phá như các khu vực khác trong nước Ý. Nhờ thương mại quốc tế phát triển, Venezia dần dần trở nên giàu mạnh. Vào thế kỷ XII, Venezia chiếm đóng nhiều hòn đảo trên Địa Trung Hải và có lần chiếm đóng cả Byzance. Vào thế kỷ XV, giám mục Venezia được nâng lên hàng thượng phụ. Tuy nhiên, cũng từ thời gian ấy, Venezia thường xuyên có chiến tranh với thành phố Genova ở phía đông, nên mức độ phát triển chậm lại. Trong suốt hai thế kỷ XVI và XVI, Venezia phải chiến đấu chống lại đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, nên suy yếu nhanh chóng. Tuy về chính trị, quân sự và thương mại, Venezia không còn đóng vai trò quan trọng nữa, nhưng văn hóa, thành phố vẫn là một trung tâm hàng đầu của Châu Âu.

Vào thời thánh I-nhã, Venezia tuy đang trên đà suy yếu, nhưng vẫn là đơn vị mạnh nhất trong các miền thuộc nước Ý. Với đoàn thương thuyền hơn 3000 chiếc, Venezia buôn bán khắp Địa Trung Hải, cả với Anh và Hà Lan. Song song với nền kinh phồn thịnh là hai tệ nạn lớn: trong Hội Thánh các giáo sĩ tìm bổng lộc hơn lo chăm sóc đoàn chiên; ngoài xã hội thì đĩ điếm tràn lan.

Dầu vậy, Venezia vẫn được coi là gắn bó với Đức Thánh Cha và có đời sống luân lý cao hơn các nơi khác ở Ý. Một thực tế trái ngược khác: Venezia vừa là thành trì của phong trào Tin Lành ở Ý, vừa là điểm xuất phát của trào lưu canh tân Hội Thánh. Những dòng tu giáo sĩ đầu tiên trong Hội Thánh xuất phát từ Venezia: năm 1524 dòng Teatino của thánh Gaetano, năm 1530 dòng Somasca của thánh G. Emiliani, và năm 1533 dòng Barnabitas của thánh Antôn Maria Zacaria. Ngày 4.10.1532, giám mục Gian Pietro Carafa gởi Đức Giáo Hoàng Clêmentê VII bản điều trần về nguy cơ lạc giáo xâm nhập Venezia. Theo đó, nguyên nhân là sách vở lạc giáo tràn lan, trong khi các linh mục, có những người chưa đầy 16 tuổi, không muốn hoặc không có khả năng giảng dạy. Bản điều trần xin Đức Giáo Hoàng có biện pháp đối phó.

Năm 1797, Napoléon xâm chiếm và gắn Venezia vào nước Áo. Từ đây, Venezia chấm dứt thời kỳ độc lập. Năm 1805, sau khi chiếm toàn bộ nước Ý, Napoléon gắn Venezia vào nước Ý trong khi toàn bộ Ý lệ thuộc nước Áo. Năm 1814, sau khi Napoléon bại trận, Venezia hợp nhất với miền Lombardia thành vương quốc Lombardo-Venezia. Năm 1866, Venezia được gắn vào nước Ý độc lập.

 

Phụ trang 28

 

Danh hiệu Dòng Tên

 

            Giả như được phép diễn tả đúng ý thánh I-nhã, hình như thay vì Dòng Tên, chúng ta phải gọi là Đoàn Giêsu. Vì sao? Trước hết vì lúc nhận danh hiệu Compagnia di Gesù, tại Vicenza năm 1537, nhóm Những người bạn trong Chúa của thánh I-nhã chưa phải là một dòng tu. Nhưng quan trọng hơn, đối với thánh I-nhã, điều chính yếu là nhóm của ngài được gọi bằng tên của Chúa Giêsu. Ở Paris vào năm 1534, thánh I-nhã tập họp một nhóm bạn cùng chí hướng mà ngài gọi là Những người bạn trong Chúa. Năm 1537, tại Vicenza, đang lúc chờ tàu đi Giêrusalem, cả nhóm chia nhau đến các đại học hi vọng chiêu mộ thêm được những bạn mới. Một câu hỏi được đặt ra: Nếu người ta hỏi chúng ta là ai thì trả lời thế nào? Cả nhóm nhanh chóng đồng ý với câu trả lời: Chúng tôi thuộc Đoàn Giêsu. Có lẽ thánh I-nhã và các bạn ngài không nặn óc để nghĩ ra một tên, nhưng từ Đoàn đến dễ dàng từ ngôn ngữ phổ thông thời ấy, và từ Giêsu xuất phát từ trái tim của cả nhóm.

            Polanco viết vào khoảng năm 1547-1548:

            Danh hiệu này do các bạn đầu tiên chọn trước khi đến Rôma. Họ trao đổi với nhau về việc người ta hỏi họ thuộc về hội nào hay nhóm nào (họ có 9 hay 10 người), thì phải trả lời thế nào. Họ bắt đầu cầu nguyện và suy nghĩ xem danh hiệu nào thích hợp nhất. Vì thấy ngoài Đức Giêsu Kitô, giữa họ không có đầu hay trưởng nào khác, và họ chỉ phục vụ một mình Người thôi, nên họ thấy nhận tên của Đấng là đầu của nhóm là đúng, và họ tự xưng là Đoàn Giêsu. Về điều này, Cha I-nhã đã được Đấng mà các bạn đầu tiên đã nhận tên đến thăm viếng thiêng liêng rất nhiều lần, và ra nhiều tín hiệu cho biết Người phê chuẩn và chuẩn y danh hiệu ấy, đến nỗi tôi đã nghe chính Cha I-nhã nói nếu nghĩ là danh hiệu ấy không phù hợp, cha tin rằng cha chống lại Thiên Chúa. Và vì người ta nói cha và viết thư cho cha để yêu cầu đổi tên Đoàn Giêsu - có người cho rằng chúng ta đang tự tôn mình lên ngang hàng với Chúa Giêsu, và người khác đưa ra những lý lẽ khác - cha nói với tôi , tôi nhớ, nếu mọi người trong Dòng Tên cùng với mọi người khác, những người không bị buộc phải tin, mà nếu không tin thì có tội, nghĩ là phải đổi tên, thì một mình cha vẫn không bao giờ đồng ý. Ngoài ra, vì Hiến Chương] định rằng không được quyết định gì nếu chỉ một trong các bạn đầu tiên không đồng ý, nên bao lâu ngài còn sống, danh hiệu này sẽ không bao giờ thay đổi. Cha I-nhã thường có lập trường sắt đá như vậy trong những điều mà ngài biết được do những cách thức vượt trên sự hiểu biết của loài người. Và trong những vấn đề như vậy, ngài không chịu khuất phục bất kỳ lý lẽ nào.

            Trong bài huấn dụ ngày 2.7.1559 giải thích nguồn gốc phát sinh Dòng Tên, cha Láinez gắn danh hiệu Đoàn Giêsu với thị kiến La Storta:

            Nền tảng đầu tiên của danh hiệu này là Cha I-nhã…

            Và sau khi đã thuật lại các điều xảy ra cho thánh I-nhã ở La Storta, cha Lainez kết luận:

            Vì thế, Cha rất sùng kính thánh danh cực trọng, và ước mong đặt tên cho nhóm là Đoàn Giêsu.[139]

            Ribadeneira giải thích:

Khi Cha I-nhã và các bạn quyết định thành lập một dòng tu, và tìm một tên cho dòng..., Cha I-nhã đề nghị các bạn để ngài lo việc đó, để ngài muốn đặt tên nào cho dòng tùy ý. Tất cả các bạn đều sẵn sàng chấp thuận; và cha cho biết phải gọi là Đoàn Giêsu, vì với thị kiến kỳ diệu ấy, và nhiều thị kiến khác cũng như những soi sáng phi thường khác, Chúa Giêsu đã trồng cấy, đã ghi khắc thánh danh cực trọng vào tâm hồn cha, nên cha không thể quên mà tìm tên nào khác được... Vì thế, những ai được Thiên Chúa gọi vào Đoàn Giêsu phải hiểu rằng mình không ở trong Dòng I-nhã, nhưng thuộc về Đoàn của Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô; và vì thế phải theo cờ hiệu của Người và hân hoan vác Thánh Giá của Người, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin, Đấng đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục[140].

Tại sao Đoàn? Cần nhớ lúc ấy thánh I-nhã và các bạn muốn trả lời cho người Ý, nên dùng một từ phổ thông trong tiếng Ý thời ấy.

Theo Gervais Dumeige, S.J., Compagnia là từ thường được dùng ở Ý trong thế kỷ XVI để chỉ những hội đoàn thường họp nhau cầu nguyện chung và làm việc từ thiện, chẳng hạn Compagnia del Santo Salvatore ad Sancta Sanctorum, Compagnia della Nunziata alla Minerva, Compagnia del Santissimo Crocefisso, Compagnia della Madonna del Pianto. Có một số hội đoàn như vậy ở Rôma, cũng như ở các thành phố khác trong nước Ý như ở Modena, Firenze, Venezia và Napoli. Có cả một hội đoàn tên là Compagnia del nome di Gesu (Hội thánh danh Chúa Giêsu) ở Parma. Như vậy, nghĩa gốc của compagnia là một hội, một đoàn, một nhóm. (Trong tiếng Latinh, hai từ societas [hội] socius [hội viên] cùng gốc; socius được dịch sang tiếng Pháp là compagnon và tiếng Anh là companion, cùng gốc với compagnia, compagnie, company). Như thế, từ compagnia thích hợp để áp dụng vào một nhóm linh mục có những ước nguyện thánh thiện và kế hoạch chung, cho dù lúc ấy chưa đông. Từ Đoàn được chọn ở Vicenza có nghĩa khá rộng rãi và uyển chuyển: lúc các bạn đầu tiên chưa biết nhóm sau này có biến thành một tập thể ổn định và cố định không. Danh hiệu ấy chỉ được Đức Thánh Cha phê chuẩn sau khi các cha đầu tiên đệ trình dự án vừa mới mẻ vừa táo bạo lên Tòa Thánh vào năm 1539. Thực ra từ Đoàn mang ý nghĩa đơn sơ và rộng rãi đến nỗi vào năm 1549, tức là Đoàn Giêsu đã được Tòa Thánh phê chuẩn 9 năm rồi, cha Simão Rodrigues còn đề nghị nên đổi thành Religio hay Ordo (Dòng), vì những từ này có ý nghĩa pháp lý chính xác hơn. Có thể nói khi thánh I-nhã khi tập họp các bạn cùng chí hướng trước đó, ngài chưa nghĩ đến một tổ chức qui củ. Cha Nadal nói: "Ngài được Thiên Chúa dẫn dắt nhẹ nhàng, chính ngài không biết sẽ đi đâu."[141]

Compagnia có hàm ý quân sự không? Vào thời thánh I-nhã, compagnia không bao hàm một ý nghĩa quân sự nào. Về sau, một số tác giả nghĩ rằng thánh I-nhã từng là một quân nhân và dựa vào một số từ ngữ ngài sử dụng trong Linh Thao và Hiến Chương Dòng Tên như chinh phục, cờ hiệu, chiến đấu dưới cờ Thánh Giá… để cắt nghĩa compagnia theo nghĩa quân sự. Tuy nhiên, chúng ta đã biết thánh I-nhã chưa bao giờ là một quân nhân. Ricardo García-Villoslada nhấn mạnh: "Phải nhắc lại một lần và một ngàn lần điều này: thánh I-nhã không bao giờ là quân nhân trong quân đội Tây Ban Nha, không bao giờ là cấp chỉ huy hay có một cấp bậc nào trong quân đội, không bao giờ được hưởng một đồng lương hay trợ cấp vì hoạt động quân sự nào."[142]

Về các từ có vẻ quân sự ngài dùng đều lấy từ Kinh Thánh và nền tu đức đương thời[143]. Chính thánh I-nhã và các bạn của ngài cũng như những người đương thời, không ai hiểu compagnia theo nghĩa quân sự. Có một số người phản đối danh hiệu Đoàn Giêsu, nhưng tất cả tập trung vào danh hiệu Giêsu chứ không một ai thắc mắc về Đoàn. Theo Dominique Bertrand, thánh I-nhã ít dùng các từ "nhà đạo", nhưng thích dùng các từ thông dụng trong xã hội. Compagnia là một từ như vậy[144].

Điều thánh I-nhã và các bạn nhất quyết giữ là chữ Giêsu, còn về chữ Đoàn ai cũng coi là bình thường, không thắc mắc chi hết.

           

 

Phụ trang 29

 

Kinh Lạy Hồn Chúa Kitô

 

Kinh này rất phổ biến từ thời Trung Cổ và cả vào thời thánh I-nhã, đến nỗi trong cuốn Linh Thao 4 lần ngài gợi ý cho người ta đọc nhưng lại nghĩ không cần chép ra, vì giả thiết ai cũng thuộc lòng như kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng. Bản kinh Lạy Hồn Chúa Kitô như chúng ta thường thấy hiện nay chỉ được in vào cuốn Linh Thao trong ấn bản năm 1592 hay 1593[145], và từ đó trở thành bản phổ thông.  

Bản kinh này có trùng hợp với bản thánh I-nhã nghĩ là ai cũng biết không?

Bản văn cổ nhất, in khoảng năm 1314-1320, hiện còn được lưu giữ tại British Museum:

Anima Christi sanctifica me

Corpus Christi salva me

Sanguis Christi inebria me

Aqua lateris Christi lava me

Passio Christi conforta me

O bone Jhesu exaudi me

Et non me permittas separari a te

Ab hoste maligno defende me

In hora mortis voca me

Et pone me iuxta te

Ut cum angelis tuis laudem te

In secula seculorum. Amen.

 

Thánh I-nhã cho biết ở Manresa năm 1522-1523, ngài thường sử dụng cuốn Các giờ kinh. Bao giờ trong một cuốn sách kinh như vậy cũng có kinh Lạy Hồn Chúa Kitô. Ấn bản Các giờ kinh tiếng Tây Ban Nhanăm 1524 tại Alcalá cũng có kinh Lạy Hồn Chúa Kitô.

Bản dịch Tây Ban Nha cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI (Bibliot. De la R. Acad. de la Historia, Madrid):

 

Anima de Jesucristo, santifica me

Cuerpo de Jesucristo, salva me

Sangre de Jesucristo, embriaga me

Agua del lado de Jesucristo, [lava me

Pasión de Jesucristo], conforta me

O buen Jesu, oye me.

Et non permitas apartar me de ti

Del enemigo malo defiende me

En la hora de la muerte llama me

E pone me cerca de ti

Para que con los ángeles et los sanctos te alabe

En el siglo de los siglos. Amen.

 

Xin tạm dịch:

 

Lạy Chúa Cứu Thế,

Xin linh hồn Chúa thánh hóa con,

Xin thân thể Chúa cứu độ con,

Xin máu thánh Chúa làm cho con say mến,

Xin nước từ cạnh sườn Chúa rửa con cho sạch,

Xin cuộc tử nạn của Chúa ban sức mạnh cho con.

Lạy Chúa Giêsu nhân từ, xin nhậm lời con,

Xin đừng để con tách lìa khỏi Chúa,

Xin bảo vệ con khỏi nanh vuốt kẻ thù hiểm độc,

Khi con chết, xin Chúa gọi con,

Và cho con được ở bên Chúa,

Để cùng với các thiên thần và các thánh,

Con được ca ngợi Chúa muôn đời.

So sánh với bản cổ nhất và bản phổ thông hiện nay, bản Alcalá 1524 giống bản cổ nhất hơn, đặc biệt ở 3 điểm: 1) bản hiện nay thêm câu "Xin giấu con trong thương tích Chúa"; 2) bản hiện nay bỏ câu "Xin đặt con bên Chúa" ; 3) bản hiện nay đổi câu "Để cùng với các thiên thần…" thành "Để cùng với các thánh…" Như vậy, một số thay đổi đã diễn ra trong thế kỷ XVI.

Chúng ta có thể chắc chắn trong bản kinh Lạy Hồn Chúa Kitô thánh I-nhã thường đọc có câu "Xin đặt con bên Chúa" mà ngài tha thiết xin trên đường đến Rôma năm 1537[146]. Có lẽ không nhất thiết phải "phục hồi" bản kinh thánh I-nhã đọc, nhưng cũng không ai buộc phải đọc bản phổ thông hiện nay. Thiết tưởng ai tập Linh Thao và anh em Dòng Tên nên đọc bản thánh I-nhã đã đọc thì hơn, đặc biệt vì có câu "Xin cho con được ở bên Chúa".

 

Sách tham khảo

 

A

Bộ Sử Liệu Dòng Tên

Monumenta Historica Societatis Iesu

 

1. Vita Ignatii Loiolae 1-3: MHSI 2, 3, 5.

2. Sctipta de S. Ignatio 1-2: MHSI 25, 56.

3. Epistolae et Instructiones 1-12, MHSI 22, 26, 28, 29, 31, 33, 34, 36, 37, 39, 40, 42.

4. Exercitia Spiritualia 1-3: MHSI 57, 85, 93.

5. Constitutiones 1-3: MHSI 63, 64, 65.

6. Epistolae P. Nadal 1-4: MHSI 12, 15, 21, 27.

7. Fontes Documentales: MHSI 115.

8. Fontes Narritivi 1-4: MHSI 66, 73, 85, 93.

9. Bobadillae Monumenta: MHSJ 46.

10. Epistolae P.P. Broeti, Jaii, Coduri et Rodericii: MHSI 24.

11. Fabri Monumenta: MHSI 48.

 

B

Các tác phẩm thánh I-nhã đã đọc

 

  1. Ludolphus de Saxonia, Vita Jesu Christi e quatuor evangeliis et scriptoribus orthodoxis concinnata, Apud Victorem Palmé, anno M.DCCC.LXV.
  2. Jacques de Voragine, La légende dorée, I và II, traduite du latin et précédée d’une notice historique et bibliographique par M.G. Brunet, Garnier 1920.

 

C

Các tiểu sử

 

  1. Dominique Bonhours, La vie de S.Ignace (Paris 1679).
  2. James Brodrick, Saint Ignace de Loyola. Les années du pèlerin, Spes 1956.
  3. Charles Claire, La vie de Saint Ignace de Loyola d’après Pierre Ribadeneira, son premier historien, Plon 1891.
  4. Cándido Dalmases, El Padre Maestro Ignacio, Biblioteca de Autores Cristianos, L Editorial Católica, Madrid 1979.
  5. Jean Deplace, Ignace de Loyola, Perrin 1991.
  6. Paul Dudon, S.Ignace de Loyola, Paris 1934.
  7. Ricardo Garcia-Villoslada, S.J., San Ignacio de Loyola, Nueva Biografia, Biblioteca de Autores Cristianos MXMLXXXVI.
  8. Alain Guillermou, Saint Ignace de Loyola et la Compagnie de Jésus, Le Seuil 1960.
  9. Giampietro Maffei, De Vita et Moribus Ignatii Loyolae, qui Societatem Iesu fundavit, libri III, Romae apud Franciscum Zannettum, MDLXXXV.
  10. NN. Ignace de Loyola, Centurion 1979.
  11. Émile Rideau, Saint Ignace et la Compagnie de Jésus, trong Les Ordres Religieux Actifs, Flammarion 1980.
  12. André Ravier, Les Chroniques Saint Ignace de Loyola, Nouvelle Librairie de France, 1973.
  13. André Ravier, Ignace de Loyola fonde la Compagnie de Jésus, Collection Christus n. 36, Bellarmin, Desclée de Brouwer 1974.
  14. Pietro Tacchi-Venturi, Storia della Compagnia di Ges irl Italia, vol.I/I,2; II/I,2 (Roma, La Civilt Catt., 1950-1951).
  15. J. Ignacio Tellechea Idígoras, Ignacio de Loyola. Solo y a pie. Ignacio Tellechea Idígoras 1979.

 

D

Các khảo cứu

 

  1. Emmanuel André, S.J., Michel Hermas, S.J., Un portrait ancien d’Ignace de Loyola, sa valleur et son odyssée, AHSJ LX 1991.
  2. Dominique Bertrand, La politique de Saint Ignace de Loyola, Cerf 1985.
  3. Dominique Bertrand, Le discernement spirituel en politique avec Ignace de Loyola, Cahiers de Spiritualité Ignatienne 99, Juillet-Septembre 2001.
  4. Alain Boureau, La légnede dorée, le système narrtif de Jacques de Voragine (+ 1298), Cerf 1984.
  5. James Brodrick, The origin of the Jesuits, Longmans 1945.
  6. Michel Certeau, Introduction, trong Bienhereux Pierre Favre, Mémorial, DDB 1960.
  7. Bernard Carrière, S.J., Ignace, Maitre spirituel dans les Constitutions, Cahiers de Spiritualité Ignatienne 103, Juillet-Septembre 2002.
  8. Garcias Cisneros, O.S.B., Exercices spiriruels et directoire des heures canoniales, traduits en francais par Joseph Rousseau, Victor Retaux, 1902.
  9. Joseph F. Conwell, Impelling Spirit. Revisiting a Founding Experience: 1539, Ignatius Loyola and His Companions, J. C. Conwell, 1997.
  10. Joseph Conwell, S.J., Cardinals Guidiccioni and Ghinucci faced with the Solemn Approbation of the Society of Jesus, AHSJ LXVI 1997.
  11. Marie-Paul Dion, La fascinante énigme du Journal Spirituel d’Ignace de Loyola, Cahiers de Spiritualité Ignatienne, Suppléments 48, 1998.
  12. Francois Durand, La première historiographie ignatienne, trong Ignatio de Loyola y su tiempo, Mensajero 1991.
  13. Rogelio Garcia Mateo, S.J., El mundo caballeresco en la vida de Ignacio de Loyola, AHSJ LX 1991.
  14. M. Giuliani, S.J., Préface, trong Ignace de Loyola, Écrits, DDB 1991.
  15. Philippe Lécrivain, La politique de saint Ignace de Loyola?, Christus 1986.
  16. Philippe Lécrivain, De commencement en commencement, la “vie religieuse jésuite” hier et aujourd’hui, Chưa xuất bản.
  17. Pedro de Leturia, La Companie de Jésus, ordre enseignant, Christus 27, Juillet 1960.
  18. Pedro de Leturia, El gentilhombre Inigo de Loyola, Labor 1949.
  19. Pedro de Leturia, Estudios Ignacianos I-II, Institutum Historicum S.I. Roma, 1957.
  1. Pedro de Leturia, Nuevos datos sobre San Ignacio, El Mensajero del Corazon de Jesus, Bilbao, 1925.
  2. Pedro de Leturia, Apuntes Ignacianos a proposito de una amigable polemica con D. José Maria Salaverria, Razon y Fe, Madrid 1930.
  3. Pedro de Leturia, S.J., Jesus Iturioz, S.J., Rogelio G. Mateo, S.J., Luis Fernandez, S.J., Ignacio de Loyola en Castilla, Valladolic, 1989.
  4. Mark Lewis, S.J., The First Jesuits as “Reformed Priests”, AHSJ LXV 1996.
  5. Braulo Manzano Martin, S.J., Inigo de Loyola peregrino en Jerusalen 1523-1524, Encuentro Madrid, 1995.
  6. Luis Fernandez Martin, S.J., Los anyos juveniles de Inigo de Loyola, su formacion en Castilla, Caja de Ahoros popular de Valladolid, 1981.
  7. Luis Fernandez Martin, S.J., Alonso de Montalvo, amigo intimo de Igigo de Loyola, AHSI LIX 1990.
  8. R. Garcia Mateo, El mundo caballeresco en la vida de Ignacio de Loyola, AHSJ LX (1991).
  9. Francisco de Borja de Medina, SJ, Inigo López de Loyola: probable estancia en Sevilla (1508 y 1511) y su reflejo en los ejercicios, AHSJ LXIII 1994.
  10. William W. Meissner, Ignace de Loyola, La Psychologie d’un saint, traduit de l’américain par Édouard Boné, s.j., Lessius 2001.
  11. Begnino Henandez Montes, S.J., Idendidad de los personajes que jugeron a san Ignacio en Salamanca, problemas historicos suscitados por las primeras fuentes, AHSI LII 1983.
  12. Jérôme Nadal, Contemplatif dans l’action, DDB 1994.
  13. John W. O'Malley, The First Jesuits, Havard University Press 1993.
  14. M. del Piazzo – C. de Dalmases, Il proceso sull'orthodossia de S. Ignazio et dei suoi compagni svoltosi a Roma nel 1538, AHSI 38 (1969), tr. 431-453.
  15. Hugo Rahner, Ignace de Loyola, Correspondance avec les femmes de son temps, traduit par Gervais Dumeige et Frans van Groenendael, DDB 1964.
  16. André Ravier, Ignace de Loyola à Paris (1528-1535), Vie Chrétienne 1992.
  17. André Ravier, s.j., La Compagnie de Jésus sous le gouvernement d’Ignace de Loyola (1541-1556) d’après les Chroniques de Juan-Alphonso de Polanco, présentation, commentaire et tables, DDB 1991.
  18. Mark Rotsaerk, Ignace de Loyola et les Renouveaux Spirituels en Castille au début du XVIè sìecle, CIS 1982.
  19. Gerog Schurhammer, S.J., Francis Xavier, His life, His time, Volume I Europe 1506-1541, translated by M. Joseph Costelloe, The Jesuit Historical Institute 1973.
  20. Ed. Terwercoren, S.J., La dévotion de Saint Ignace, Goemaere 1867.
  21. Gabriel Maria Verd, S.J., De Inigo a Ignacio, el cambio de nombre en San Ignacio de Loyola, AHSJ LX 1991.

 

Đ

Bối cảnh

 

  1. Anonymus, Journal d'un bourgeois de Paris, không ghi nhà xuất bản và năm xuất bản.
  2. Jean-Pierre Babelon, Nouvelle histoire de Paris, Paris au XVIe siecle, Hachette 1986.
  3. Pierre Chaunu, Le temps des réformes, La crise de la chrétienté, L’éclatement 1250-1550, Fayard 1975.
  4. Pierre Chaunu, L’Espagne de Charles Quint, I-II, S.E.D.E.S. 1973.

Olivier Christin, Une révolution symbolique. L’iconoclasme huguenot et la reconstruction catholique, Ed. Minuit, 1991.

  1. M. Crevier, Histoire de L'Universe de Paris, không ghi nhà xuất bản và năm xuất bản.
  2. Denis Crouzet, Les Guerriers de Dieu, I & II, Champ Vallon 1990.
  3. Marcelin Defourneaux, La vie quotidienne en Espagne au sìecle d'or, Hachette 1964.
  4. Isabel García Diaz, La Orden de la Banda, AHSI LX 1991.
  5. Pierre Driart, Cronique parisienne, không ghi nhà xuất bản và năm xuất bản.

 

E

Viễn ảnh

 

  1. Alain Forest et Yoshiharu Tsuboi, Catholicisme et socíetés asiatiques, L’Harmattan 1998.
  2. Dennis Gira, Le lotus ou la croix, les raisons d’un choix, Bayard 2003.
  3. Philip Jenkins, The next Christendom, the coming of global Christianity, Oxford UP 2002.
  4. Geza Vermes, Enquête sur l’identité de Jésus. Nouvelles interprétations, traduit de l’Anglais par Emmanuelle Billoteau, Bayard 2003.

 

 

Saint Ignace,

Libre pour aimer et servir

 

Chapitre 1

Les premières années à Loyola

 

Chapitre 2

Les années de formation au Palais Royal d'Arévalo

 

Chapitre 3

Le service du roi à Pampelune

 

Chapitre 4

A la suite du Christ

 

Chapitre 5

La vocation au service

 

Chapitre 6

Le pèlerin de Jérusalem

 

Chapitre 7

Les premiers essais en Espagne

 

Chapitre 8

Les amis dans le Seigneur

 

Chapitre 9

Vers Jérusalem ou Rome?

 

 

 

 

Annexes

 

1. L'année de naissance d'Ignace

2. Les parents d'Ignace

3. La ancêtres d'Ignace

4. Les soeurs et frères d'Ignace

5. D'Inigo à Ignatius

6. Le Pays Basque

7. Amadis de Gaula

8. Le royaume de Navarre

9. La princesse Catalina

10. Magdalena de Araoz

11. Vita Iesu Christi de Ludolphe de Saxe

12. Legenda Sanctorum de Jacopo de Vorazze

13. La reine Catalina de Porttugal

14. Devotio Moderna

15. Exercitario de la vida espiritual de García Ximenes

16. De Imitatione Iesu de Thomas Hemerken

17. De Spiritualibus Ascensionibus de Gerard Zerbolt de Zutphen

18. Inés Pascual

19. Isabel Roser

20. Teresa Rejadell

21. Enchridion Militis Christi d'Erasme

22. Paris au temps d'Ignace

23. L'Université de Paris au temps d'Ignace

24. L'humanisme

25. La chartreuse Notre-Dame de Vauvert

26. Le Martyrium de Montmartre

27. La république de Venise

28. Le nom de la Compagnie de Jésus.

29. L'Anima Christi.

[1] HK 87

[2] Con rơi của người anh linh mục Péro López.

[3] Sctipta II, MHSI 56, tr. 190.

[4] HK 87.

[5] Thực ra hospital trong tiếng Tây Ban Nha có thể dịch là nhà tiếp đón hay nhà phước thin: người bệnh để chữa trị, người đi đường để ngủ nghỉ, người vô gia cưđểđi hành khất.

[6] San Ignacio, Nueva Biografía, tr. 372.

[7] HK 88.

[8] X. FD, MHSI 115, tr. 195, 198, 201.

[9] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 80.

[10] FD, MHSJ 115, tr. 245.

[11] FD, MHSI 115, tr. 583.

[12] X. El Padre Maestro Ignacio, tr. 149.

[13] Alain Guillermou, Saint Ignace de Loyola, Le Seuil 1957, tr. 9.

[14] FD, MHSI 115, tr. 206.

[15] Hk 88-89.

[16] X. Sacipta de S. Ignacio II, MHSI 56, tr. 167-259.

[17] X. Sacipta de S. Ignacio II, MHSI 56, tr. 220.

[18] Thân phụ ngài, người anh trưởng tộc và người anh linh mục, rồi đến cả cháu ngài, đều có con ngoại hôn.

[19] X. FD, MHSI 115, tr. 292.

[20] X. FD , MHSI 115, tr. 397-439.

[21] X. FD, MHSI 115, tr. 528.

[22] FD, MHSI 115, tr. 582.

[23] FD, MHSI 115, tr. 453, 456.

[24] FD, MHSI 115, tr. 186.

[25] FN III, MHSI 85, tr. 333.

[26] X. San Ignacio de Loyola, Nueva Biographía, tr. 390.

[27] Scripta II, MHSI 56, tr. 191.

[28] Scripta II, MHSI 56, tr. 245.

[29] Sripta II, MHSI 56, tr. 204.

[30] Scripta II, MHSI 56, tr. 205.

[31] FD, MHSI 115, tr. 191.

[32] Scripta II, MHSI 56, tr. 189.

[33] Saint Ignace, tr. 233.

[34] San Ignacio, Nueva Biografía, tr. 152.

[35] FN II, tr. 568.

[36] HK 89.

[37] Hk 89.

[38] El Padre Maestro Ignacio, tr. 153. Theo Laínez, thánh I-nhã ở Azpeitia chừng 1 tháng (Scripta II, MHSI 56 , tr. 112). Nhưng theo lời các chứng nhân tại chỗ, ngài ở chừng 3 tháng (X. FD, MHSI 115, Potenciana tr. 191; Ursola de Ariznendi tr. 201).

[39] Laínez nói thánh I-nhã đi bộ từ Paris đến Azpeitia, "như trong các chuyến đi khác" (X. MHSI 66, tr. 104) Nhưng chính thánh I-nhã nói ngài cỡi một con ngựa nhỏ. Gần 17 năm sau, Miguel Navarro theo thánh Phanxicô Borja đến Santa Magdalena và thấy con ngựa ấy vẫn khỏe và hữu dụng (X. thư gởi thánh I-nhã 8.1.1552, Lit. Quadr. I, MHSI 4, tr. 494). 60 năm sau một người làm chứng tên là Ana de Anchieta còn nhớ nó nhỏ và màu hung (X. FD, MHSI 115, tr. 204).

[40] X. FD, MHSI 115, tr. 446.

[41] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 148-151.

[42] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 161-165. X. FD, MHSI 115, tr. 655-657.

[43] Hk 90.

[44] Ngoài hai người chị, thánh Phanxicô Xavier có hai người anh là Miguel và Juan. Miguel đã qua đời, nên Juan trở thành trưởng tộc. Ông đã kết hôn với tiểu thư Juana de Arbizú rất giàu có và hưởng lâu đài Obanos làm của hồi môn. Trong trận đánh tại Pamplona năm 1521, cả hai người anh của thánh Phanxicô Xavier cùng ở phe liên quân Pháp-Navarra. Sau khi quân Tây Ban Nha tái chiếm Pamplona, cả hai cùng chạy theo tàn quân và bị kết án tử hình vắng mặt. Lâu đài Javier của gia đình ngài bị phá hủy hầu hết, chỉ chừa lại một phòng cho hai mẹ con thánh Phanxicô Xavier. Cha ngài đã qua đời năm 1513. Đang lúc ngài ở Paris thì mẹ ngài qua đời năm 1529.

[45] Mon. Xav. I, MHSI 16, tr. 201-207.

[46] San Ignacio, Nueva Biografía, tr. 394.

[47] Saint Ignace de Loyola, tr. 324.

[48] Ricardo García-Villoslada, San Ignacio, Nueva Biografía, tr. 396.

[49] San Ignacio, Nueva Biografía, tr. 396.

[50] Hk 80.

[51] FN 1, MHSI 66, tr. 458, số 6.

[52] J.I. Tellechea Idígoras, Pèlerin de l'Absolu, Nouvelle Cité, tr. 259.

[53] Chắc là bắt chước thánh I-nhã hay theo lời khuyên của ngài.

[54] Ribadeneira, Scripta II, MHSI 60, tr. 166.

[55] X. Hk 80.

[56] Ribadeneira, Scripta I, MHSI 58, tr. 154.

[57] Bức này họa sĩ vẽ theo lời mô tả của Pedro de ribadeneira.

[58] Scip. Ign. I, MHSI 25, tr. 763.

[59] FN I, MHSI 66, tr. 106, cước chú 20.

[60] Fav. Mon. , MHSI 48, tr. 143.

[61] Hk 90.

[62] Hk 91.

[63] Hk 33.

[64] Hk 91.

[65] FN IV, MHSI 93, tr. 245.

[66] FN I, tr. 188.

[67] Hk 91.

[68] Ep. Ign. 1, MHSI 22, tr. 94.

[69] Hk 92.

[70] X. Phụ trang 27.

[71] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 94.

[72] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 94.

[73] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 96.

[74] Thường gọi là Libellus ad Leonem X.

[75] Lúc ấy Ý chưa phải là một nước độc lập.

[76] Dòng thứ ba là Dòng Thánh Phaolô, thường được gọi là Barnabitos, được thánh Antôn Maria Zaccaria thành lập năm 1530 tại Milano.

[77] Nhiều người cho rằng nhờ chị Giulia của ngài (thường được gọi là Giulia Hoa Khôi) là tình nhân của Đức Giáo Hoàng!

[78] Ngài bổ nhiệm cháu nội Alessandro Farnese và cháu ngoại Guido Sforza làm hồng y khi cả hai còn ở tuổi thiếu niên. Ngài tổ chức linh đình đám cưới giữa cháu nội ngài là Ottovia mới 13 tuổi với Margarita, 16 tuổi, con gái ngoại hôn của hoàng đế Karl Và, khiến dân chúng Rôma đàm tiếu không ít.

[79] X. Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 99-107; 107-109.

[80] Ep. Ign. Tôi, MHSI 22, tr. 113.

[81] Có thể kể thêm hai người nữa: Martín de Zornoza, giáo dân người Basco; John Helya, linh mục người Anh. X. P. Tacchi, Storia della Compagnia di Gesu in Italia II, Roma 1922, tr. 87.

[82] X. Ep. Ign. 1, MHSI 22, tr. 114.

[83] La "letrre" d'Ignace de Loyola à Gian Pietro Carafa, AHSI XLIV (1975), tr. 139-152.

[84] San Ignacio de Loyola, Nueva Biografía, tr. 413.

[85] Ignatius von Loyola, tr. 143.

[86] X. Bottereau, tr. 140.

[87]Sđd, tr. 148.

[88] Ep. Ign. 1, MHSI 22, tr. 119.

[89] Hk 93.

[90] MHSI 66, tr. 104.

[91] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 723-724.

[92] Thư viết khoảng cuối năm 1536. X. Ep. Ign. 1, MHSI 22, tr. 110.

[93] Lộ trình: Ngày 16.11 khởi hành từ Meaux, cách Paris 45 km; 17: Château Thierry; 18: Epernay, 142 km; Sainte Menehould, 200 km; Verdun, 245 km; 23-25: Metz, 300 km, ở lại 3 ngày; 25: Pont à Mousson, 330 km; 26: Nancy, 358 km; Saint-Nicolas du Port, 371 km; Lunéville; 27: Blamont, 420 km; Sarrebourg; 28: Saverne, 470 km; 29: Strasbourg, cách Paris 520 km, ở lại 3 ngày; 3.12: Basel (Thụy Sĩ, thời ấy thuộc Đức), nghỉ 3 ngày; Rheinfelden, Frick; Brugg; Baden; Kaiserstuhl; Winterthur; Frauenfeld,; Pfyn; Reinfelden; Konstanz. Từ Konstanz đến Venezia, các tài liệu chỉ nêu Trento. Phỏng đoán: đi dọc theo bờ bắc hồ Bodensee qua Meersburg; Lindau; Bregenz, Feldkirch, Merano (Ý), Bolzano, Trento, Volslugana, Bassano, Castelfranco, Mestre, Venezia.

[94] X. S. Rodrigues, De origine et progressi Soc. Jesu, MHSI 24, tr. 461-474; G. Schurhammer, Francis Xavier I, tr. 269-296.

[95] S. Rodrigues, De origine et progressi Soc. Jesu, MHSI 24, tr.497.

[96] FN I, MHSI 66, tr. 108.

[97] De origine et progressi Soc. Jesu, MHSI 24, tr. 460-462.

[98] Fab. Mon., MHSI 48, tr. 107.

[99] Hk 93.

[100] X. De origine et progressi Soc. Jesu, MHSI 24, tr. 474-476.

[101] Hk 93.

[102] Diego de Hoces không cùng đi: có lẽ vì mới ở Giêrusalem về, không xin phép đi lần nữa. Ngoài 9 anh em trong nhóm, có ít là hai người khác cùng đi: Antonio Arias và Miguel Landívar. Chúng ta sẽ gặp lại 2 người này.

[103] FN I, MHSI 66, tr. 112. Dalmases cho là ngày 10.3, García-Villoslada cho là ngày 16.3.

[104] Thư 24.7.1357, Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 116.

[105] De origine et progressi Soc. Jesu, MHSI 24, tr. 478.

[106] Năm 1527, quân đội của hoàng đế Karl V chiếm Rôma. Trong hai tuần lễ, họ cướp của, giết người, hiếp dâm, xúc phạm Mình Thánh Chúa, biến nhiều nhà thờ thành chuồng ngựa. Lúc ấy Đức Giáo Hoàng phải trốn ở Lâu Đài Thiên Thần.

[107] FN I, MHSI 66, tr. 112.

[108] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 120.

[109] Năm 1537 nhằm ngày 31.5.

[110] Tức là không có giáo bổng.

[111] Hk 93.

[112] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 121. X. FD, MHSI 115, tr. 533-534.

[113] Hk 94.

[114] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 123.

[115] X. Vida de P. Ignacio II, tr. 247-259.

[116] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 123.

[117] Hk 95.

[118] Ribadeneira nói trong thời gian ở Vicenza thánh I-nhã thường ở nhà chuẩn bị bữa ăn vì đau mắt. X. Sctipta II, MHSI 56, tr. 499.

[119] Hk 95.

[120] Ep. Ign. I, MHSI 22, tr. 123.

[121]Hk 96.

[122] FN I, MHSI 66, tr. 204.

[123] Xem Phụ trang 28: Danh hiệu Dòng Tên.

[124] Hk 96.

[125] Hk 93.                                             

[126] Thư gởi Thánh I-nhã ngày 12.9.1537, Ep. Mixt. I, MHSI 12, tr. 12.

[127] Ep. Nad. 4, MHSI 27, tr. 706.

[128] Dalmases, El Padre Maestro Ignacio, tr. 169.

[129] X. FD, MHSI 73, tr. 11, 492, 535-537; FN II, MHSI 73, tr. 81, 90, 254, 457, 536, 575-576, 591. Vita P. Ign. Loy. I, MHSI I, tr. 56.

[130] Hk 96.

[131] Hk 96.

[132] FN II, MHSI 73, tr. 133.

[133] FN I, MHSI 66, tr. 313-314; FN IV, MHSI 93, tr. 946-947.

[134] Nk 67.

[135] X. Phụ trang 29: Kinh Lạy Hồn Chúa Kitô.

[136] LT 95, 98.

[137] A. Ravier, Ignace de Loyola fonde la Compangie de Jésus, DDB 1972, trang 472.

[138] FN IV, MHSI 93, tr. 271.

[139] FN II, MHSI 73, tr. 133-134.

[140] Vita

[141] The Vision of La Storta, History and Spirituality, Centrum Ignatianum Spiritualitas 1988.

[142] San Ignacio, Nueva Biografía, tr. 433.

[143] Chẳng hạn trước thánh I-nhã, học giả Erasme đã dùng từ hai cờ hiệu trong cuốn Thủ Bản Chiến SĩĐức Kitô.

[144] La politique de Saint Ignace, tr. 119.

[145] X. Ex. Sp., MHSI 57, tr. 1082.

[146] Xem P. Schepens, SJ, Pour l'histoire de la prière Anima Christi, Nouvelle Revue Théologique 62 (1935), tr. 699-710; P. Leturia, Lobros de horas, Anima Christi y Ejercicios espirituales de San Ignacio, AHSJ 33-34 (1948), tr. 3-50; R. García-Villoslada, Anima Christi, Origen y evolución de esta plegaria medieval, Manresa 51 (1979), tr. 119-144.

Thánh I-nhã : Tự do để yêu mến và phục vụ (kết)

JK

3 người theo dõi
Xem thêm bài viết của người đăng bài này

Bài viết liên quan

[Bạn Đường Đức Giêsu]: Chút sức mọn trên đườngNgười Trẻ
[Bạn Đường Đức Giêsu]: Chút sức mọn trên đường

    Tác giả: Nguyễn Mai Kha, S.J. – Cao Gia An, S.J. Các bạn trẻ thân mến, Người bạn đường của Đức Giêsu là người chung tay với Giêsu tron...

6 năm trước
[Bạn Đường Đức Giêsu]: Gần và XaNgười Trẻ
[Bạn Đường Đức Giêsu]: Gần và Xa

Tác giả: Nguyễn Mai Kha, S.J. – Cao Gia An, S.J.

...

6 năm trước
[Bạn Đường Đức Giêsu]: Tưởng như là tình cờNgười Trẻ
[Bạn Đường Đức Giêsu]: Tưởng như là tình cờ

  Tác giả: Nguyễn Mai Kha, S.J. – Cao Gia An, S.J. Các bạn trẻ thân mến, Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta gặp rất nhiều những sự tình...

6 năm trước

Các bài viết được quan tâm